Nữ Đề Hình Đại Việt Thời Khang Long
Chương 1: Hồn Đoạn Tiền Triều
Ánh đèn huỳnh quang trắng lạnh trên trần phòng làm việc nhấp nháy một nhịp yếu ớt, tỏa xuống mặt bàn gỗ ngổn ngang những tập hồ sơ dày cộp. Đã là ba giờ mười lăm phút sáng. Đồng hồ điện tử trên vách tường nhảy từng giây vô tình, hòa cùng tiếng mưa rả rích đập vào ô cửa kính tầng mười hai của tòa án nhân dân thành phố.
Đặng Mai Chi đưa những ngón tay gầy guộc day mạnh vào thái dương. Cơn đau buốt từ đáy hộp sọ dội lên từng hồi như có mũi khoan bằng thép nung cắm thẳng vào màng não. Suốt mười tám ngày đêm ròng rã, phiên tòa xét xử đại án th*m nh*ng và thao túng tư pháp nghìn tỷ đã vắt kiệt từng giọt sinh lực cuối cùng của nữ thẩm phán hai mươi tám tuổi. Trước mắt nàng, bản cáo trạng dài hàng trăm trang, những sơ đồ dòng tiền phức tạp và kết quả giám định tài chính vẫn nằm trơ trọi dưới ánh đèn. Nàng nổi tiếng khắp ngành tư pháp là người “băng thanh ngọc khiết”, một thẩm phán trẻ tuổi nhưng sở hữu nhãn quan điều tra hình sự sắc như dao mổ, chưa từng cúi đầu trước bất kỳ một cuộc điện thoại gây sức ép nào từ cấp trên.
“Pháp bất vị thân, chứng cứ vi căn.”
Tám chữ ấy nàng tự tay khắc lên chặn giấy bằng đá cẩm thạch đặt nơi góc bàn, như một lời thề son sắt thuở đầu tiên tuyên thệ dưới quốc kỳ. Nàng tin rằng chân lý của luật pháp không nằm ở quyền uy tối thượng, mà nằm ở từng vết máu, từng sợi tơ, từng mảnh ghép logic bất khả lay chuyển của khoa học hình sự.
Mai Chi vươn tay định với lấy tách cà phê đen đã nguội ngắt từ nửa đêm. Nhưng bàn tay nàng đột ngột khựng lại giữa không trung.
Một cơn co thắt dữ dội giáng thẳng vào lồng ngực. Trái tim nàng như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, tước đoạt toàn bộ dưỡng khí trong khoang phổi. Mắt nàng tối sầm lại. Hơi thở đứt quãng thành từng tiếng rít khàn đặc nơi cuống họng. Chiếc chặn giấy cẩm thạch lăn khỏi mép bàn, rơi xuống sàn gạch phát ra một tiếng đanh gọn, vỡ đôi.
Cơ thể Mai Chi đổ gục xuống bàn làm việc, đè lên tập hồ sơ đại án còn vương mùi mực mới. Trong bóng tối vô tận đang nuốt chửng lấy ý thức, nàng chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim của chính mình chậm dần, thưa dần, rồi phẳng lặng như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông giá rét.
Cái chết đến nhanh chóng, dứt khoát và lạnh lẽo đến tàn nhẫn.
*
Nhưng bóng tối ấy không kéo dài mãi mãi.
Ý thức của nàng không tan biến vào hư vô, mà bị kéo giật ngược trở lại bởi một mùi hương kỳ dị. Đó không phải mùi cồn sát trùng quen thuộc của bệnh viện, cũng không phải mùi giấy in văn phòng. Đó là mùi ẩm mốc của rơm rạ mục nát, mùi nồng nặc của vôi sống hòa lẫn trong đất ẩm, và phảng phất đâu đó là thứ mùi tanh tưởi, ngai ngái của máu khô cùng xú uế lâu ngày không được cọ rửa.
Lạnh. Cái lạnh cắt da cắt thịt ngấm qua từng thớ vải thô ráp, cắn sâu vào da thịt nàng.
