Âm thanh keng... keng... keng... dội lên từ lòng đất không mang vẻ trong trẻo của tiếng chuông nhà thờ, mà trầm đục, khô khốc và giục giã như một hồi báo tử. Đó là tiếng búa đồng của bộ ngắt cơ học liên tục đập vào vành chuông cảnh báo sự cố khẩn cấp. Khi quả tạ ngàn cân đứt cáp và lao thẳng xuống đáy giếng kỹ thuật, sức căng giữ cho hệ thống bánh răng ăn khớp lập tức biến mất. Trục truyền động chính bị văng khỏi ngàm hãm, khiến cụm thấu kính Fresnel nặng gần ba tấn trên đỉnh tháp khựng lại đột ngột.
Trái tim của ngọn hải đăng tám mươi sáu năm tuổi đã ngừng đập giữa lúc tâm bão biển Đông quét qua rạn Quỷ Môn.
Thảo đứng tựa lưng vào cánh cửa sắt dày khộp vừa chốt chặt, lồng ngực phập phồng sau chặng đường khuân vác can dầu vượt qua thềm đá ngập sóng. Tiếng gió rít bên ngoài lọt qua các khe thông gió hẹp, hú lên từng hồi thê thiết tựa tiếng còi tàu vỡ trận. Tòa tháp đá granite cao ba mươi lăm mét rung bần bật dưới áp lực ngàn cân của luồng xoáy cấp mười hai. Vữa vôi trên vòm trần bong ra từng mảng, rơi lộp bộp xuống mặt sàn lát đá phiến xanh.
“Ngừng xoay rồi...” Thảo thì thầm, bàn tay siết chặt quai chiếc túi đồ nghề cơ khí đeo bên hông.
Là một kỹ sư máy hàng hải, cô hiểu rõ sự tê liệt này đồng nghĩa với điều gì. Một thấu kính Fresnel đốt bằng bấc dầu đa tầng nếu bị đứng yên một chỗ, luồng nhiệt khổng lồ từ ngọn lửa sẽ nung nóng cục bộ một vùng lăng kính thủy tinh. Chỉ cần mười lăm phút không có luồng quay tản nhiệt, chênh lệch nhiệt độ cực hạn giữa bên trong buồng đèn và gió bão buốt giá bên ngoài sẽ làm vỡ vụn các phiến lăng kính hội tụ tinh xảo thời Pháp thuộc. Đèn sẽ nổ, dầu sẽ tràn, và ngọn hải đăng Hòn Gạc sẽ biến thành một bó đuốc mù lòa trước khi bị bão dập tắt vĩnh viễn.
Phải xuống hầm máy. Ngay lập tức.
Thảo vặn chốt chiếc đèn pin công nghiệp gắn trên mũ bảo hộ, ánh sáng vàng sắc lạnh quét qua khoảng không gian mịt mù bụi vôi của sảnh tầng trệt. Cạnh giếng kỹ thuật rỗng tuềnh toàng – nơi sợi cáp tạ vừa đứt lìa để lại một vệt khói ma sát khét lẹt mùi kim loại cháy – là một cửa nẹp sắt tròn dẫn thẳng xuống lòng móng đá. Cửa hầm chỉ rộng vừa một thân người chui lọt, bậc thang gang đúc cắm thẳng đứng vào vách đá ngầm đen ngòm, ướt nhầy nhụa rong rêu và rỉ sét.
Gió lùa từ đáy hầm thốc ngược lên, sặc sụa uế khí của nước biển đọng lâu ngày, hòa lẫn mùi hăng nồng của dầu mazut cặn và than đá từ đầu thế kỷ. Tiếng chuông báo động ở bên dưới vẫn dộng từng nhịp chói tai vào màng nhĩ: Keng! Keng! Keng!
Thảo ngậm chặt chiếc đèn pin cầm tay sơ cua vào miệng, hai tay bám chặt vào từng thanh giằng sắt buốt lạnh như băng, bắt đầu tụt xuống bóng tối.
Mỗi bậc thang trơn trượt đều là một thử thách thót tim. Lớp mỡ bò bảo dưỡng lâu năm kết hợp với hơi muối biển bám dày trên bề mặt gang khiến đôi găng tay bạt của cô trượt đi liên tục. Dưới chân Thảo, sâu chừng bảy mét dưới mực nước biển, nước triều ngầm đã bắt đầu tràn qua các mạch nứt của móng đá granite. Từng đợt sóng dồn ngoài vụng dội vào hang ngầm phát ra những tiếng ù ù nặng nề như tiếng sấm nén dưới đáy vực.
Bàn chân Thảo chạm vào lớp nước lạnh ngắt dâng cao tới mắt cá. Cô rút đèn pin rọi một vòng quanh căn hầm máy hình vòm cuốn.
Nơi đây từng là kho chứa nhiên liệu và trạm máy phát phụ trợ từ thời thuộc địa, tường đá xây dày hơn hai mét để chống chọi pháo kích. Giữa hầm, khối tạ gang hình trụ dài hai mét đã rơi cắm phập xuống hố cát giảm chấn, làm gãy nát toàn bộ giàn giáo gỗ thông mục nát xung quanh. Sợi cáp thép to bằng cổ tay bị tước ra thành từng chùm dây kim loại lởm chởm như một bó gai nhọn, quấn chặt lấy trục tời chính.
Chiếc búa đồng của bộ ngắt cơ học đang liên hồi va đập vào mép một chiếc chuông đúc nổi hình mỏ neo. Nhưng điều khiến đồng tử Thảo co thắt lại không phải là đống kim loại đổ nát.
Ở góc khuất ẩm thấp nhất của căn hầm, sau bức tường đá rỉ nước ròng ròng, một vệt ánh sáng leo lét của ngọn đèn bão dầu hỏa đang chập chờn run rẩy.
Trên nền đá xâm xấp nước biển lấp loáng váng dầu, một bóng người gầy guộc đang nằm co quắp.
“Ông Tư!”
Thảo thốt lên, giọng cô vỡ tan giữa tiếng chuông rền rĩ. Cô bất chấp nước bẩn ngập đến bắp chân, lao vội về phía góc hầm.
Tư Ngạn nằm nghiêng trên một tấm ván gỗ ướt sũng. Lão không trôi dạt ra biển, cũng không nhảy xuống rạn Quỷ Môn tự vẫn như lời phỏng đoán kinh hoàng của chú Sáu Rạn. Lão đang ở đây, ngay dưới móng sâu của ngọn tháp mà lão đã gắn bó suốt ba mươi năm cuộc đời.
Nhưng người thợ gác đèn già trông chẳng khác nào một cành đước khô mục vừa bị bão bẻ gãy. Thân hình lão co giật từng chập dữ dội trong cơn sốt rét rừng tái phát; hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng lục cục khô khốc. Bộ quần áo kaki màu cỏ úa ướt sũng dính chặt vào lồng ngực gầy giơ xương sườn. Môi lão thâm sì, tái ngắt, rỉ ra những giọt bọt mép mặn chát.
Và đôi bàn tay lão... Thảo rùng mình khi ánh đèn pin chiếu rọi xuống.
Hai bàn tay khẳng khiu, đầy đồi mồi của ông lão đang rướm máu đỏ thẫm. Da thịt ở lòng bàn tay và các ngón tay bị xé toạc, lộ cả gân trắng và màng mỡ, nhưng những ngón tay gãy gập ấy vẫn ghì chặt lấy một khối kim loại nặng trịch áp vào ngực. Đó là một bánh răng truyền động dự phòng bằng đồng thau nguyên khối, đường kính gần bốn mươi phân, với các bước răng hình nón được bọc kỹ trong nhiều lớp giẻ tẩm mỡ bò.
Lão đã chui xuống đây giữa lúc bão đổ bộ, dùng chính đôi bàn tay trần cạy mở hòm sắt rỉ sét để tìm bánh răng thay thế khi linh cảm thấy hệ thống truyền động sắp đứt gãy.
“Ông Tư! Tỉnh lại đi! Ông Tư!”
Thảo quỳ sụp xuống làn nước lạnh, đỡ lấy bờ vai trơ xương của ông lão. Hơi thở của Tư Ngạn phả ra nóng rực, mùi dầu hỏa và mùi đờm tanh nồng bốc lên đặc quánh. Cô thọc tay vào túi áo gió, rút chiếc cờ lê đa năng gõ mạnh vào thanh ngắt của quả lắc chuông, bẻ cong lẫy gạt để dập tắt chuỗi âm thanh báo động đinh tai nhức óc. Căn hầm đột ngột chìm vào một thứ im lặng ngột ngạt, chỉ còn tiếng gió rít gầm gừ qua vách đá và tiếng th* d*c đứt quãng của người gác đèn.
Thảo nhanh chóng cởi chiếc áo khoác phao khô ráo bên ngoài của mình, bọc kín lấy tấm thân đang run rẩy của ông Tư. Cô rút lọ dầu cù là và mấy viên thuốc hạ sốt khẩn cấp luôn mang theo trong hộp sơ cứu kỹ sư.