Mai Chi khẽ rên lên một tiếng. Toàn thân nàng đau nhức như vừa bị xe tải nghiền qua, từng khớp xương rã rời, hai lá phổi bỏng rát sau mỗi nhịp th* d*c. Nàng cố gắng cử động những ngón tay. Đầu ngón tay chạm vào bề mặt ráp rụi, lạo xạo những cọng rơm khô gãy vụn và một tấm ván gỗ xù xì, nhớp nháp hơi nước.
Nàng run rẩy mở mắt.
Không có trần nhà thạch cao trắng toát. Không có đèn huỳnh quang hay máy điều hòa nhiệt độ. Trước mắt nàng là những thanh xà gồ bằng gỗ lim đen đúa vì bồ hóng, phủ đầy mạng nhện giăng mắc chằng chịt. Vách tường xung quanh trát bằng đất trộn rơm lở loét từng mảng lớn, để lộ ra những viên gạch vồ xám xịt đóng rêu xanh. Một ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc đôn đất nung ở góc phòng, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, khiến những bóng đen nhảy múa ma quái trên vách tường ẩm ướt.
“Đây là… đâu?”
Mai Chi thốt lên, nhưng âm thanh phát ra khỏi miệng nàng không phải là chất giọng đĩnh đạc, trầm ấm của một nữ thẩm phán tuổi gần ba mươi. Đó là một giọng nói yếu ớt, non nớt, khàn đặc như tiếng chim non bị trúng tên giữa mùa đông.
Nàng bàng hoàng đưa tay lên nhìn.
Bàn tay này… hoàn toàn không phải của nàng. Đó là bàn tay của một thiếu nữ chừng mười tám, đôi mươi, mu bàn tay gầy trơ xương, các khớp ngón tay thô ráp, đầy những vết chai sần do lao dịch vất vả và những vết nứt nẻ vì giá rét. Cổ tay nàng mảnh khảnh đến mức dường như chỉ cần bẻ nhẹ là gãy. Trên người nàng không phải bộ âu phục thẩm phán phẳng phiu, mà là một chiếc áo cánh bằng vải nâu sồng vá chằng vá đụp, bốc mùi mồ hôi và ẩm mốc nồng nặc.
Một cơn đau đầu dữ dội ập đến, dữ dội hơn cả cơn đột quỵ vừa tước đoạt mạng sống của nàng.
Từng đợt sóng ký ức xa lạ, cuồn cuộn như thác lũ tràn vào đại não, cưỡng ép dung hợp với linh hồn hiện đại của Mai Chi. Những hình ảnh, thanh âm, mùi vị của một cuộc đời hoàn toàn khác đan cài, chắp vá với tốc độ chóng mặt:
Đại Việt. Năm Khang Long thứ mười hai.
Kinh thành Thăng Long, ba mươi sáu phố phường phồn hoa đô hội, nhưng ngay dưới chân bức tường thành thâm nghiêm lại là những ngõ hẻm lầm than tăm tối.
Nàng hiện tại tên là Đặng Hoài Thu, năm nay vừa tròn mười chín tuổi. Nàng không phải thiên kim tiểu thư quyền quý, cũng chẳng phải con nhà trâm anh thế phiệt. Thân phận của nàng hèn mọn đến mức chốn kinh kỳ phồn hoa chẳng ai thèm đoái hoài: nàng là con gái duy nhất của Đặng Bỉnh, một ngục lại già coi giữ nhà lao huyện Thọ Xương. Mẫu thân nàng mất sớm sau một trận dịch tả năm nàng lên sáu. Hai cha con nương tựa vào nhau, sống lay lắt trong một gian buồng xép ẩm thấp tồi tàn nằm ngay sát vách dãy ngục giam tăm tối nhất của nha môn Thọ Xương.
Ba ngày trước, tiết trời Thăng Long chuyển lạnh đột ngột, mưa dầm dề nhiều ngày khiến nước cống rãnh tràn vào ngục thất. Thể xác này vì lao lực giặt giũ vải liệm và áo tù trong nước lạnh buốt, lại thêm ăn uống thiếu thốn nên đã ngã bệnh phong hàn. Cơn sốt cao thiêu đốt suốt ba ngày ba đêm không có tiền bốc thuốc, linh hồn yếu ớt của cô gái Đặng Hoài Thu đã lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng trong cô quạnh.
Và rồi, Đặng Mai Chi – nữ thẩm phán hình sự của thế kỷ hai mươi mốt – đã mượn xác hoàn hồn trong hình hài này.
“Xuyên không… Trọng sinh sao?”
Mai Chi thì thầm, bàn tay nắm chặt lấy mớ rơm mục dưới thân. Là một người theo chủ nghĩa duy vật triệt để, tin vào khoa học thực nghiệm và những nguyên lý y sinh học chính xác, tình cảnh này vượt xa mọi giới hạn nhận thức của nàng. Nhưng cảm giác đau đớn chân thực trên da thịt, hơi thở lạnh buốt phả ra thành làn sương trắng mờ ảo trong không khí, và nhịp đập rộn ràng nơi lồng ngực đều chứng minh một điều tuyệt đối: nàng đang sống. Bằng xương, bằng thịt, tại một triều đại phong kiến xa xôi cách thời đại của nàng hàng trăm năm.
Chưa kịp để Mai Chi định thần sắp xếp lại mớ bòng bong trong đầu, một âm thanh chát chúa từ bên ngoài vọng vào, xé toang không gian tĩnh mịch.
“Chát! Chát! Chát!”
Tiếng kim loại va chạm loảng xoảng, tiếng xích sắt lê trên nền đá hộc, kèm theo đó là tiếng rít gầm gừ của da thịt bị xé toạc và những tiếng gào khóc thảm thiết đến rợn người.
“Nói! Có nhận tội hay không? Mày lấy trộm năm tấm lụa của hiệu buôn Vạn Thái ở phố Hàng Đào giấu ở đâu? Khai ra mau!”
“Oan… Oan cho con quá quan lớn ơi! Con chỉ là đứa bốc vác… Chiều hôm đó con gánh hàng qua ngõ, thấy người ta làm rơi bọc vải vụn nên nhặt lấy… Con không có trộm lụa quý… Tha mạng cho con… A a a!”
“Chát!”
Tiếng roi da xé gió quất mạnh hơn, tiếp nối bằng một tiếng thét xé ruột xé gan rồi lịm dần thành những tiếng nấc nghẹn ngào.
Trực giác nghề nghiệp và bản năng của một thẩm phán hình sự khiến Mai Chi bất giác rùng mình. Nàng cắn chặt răng, nén cơn đau nhức buốt nhói khắp cơ thể, chống hai tay xuống phản gỗ, gượng gạo trườn người xuống đất. Đôi chân trần chạm vào mặt đất lạnh ngắt như băng đá. Cơ thể thiếu dinh dưỡng này yếu ớt đến thảm hại, nàng phải bám vào vách tường đất xù xì, từng bước run rẩy dò dẫm tiến về phía khe nứt của cánh cửa gỗ ngăn cách gian buồng với hành lang ngục thất.
Qua khe hở rộng chừng nửa lóng tay, cảnh tượng đập vào mắt khiến đồng tử của Mai Chi co thắt kịch liệt.
Cách đó không đầy mười bước chân, dưới ánh đuốc bập bùng khói đen cay xè, một thiếu niên trạc mười sáu, mười bảy tuổi đang bị trói giật cánh khuỷu vào cây cột gỗ lim chôn giữa lối đi. Thân trên của cậu ta tr*n tr**, chi chít những lằn roi rách da toạc thịt, máu tươi hòa cùng mồ hôi và bụi đất chảy ròng ròng xuống thắt lưng, nhỏ tong tỏng xuống vũng nước bẩn dưới chân.