“Uống nước đi... nuốt viên thuốc này vào!” Thảo nâng đầu lão lên, kề miệng bi-đông nước ngọt vào đôi môi nứt nẻ.
Dòng nước ngọt mát lành làm Tư Ngạn sặc sụa. Lão ho sù sụ, từng cơn co thắt khiến lồng ngực lép kẹp như muốn vỡ tung. Khối bánh răng đồng nặng gần hai mươi ký tuột khỏi ngực lão, rơi đánh keng xuống nền đá ngập nước.
“Bánh... bánh răng...” Đôi mắt mờ đục, phủ đầy màng nhầy của Tư Ngạn hé mở. Ánh mắt lão hoảng loạn, bàn tay đầy máu quờ quạng trong nước như một kẻ mù lòa tìm kiếm cọng rơm cứu mạng. “Nhông truyền số ba... cáp đứt rồi... đứt rồi... Thuyền không thấy đường... Khiêm ơi...”
“Nó ở đây! Bánh răng vẫn còn nguyên!” Thảo nắm chặt lấy bàn tay đẫm máu của lão, áp nó vào khối kim loại lạnh ngắt để trấn an. “Tôi là kỹ sư máy hàng hải! Tôi đã khóa then hầm rồi! Nghe tôi nói không, ông Tư?”
Ánh mắt đờ đẫn của người gác đèn già từ từ dịch chuyển. Lão nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ướt đẫm nước mưa và bồ hóng của Thảo dưới quầng sáng vàng vọt của chiếc đèn bão. Cơn mê sảng dường như kéo giật tâm trí lão trôi nổi giữa hai bờ thực ảo.
“Kỹ sư... dỡ đèn...” Lão thều thào, khóe miệng méo xệch giần giật. “Đừng dỡ... xin các người... hôm nay là ba mươi... trăng lặn rồi... sương muối lên rồi...”
Trong lúc Thảo cúi thấp người xuống để xốc nách kéo ông Tư ngồi tựa vào gờ đá khô ráo hơn, chiếc dây chuyền bằng dù biển lồng bên trong cổ áo bảo hộ của cô tuột ra ngoài.
Vật kim loại hình tròn đung đưa qua lại trước tầm mắt của Tư Ngạn.Đó là chiếc la bàn hàng hải bỏ túi bằng đồng hun thời Đệ nhị Thế chiến, vỏ ngoài khắc sâu ba chữ cái viết tắt bằng mũi dao găm: N.V.K. Mặt kính mica bên trong đã ố vàng theo năm tháng, và chiếc kim từ tính hình mũi tên vẫn kẹt cứng, lệch một góc chết chóc bốn mươi lăm độ về hướng Đông Bắc.
Tư Ngạn nín bặt. Cơn run rẩy bỗng chốc ngưng bặt như thể một dòng điện vạn vôn vừa giáng thẳng vào tủy sống lão.
Đôi mắt đục ngầu của lão trợn trừng, tròng mắt đỏ ngầu những tia máu giãn to hết cỡ. Bàn tay rách nát, run rẩy của người gác đèn già từ từ nhấc lên khỏi mặt nước, ngón tay run rẩy chạm vào bề mặt kim loại sần sùi của chiếc la bàn. Máu từ kẽ móng tay lão quệt lên lớp kính mica một vệt dài nhờn nhợt.
“Cái này...” Giọng Tư Ngạn không còn là tiếng thều thào mê sảng nữa. Nó là một thanh âm vỡ vụn, méo mó, nghẹn ứ từ tận đáy một nấm mồ chôn giấu hai mươi năm ròng. “Chiếc la bàn kẹt kim... của tàu Thuận Phong...”
Lão ngước mắt lên nhìn trừng trừng vào Thảo.
Dưới ánh sáng hắt ngược của ngọn đèn bão, vầng trán cao bướng bỉnh, chiếc cằm vuông cương nghị và đặc biệt là đôi mắt một mí sâu thẳm ẩn chứa vẻ u uất khôn nguôi của cô gái trẻ... tất cả như một bóng ma ký ức sống dậy, hiển hiện rõ mồn một trước mắt lão.
“Mày... con là...” Tư Ngạn há hốc miệng, ngực phập phồng dữ dội. Hai giọt nước mắt đục ngầu, vàng quánh như dầu cặn ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo, lăn dài qua những nếp da mốc thếch vị muối. “Con bé Thảo... Con của thằng Khiêm... Con là con gái thằng Khiêm...”
Thảo sững người. Bàn tay đang cầm cuộn băng gạc của cô bất giác cứng đờ.