Đứng trước mặt cậu ta là một tên ngục tốt vạm vỡ, râu ria xồm xoàm, tay lăm lăm ngọn roi da bò ngâm nước muối đã đen sì vì thấm đẫm máu cũ lẫn máu mới. Tên ngục tốt nhổ một bãi nước bọt đỏ lòm vì nhai trầu xuống sàn, mặt mày nhe nanh múa vuốt:
“Mẹ kiếp thằng ranh con! Quan huyện đã có lệnh, trước giờ Ngọ ngày mai phải hoàn tất hồ sơ trình lên Thăng Long phủ để kịp kỳ khảo khóa. Mày không nhận, bố mày lấy đâu ra khẩu cung để khép án? Mày tưởng vào cái đất Thọ Xương này rồi còn có đường thanh minh à? Ký vào tờ cung xưng, điểm chỉ hoa tay vào đây, bố mày cho mày một bát nước mà uống, bằng không tối nay tao róc từng miếng thịt mày cho chuột gặm!”
“Con không trộm… Con thật sự không trộm mà…” Thiếu niên thều thào, đầu gục xuống, hai mắt sưng húp tím bầm vì đòn roi.
“Rượu mời không uống lại thích uống rượu phạt!” Tên ngục tốt gầm lên, vung tay quất thẳng ngọn roi vào mạng sườn cậu bé.
Một vệt máu bắn tung tóe lên vách đá. Tiếng gãy giòn tan của xương sườn vang lên ghê rợn.
Mai Chi đứng chôn chân sau khe cửa, hai bàn tay nàng bấu chặt vào mép gỗ đến mức móng tay gãy vụn, máu rỉ ra lúc nào không hay. Lồng ngực nàng phập phồng dữ dội bởi một cơn phẫn nộ tột cùng đang cuộn trào.
Là một người từng ngồi trên ghế thẩm phán, từng bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp và nhân quyền, chứng kiến cảnh tượng này chẳng khác nào một nhát dao đâm thẳng vào đức tin của nàng. Không có điều tra hiện trường. Không có đối chất lời khai. Không có chuỗi chứng cứ vật chất độc lập. Không có quyền suy đoán vô tội.
Ở nơi này, tư pháp được vận hành bằng bạo lực mù quáng. Chân lý được định đoạt bằng độ dày của lằn roi và sự tàn nhẫn của những kẻ nắm quyền sinh sát. Mạng sống của những con người thấp cổ bé họng dưới đáy xã hội này rẻ rúng như loài cỏ rác ven đường, bị nghiền nát không thương tiếc chỉ để phục vụ cho những bản báo công thăng quan tiến chức của lũ quan lại nha môn.
“Dừng tay lại… Đinh Tam! Đừng đánh nữa, nó ngất mất rồi!”
Một giọng nói già nua, run rẩy và đầy vẻ nhẫn nhịn vang lên từ cuối hành lang.
Mai Chi giật mình nhìn sang. Một bóng người gầy gò, lưng hơi còng đang lập cập bước tới. Người đó mặc bộ áo trĩ sắc xanh đen đã bạc màu của ngục lại cấp thấp, thắt lưng đeo một chùm chìa khóa sắt to bản kêu lách cách. Mái tóc hoa râm búi củ hành xộc xệch cài bằng một chiếc trâm tre mộc mạc. Gương mặt người đàn ông khắc khổ, hằn sâu những nếp nhăn của sự nhọc nhằn, đôi mắt đục mờ nhưng toát lên vẻ lo lắng chân chất.
Ký ức trong đầu Mai Chi lập tức lên tiếng: Đó chính là Đặng Bỉnh, phụ thân của thể xác này.
Tên ngục tốt tên Đinh Tam hừ một tiếng, hạ roi xuống, liếc xéo Đặng Bỉnh bằng nửa con mắt:
“Lão Đặng đấy à? Lại giở cái thói nhân từ giả tạo ra đấy phỏng? Quan huyện gia đã dạy rồi, bọn thảo khấu này không giã cho mềm xương thì không bao giờ chịu nhả khẩu cung. Lão già rồi, cẩn thận kẻo quan trên quở trách tội dung túng cho phạm nhân, đến lúc ấy cái chân ngục lại quèn này cũng chẳng giữ nổi đâu!”
Đặng Bỉnh cúi đầu, lưng càng còng xuống thấp hơn, giọng điệu mang theo sự nịnh nọt và van lơn của kẻ yếu thế:“Vâng, vâng… chú Tam dạy phải. Nhưng ngặt nỗi thằng bé này thở ra nhiều hơn hít vào rồi. Nếu lỡ nó chết trước khi kịp điểm chỉ vào tờ nhận tội, quan huyện tra xét xuống tội làm chết phạm nhân trong ngục, lúc ấy cả tôi lẫn chú đều khó ăn khó nói với Đề hình khám lý Tống gia… Chi bằng để nó thở một lát, tạt cho nó gáo nước lạnh rồi ép nó lăn tay có phải êm thấm hơn không?”
Đinh Tam nghe nhắc đến Đề hình khám lý Tống Dực thì nét mặt thoáng chút kiêng dè. Hắn hậm hực ném chiếc roi da xuống đất, nhổ thêm một bãi nước bọt:
“Mẹ kiếp, chỉ tổ rách việc! Trông chừng nó đấy, lát nữa nó tỉnh mà chưa có chỉ tay thì lão liệu hồn với tôi!”
Nói đoạn, Đinh Tam quay ngoắt người, sầm sập bước về phía đ**m canh ngoài cửa ngục.
Đặng Bỉnh đứng lặng giữa hành lang ẩm thấp, nhìn theo bóng lưng gã ngục tốt cho đến khi tiếng bước chân khuất hẳn. Ông thở dài một hơi dài não nề, rồi run rẩy cúi xuống, móc trong bọc áo ra một mảnh vải rách thấm vào vò nước lạnh bên cạnh, nhẹ nhàng lau đi vết máu trên trán tên trộm vặt đang hôn mê bất tỉnh. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần của ông khẽ run lên khi chạm vào những vết rách sâu hoắm trên da thịt đứa trẻ.
“Nghiệp chướng… Đúng là tạo nghiệp mà…” Ông lẩm bẩm trong miệng, giọng nghẹn lại đầy bất lực xót xa.
Mai Chi đứng sau cánh cửa, lặng lẽ quan sát từng hành động của người cha này. Cơn giận dữ trong lòng nàng dần lắng xuống, nhường chỗ cho một nỗi chua xót nghẹn ngào. Đặng Bỉnh không phải là kẻ ác. Ông chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi, một kẻ cùng đinh bị kẹt giữa guồng quay tàn bạo của chế độ phong kiến. Suốt ba mươi năm làm việc chốn lao tù hôi hám này, ông đã phải học cách cúi đầu, học cách nhẫn nhục, học cách chà đạp lên lòng trắc ẩn của chính mình chỉ để đổi lấy mấy bát gạo hẩm nuôi sống đứa con gái nhỏ.
Chăm sóc cho tên tù nhân xong, Đặng Bỉnh vội vàng quay người bước nhanh về phía gian buồng xép.
Mai Chi lùi lại hai bước, toan trèo lên phản gỗ nhưng đôi chân bủn rủn khiến nàng ngã quỵ xuống đất.
Cánh cửa gỗ mục kêu “két” một tiếng rồi mở ra. Đặng Bỉnh bước vào, trên tay bưng một chiếc bát sành sứt mẻ bốc khói nghi ngút. Nhìn thấy con gái đang ngồi bệt dưới nền đất lạnh ngắt, bát cháo trên tay ông suýt nữa rơi xuống sàn.
“Thu nhi! Con… con tỉnh rồi sao?”