Dù đã biết trước sự thật qua lời kể vội vã của chú Sáu Rạn ngoài vụng biển, nhưng khi đối diện trực tiếp với tiếng gọi xé lòng này, trái tim cô vẫn thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹn. Người đàn ông tàn tạ, bốc mùi dầu mỡ và rỉ sét đang nằm dưới chân cô chính là mảnh ghép sống cuối cùng gắn liền với đêm định mệnh mùa thu năm 1978.
“Phải. Cháu là Thảo.” Cô nói, giọng cô đanh lại, cố giữ cho các âm tiết không run rẩy theo tiếng gió bão gầm rú trên đỉnh đầu. “Cháu là con gái của Thuyền trưởng Nguyễn Văn Khiêm. Và chiếc la bàn này là thứ duy nhất người ta tìm thấy trôi dạt vào bờ cát Sa Huỳnh hai mươi năm trước.”
Tư Ngạn bỗng nhiên òa khóc.
Đó không phải là tiếng khóc của một con người bình thường, mà là tiếng tru tréo thảm thiết, nghẹn ngào của một linh hồn bị giam cầm trong ngục tối lương tâm suốt hai thập kỷ bỗng bị lôi ra ánh sáng công lý. Lão buông thõng hai tay, dập đầu lia lịa xuống nền đá ngập nước biển, mặc cho trán mình va vào cạnh sắc của khối bánh răng đồng tóe máu.
“Khiêm ơi là Khiêm ơi!... Tao có tội với mày! Tao là thằng hèn... tao là kẻ sống sót trơ tráo...”
“Dừng lại! Bác làm cái gì vậy!” Thảo nghiến răng, dùng hết sức bình sinh tóm lấy hai bả vai gầy trơ xương của lão giật ngược trở lại, ép lão ngồi tựa vào vách đá. “Nói cho cháu biết! Đêm đó dưới rạn Quỷ Môn rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Tại sao chỉ có mình bác bơi được vào bờ? Tại sao ba cháu không thoát ra được?!”
Tư Ngạn ngửa đầu ra sau vách đá hoa cương lạnh buốt, lồng ngực co giật từng chặp. Hơi lạnh của đá và vị tanh của máu dường như làm lão tỉnh táo lại đôi chút trong cơn hấp hối của tâm can.
“Đêm đó... cũng là đêm ba mươi trăng non như đêm nay...” Lão thì thào, giọng khàn đặc như tiếng hai hòn sỏi cọ vào nhau dưới đáy vực. “Tàu Thuận Phong 04 chở lương thực tiếp tế... gặp bão dạt vào luồng nghịch. Rạn Quỷ Môn không có trên hải đồ ban đêm vì đèn Hòn Gạc khi đó bị hỏng máy cơ, tắt ngấm ba ngày liền...”
Những ký ức kinh hoàng ùa về trong ánh mắt hoang dại của lão già gác đèn:
“Mũi tàu chồm lên đá ngầm, nứt toác làm đôi. Nước biển tràn vào buồng máy như thác đổ. Nồi hơi phát nổ... Khối máy diesel trật khỏi bệ đỡ, sụp xuống đè nát bắp chân trái của ba con. Thằng Khiêm... nó bị kẹt cứng dưới thanh xà thép chịu lực, nước ngập đến ngực...”
Thảo cắn chặt môi dưới đến bật máu. Hình ảnh người cha vạm vỡ, hiền từ trong ký ức tuổi thơ bảy tuổi bỗng chốc hiện lên trong bóng tối ngập ngụa dầu nhớt, quằn quại dưới sức nặng của khối sắt thép ngàn cân giữa biển đêm gào thét.
“Lúc đó trên tàu chỉ còn sót lại duy nhất một chiếc phao bè cao su loại nhỏ,” Tư Ngạn run rẩy giơ bàn tay đẫm máu lên che mặt, nước mắt tuôn xối xả qua kẽ ngón tay. “Bác cố lấy xà beng bẩy thanh thép ra để cứu nó... nhưng không nhúc nhích được một phân. Nước biển dâng lên tới cằm rồi. Thằng Khiêm... nó rút dao găm cắt đứt dây chằng phao, tròng cái phao vào cổ bác rồi đấm thẳng vào mặt bác một cú trời giáng...”
Lão nấc nghẹn, từng lời thốt ra như rút cạn chút sinh khí tàn lụi:
“Nó bảo: ‘Tư! Mày phải sống! Mày có vợ con ở đất liền, còn tao là thuyền trưởng, tao phải ở lại với tàu! Mày phải bơi vào Hòn Gạc... mày phải xin chân gác cái ngọn đèn khốn khiếp này! Mày thề với tao... đêm ba mươi nào mày cũng phải thắp sáng nó... xoay nó về rạn Quỷ Môn... để soi đường cho anh em tao biết lối mà tìm xác... Mày không thắp... tao làm ma tao cũng bẻ cổ mày!’...”