Đặng Bỉnh vội vàng đặt bát cháo lên chiếc đôn đất nung, hớt hải lao tới đỡ lấy nàng. Đôi bàn tay thô ráp, nồng mùi thuốc rê và rơm mục của ông run rẩy chạm vào trán nàng, rồi áp vào má nàng:
“Hạ sốt rồi… Tạ ơn trời đất, tạ ơn tổ cô dòng họ Đặng! Con gái ta sống lại rồi!”
Nước mắt trào ra từ đôi mắt đục ngầu đầy vết chân chim của người cha già. Những giọt nước mắt ấm nóng rơi xuống mu bàn tay Mai Chi, làm tan chảy cái lạnh giá đang bủa vây lấy thể xác nàng.
Trong đời thực ở thế kỷ hai mươi mốt, Mai Chi là một đứa trẻ mồ côi lớn lên từ trại tế bần. Nàng đã quen với sự cô độc, quen với việc một mình chiến đấu giữa chốn pháp đình lạnh lùng không tình người. Chưa từng có ai rơi nước mắt vì nàng như thế này. Cái chạm tay run rẩy, vụng về nhưng ngập tràn tình phụ tử của người đàn ông xa lạ này bỗng chốc đánh thẳng vào nơi mềm yếu nhất trong sâu thẳm tâm can nàng.
“Cha…”
Mai Chi cất tiếng gọi. Từ ngữ ấy bật ra khỏi môi nàng một cách tự nhiên đến kỳ lạ, như thể nó đã được khắc sâu vào tiềm thức của thể xác này tự bao đời.
“Ừ, cha đây! Cha đây con gái!” Đặng Bỉnh luống cuống dùng ống tay áo áo cũ lau nước mắt, rồi vội vàng đỡ nàng ngồi tựa lưng vào vách tường, kéo tấm chăn xơ xác đắp lên chân nàng. “Con vừa mới lui cơn sốt rét, khí lạnh dưới đất độc lắm, sao lại tự ý bước xuống thế này? Muốn lấy nước uống thì cứ gõ cửa gọi cha chứ!”
“Con nghe thấy tiếng động bên ngoài… nên tò mò nhìn một chút.” Mai Chi khẽ đáp, giọng vẫn còn yếu nhưng ánh mắt đã lấy lại vẻ bình tĩnh, sáng rõ lạ thường.
Đặng Bỉnh nghe vậy thì thở dài, ánh mắt thoáng vẻ ảm đạm và sợ hãi:
“Chuyện chốn ngục môn nhơ nhuốc này có gì mà xem hả con? Toàn là nghiệp chướng oan nghiệt cả thôi. Đều tại cha vô dụng, ba mươi năm cúc cung tận tụy nơi cửa quan mà không lo nổi cho con một mái nhà thanh sạch ngoài phố thị, bắt con phải sống cạnh cái hố phân người, ngày ngày ngửi mùi máu me đòn roi thế này…”
Ông quay sang bưng bát sành lại gần, cẩn thận dùng chiếc thìa gỗ mòn vẹt múc từng thìa cháo loãng đưa lên miệng thổi cho bớt nóng:
“Nào, ăn chút cháo hoa đi con. Cha phải chạy vạy mãi mới xin được nhà bếp nha môn một nắm gạo trắng, lại xin thêm được củ gừng già giã vào cho ấm tỳ vị. Con ráng nuốt vài miếng cho lại sức, ba ngày nay con chỉ uống nước lã cầm hơi, cha cứ ngỡ… cứ ngỡ là mất con rồi…”
Mai Chi nhìn bát cháo loãng lỏng bõng nước, chỉ lác đác vài hạt gạo nở bung và vài sợi gừng thái thô thiển, nhưng trong mắt nàng lúc này, nó quý giá hơn bất kỳ sơn hào hải vị nào. Nàng há miệng, đón lấy thìa cháo ấm nóng từ tay cha. Vị ngọt thanh của gạo hòa cùng vị cay nồng của gừng lan tỏa nơi đầu lưỡi, xua đi vị đắng ngắt nơi cuống họng, truyền một luồng hơi ấm dịu nhẹ chạy dọc khắp các kinh mạch đang đông cứng.