Tư Ngạn trượt người xuống sàn đá, hai tay bấu chặt vào gấu quần bảo hộ của Thảo, van lơn trong nỗi thống khổ tột cùng:
“Bác đã hèn nhát... Bác đã buông tay khỏi mạn tàu chìm để bơi đi... Hai mươi năm qua, bác không dám ngủ một đêm ba mươi nào. Bác gom từng giọt cồn, chắt từng lít dầu hỏa tinh khiết để mồi lửa tháp đèn. Mỗi lần ánh sáng quét qua rạn Quỷ Môn, qua làn sương muối bốc lên sau bão, bác lại thấy bóng con tàu Thuận Phong... Bác thấy thằng Khiêm đứng trên đài chỉ huy nhìn bác trừng trừng... Nó đợi bác... Mười hai anh em dưới đáy rạn đá lạnh lẽo đó đang đợi một chuyến hải trình đưa họ về đất liền...”
Bên ngoài, một tiếng sét nổ ngang tai làm rung chuyển cả ngọn tháp đá. Gió bão đã chuyển hướng, rít lên từng hồi cuồng loạn báo hiệu mắt bão đang ập thẳng vào Hòn Gạc. Nước biển dưới chân hai người đã dâng cao ngập đến đầu gối, lạnh buốt thấu xương.
Ánh đèn bão lay lắt chực tắt. Trên cao, ngọn tháp tối om, câm lặng và mù lòa giữa trùng khơi bão tố.
Thảo đứng bất động. Những giọt nước mắt kìm nén suốt hai mươi năm ròng cuối cùng đã vỡ òa, lăn dài trên đôi gò má rám nắng của người nữ kỹ sư. Cô không còn thấy một kẻ thù gián tiếp gây nên cái chết của cha mình, cũng không thấy một lão già điên dại mê tín dị đoan.
Trước mắt cô chỉ là một con người khốn khổ, một người lính biển đã dùng hai mươi năm ròng, chôn vùi đời mình trên hòn đảo đá trơ trọi này để canh giữ một lời thề chuộc tội bằng cả sinh mệnh.
Chiếc la bàn trên ngực cô rung lên bần bật. Kim từ tính vẫn chỉ thẳng một góc bốn mươi lăm độ về hướng Đông Bắc — hướng rạn Quỷ Môn, nơi thân xác cha cô và mười hai người thủy thủ đang nằm lại dưới đáy san hô sâu thẳm.
Bỗng nhiên, Tư Ngạn vùng dậy bằng một sức mạnh phi thường cuối cùng của kẻ sắp tắt thở. Bàn tay rách nát, đẫm máu của lão túm chặt lấy cổ tay Thảo, các ngón tay gầy guộc như gọng kìm siết chặt đến mức Thảo cảm nhận được từng khớp xương run rẩy của lão. Lão chỉ vào khối bánh răng nón bằng đồng thau đang nằm ngập trong nước, giọng đứt quãng nhưng cháy bỏng một niềm tin tuyệt vọng:
“Thảo ơi!... Con ơi!...” Lão nghẹn ngào van vỉ giữa tiếng gầm rú của giông bão, đôi mắt mờ đục bừng lên một tia sáng cuồng dại: “Cứu lấy ngọn đèn... cứu lấy linh hồn ba con! Khối tạ xích ngàn cân đứt cáp rơi chìm dưới đáy giếng rồi, sức người không thể nào kéo lên lại... Nhưng bánh răng đồng này... nhông truyền số ba này là phụ tùng ăn khớp với cụm ly hợp phụ! Chỉ cần mang nó lên buồng máy, thay vào trục sơ cấp để kích hoạt hệ thống tay quay cơ học khẩn cấp... hai bác cháu mình có thể hợp sức quay thấu kính bằng tay... Đèn sẽ xoay được, con ơi!”
Tư Ngạn ghì chặt lấy bàn tay chai sần vì dầu mỡ của Thảo, từng giọt nước mắt hòa lẫn máu tươi nhỏ xuống mu bàn tay cô bỏng rát:
“Đêm nay là đêm ba mươi cuối cùng của đời lão già này... Trước khi công nghệ mới dập tắt lò dầu cũ... xin con... hãy thương lấy vong linh của ba con và mười hai anh em... giúp lão già này thắp lên mẻ dầu cuối cùng cho tàu Thuận Phong về bến!”