“Ngon lắm cha ạ.” Nàng thì thầm, cố gắng mỉm cười để người cha an lòng.
Đặng Bỉnh thấy con gái chịu ăn thì mừng rỡ ra mặt, nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt già nua khắc khổ:
“Ngoan, ăn hết đi con. Ăn xong rồi ngủ một giấc thật sâu. Mấy hôm nay trời mưa to gió lớn, ngoài thành nước ngập lầy lội, huyện đường đang rộn ràng chuẩn bị cho kỳ khảo khóa của Lại bộ Thượng thư. Quan huyện Thọ Xương nhà ta đang muốn dọn dẹp sạch sẽ sổ sách ngục thất để ghi điểm với triều đình, nên mấy hôm nay trong lao làm gắt gao lắm. Con cứ ở yên trong buồng, tuyệt đối đừng thò mặt ra ngoài kẻo đám ngục tốt say rượu lại buông lời trêu ghẹo, xúc phạm đến con.”
Mai Chi vừa nuốt từng thìa cháo, vừa lắng nghe từng lời của Đặng Bỉnh, bộ não sắc bén của một thẩm phán lập tức phân tích và xâu chuỗi thông tin.
Kỳ khảo khóa của Lại bộ. Quan huyện Thọ Xương muốn dọn dẹp án điểm.
Điều đó có nghĩa là guồng máy tư pháp nơi này đang bước vào giai đoạn điên cuồng nhất. Để đạt được chỉ tiêu phá án và tạo dựng thành tích, những kẻ cầm quyền sẵn sàng bẻ cong mọi quy tắc, biến trắng thành đen, biến người vô tội thành vật tế thần cho chiếc ghế quan lộ của mình. Cậu bé trộm vải ban nãy chỉ là một nạn nhân nhỏ bé. Sẽ còn bao nhiêu oan hồn nữa bị chôn vùi dưới những bản cung xưng đẫm máu?
Nàng nhìn quanh gian buồng ẩm thấp, rồi nhìn lại đôi bàn tay gầy gò của mình.
Nàng đã không còn là Đặng Mai Chi đứng trên bục cao xét xử của tòa án hiện đại nữa. Giờ đây, nàng là Đặng Hoài Thu, một nữ tử tiện dân không có tiếng nói, con gái của một ngục lại nghèo khó có thể bị b*p ch*t bất cứ lúc nào nếu chạm vào vảy ngược của bọn cường quyền. Nhưng dòng máu đang chảy trong huyết quản nàng vẫn là dòng máu của một người bảo vệ công lý. Tri thức về pháp y, về tâm lý học tội phạm, về chuỗi chứng cứ khoa học tích lũy suốt hàng chục năm qua không hề biến mất theo cái chết của thể xác cũ. Chúng vẫn nguyên vẹn ở đây, sáng rõ và sắc bén trong tâm trí nàng.
Nếu số phận đã bắt nàng phải tái sinh tại thời đại tăm tối này, nàng tuyệt đối sẽ không cam chịu làm một con sâu cái kiến mặc người giẫm đạp. Nàng phải sống. Nàng phải bảo vệ người cha già khắc khổ này. Và nếu có cơ hội, nàng sẽ dùng chính thứ tri thức vượt thời đại này để rọi một tia sáng công lý vào chốn ngục môn đen tối như mực này!
“Cha…” Mai Chi khẽ đặt thìa gỗ xuống, ngước nhìn Đặng Bỉnh, “Đề hình khám lý Tống Dực mà ban nãy cha nhắc tới… là người thế nào?”
Đặng Bỉnh khẽ giật mình, sắc mặt lập tức biến đổi, vội vàng nhìn quanh như sợ có tai vách mạch rừng. Ông hạ thấp giọng xuống mức tối đa:
“Sao tự dưng con lại hỏi đến người đó? Thu nhi, cha dặn con điều này, tuyệt đối phải nhớ kỹ trong lòng: Ở cái phủ Thăng Long này, con có thể đắc tội với lính lệ tuần đinh, nhưng tuyệt đối không được bén mảng lại gần Tống Dực!”
“Hắn ta hung dữ lắm sao cha?”
“Không chỉ hung dữ, mà là tàn độc!” Ánh mắt Đặng Bỉnh ánh lên vẻ ghê sợ tột cùng. “Hắn là Đề hình khám lý do chính quan Thượng thư Lại bộ cất nhắc đưa về Thăng Long phủ. Hắn phụ trách việc nghiệm thi, khám nghiệm vết thương và định tội các vụ trọng án hình sự cho cả vùng kinh kỳ. Nhưng kẻ này lòng dạ đen tối, mắt nhìn thấy tiền là sáng quắc. Hắn biến nghề ngỗ tác khám nghiệm thành cái công cụ để vơ vét bổng lộc. Kẻ nào có tiền đút lót, chết oan hắn cũng phán thành tự tử; kẻ nào không tiền, té ngã hắn cũng bẻ thành bị mưu sát để bắt bớ người tống tiền. Thủ đoạn ngụy tạo chứng cứ của hắn quỷ khốc thần sầu, dân chúng Thọ Xương ai nghe tên hắn cũng kinh hồn bạt vía…”
Mai Chi nheo mắt lại, đáy mắt lóe lên một tia hàn quang sắc lạnh.
Một kẻ ngỗ tác thất đức nắm giữ quyền khám nghiệm tử thi. Trong một nền tư pháp mà bằng chứng vật chất sơ sài, kết luận của ngỗ tác gần như là bản án tử hình đối với số phận của nghi phạm. Kẻ như vậy ngồi ở vị trí then chốt, bảo sao oan ngục không chất cao như núi!
Đúng lúc đó, từ phía sân trước của nha môn huyện Thọ Xương, một thanh âm kinh hoàng đột ngột bùng nổ.
“Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! Tùng!”
Tiếng trống định tội!
Đó không phải là nhịp trống điểm canh khoan thai, mà là tiếng trống dồn dập, gấp gáp, từng tiếng gõ như búa tạ nện thẳng vào bầu không khí u ám của buổi sớm mai. Tiếng trống đăng văn báo hiệu một vụ đại án mạng vừa xảy ra, một tiếng chuông báo tử làm rung chuyển cả huyện đường.
Ngay sau hồi trống dồn, tiếng bước chân chạy rầm rập của hàng chục lính lệ đi ủng da vang lên hỗn loạn trên nền sân lát gạch. Tiếng hô hoán, tiếng quát tháo của nha dịch và tiếng then cài sắt mở toang va vào nhau loảng xoảng.
Đặng Bỉnh giật bắn người, đánh rơi chiếc thìa gỗ xuống đất. Mặt ông cắt không còn giọt máu:
“Trống định tội… Có án mạng lớn rồi!”
Chưa kịp để hai cha con định thần, cánh cửa ngục lớn bên ngoài bị đạp tung ra một tiếng rầm chấn động. Một tên lính lệ mặt mày tái mét như người chết trôi, áo tơi ướt sũng bùn đất, vừa chạy thục mạng vào hành lang vừa thở không ra hơi, giọng thét lên thất thanh xé toạc màn sương sớm:
“Lão Đặng đâu rồi! Mau mang cáng và vôi sống ra sân nha môn ngay! Có biến lớn rồi!”
Đặng Bỉnh run rẩy đứng bật dậy, chắp tay lắp bắp:
“Dạ… dạ có tôi! Sai nha đại ca, có chuyện gì thế ạ?”
Tên lính lệ ôm ngực th* d*c, hai mắt trợn trừng đầy vẻ kinh hoàng tột độ, môi run bần bật khi thốt ra từng tiếng rợn người:
“Ngoài đầm lầy Tây thành… Đám thợ chài vừa kéo lưới lên… Tìm thấy một xác chết trôi trương sình dưới đáy bùn… Một xác chết nam tử… hoàn toàn không có đầu!”