Cụm thấu kính Fresnel khổng lồ vẫn lướt đi trong thinh lặng tuyệt đối trên lòng máng thủy ngân, nhưng trong lồng ngực Thảo, từng nhịp đập lại dội lên dồn dập như búa gõ vào đe thép.
Mùi kim loại ma sát khét lẹt quyện với vị tanh nồng của thủy ngân lỏng bốc lên lởn vởn trong không khí đặc quánh của buồng đèn. Thảo đứng chôn chân giữa vòng tròn lăng kính, luồng sáng phát ra từ chiếc đèn pin gắn trên trán cô quét qua những vành đai quang học bằng pha lê tinh khiết được tiện gọt bậc thang sắc sảo. Chúng bẻ gãy tia sáng nhân tạo thành hàng ngàn dải quang phổ lạnh lẽo, chập chờn quét ngang dọc khắp vách kính tròn của tháp hải đăng như những bóng ma vừa choàng tỉnh giấc sau trăm năm ngái ngủ.
Là một kỹ sư cơ khí hàng hải được đào tạo bài bản qua những giảng đường kỹ thuật nặng tính thực nghiệm, Thảo hiểu rõ cấu tạo của bộ tạ xích này hơn bất kỳ ai. Hệ thống truyền động dây cót đồng hồ và quả tạ gang nặng gần ba tạ chỉ có thể vận hành khi có bàn tay con người chủ động tháo chốt hãm, kéo căng cáp tải và nhả con lắc thoát hiểm. Một cơ cấu cơ học thuần túy, vận hành bằng động năng trọng lực của thế kỷ trước, tuyệt đối không thể tự ý kích hoạt chỉ vì những cơn gió lùa qua khe vách, lại càng không thể tự xoay khi chiếc then cài kép bằng thép tôi đã được gài chặt chẽ vào ngàm chặn.
Thế nhưng, then thép lúc này đã bật tung ra ngoài. Chốt hãm dự phòng nằm trơ trọi dưới sàn đá hoa cương lạnh ngắt, tựa hồ vừa bị một lực giật dứt khoát của một bàn tay vô hình tước phăng đi.
Tách... cạch... tách... cạch...
Bánh răng thoát hiểm bằng đồng thau tiếp tục gõ nhịp đều đặn, chuẩn xác đến từng phần trăm giây. Tiếng kim loại va chạm khô khốc vang vọng trong không gian lồng kính kín mít, nghe tựa hồ tiếng đếm ngược của một bản án vô hình treo lơ lửng trên đầu người gác đảo.
Thảo nuốt khan, vị mặn chát của bụi muối biển đọng lại nơi cuống họng khô khốc. Bàn tay đang siết chặt chiếc la bàn hàng hải cũ của cha cô run lên từng chặp. Dưới lớp mặt kính mica trầy xước loang lổ, mũi kim sơn đỏ thắm vẫn ghim chặt không suy chuyển ở góc bốn mươi lăm độ – hướng Đông Bắc. Không hề lay chuyển dù chỉ nửa khắc độ trước bất kỳ chuyển động cơ học nào của cơ thể cô.
Một thôi thúc mơ hồ nhưng sắc lạnh kéo giật ánh mắt Thảo về phía vách kính hướng thẳng ra biển.
Nơi đó, trên bệ đỡ bằng gang đúc gắn chặt vào sàn đá hoa cương của buồng đèn, có một chiếc kính vọng xa hàng hải cổ bằng đồng hai ống ngắm. Lớp vỏ kim loại đã ngả sang màu xanh gỉ đồng mốc meo vì hơi nước mặn quanh năm hun đốt, nhưng các khớp xoay và vành ốc tinh chỉnh tiêu cự vẫn được tra mỡ bò bóng loáng, mịn màng. Cụm ống ngắm đang chĩa thẳng tắp ra biển theo một góc tà cố định, hướng thẳng về phía chân trời đen kịt.
Thảo bước từng bước cẩn trọng tới gần, ghé mắt áp trán vào miếng đệm cao su đã chai cứng vì thời gian.
Bên ngoài, màn đêm trên biển Đông là một vực thẳm đen ngòm, quánh đặc như mực tàu. Cơn bão xa ngoài khơi dường như đang hút kiệt không khí xung quanh, nén áp suất khí quyển xuống thấp đến mức hai bên màng nhĩ cô lùng bùng đau nhói. Sóng biển dưới chân vách đá dựng đứng của Hòn Gạc gầm thét dữ dội, chồm lên cắn xé những thềm đá ngầm, tung bọt trắng xóa bốc lên thành từng màn sương muối dày đặc, lơ lửng trôi dạt lưng chừng trời như những dải voan liệm khổng lồ.
Cô đặt những ngón tay chai sạn lên núm vặn cự ly, xoay nhẹ một góc nhỏ để lấy lại độ nét. Thị trường của kính vọng xa lướt qua những ngọn sóng dựng đứng như hàm răng thú dữ giữa tâm triều, rồi dừng sững lại ở rạn Quỷ Môn – dải đá ngầm hình lưỡi liềm hiểm trở nằm cách tháp đèn đúng ba hải lý về phía Đông Bắc.
Đột nhiên, đồng tử Thảo co thắt kịch liệt.
Giữa màn sương muối mờ ảo và những dải bọt sóng lấp loáng lân tinh xám xịt ngoài rạn đá, một khối đen dị dạng đang lững lờ trôi dạt.
Đó là một con tàu.
Một con tàu chở hàng vỏ thép hoen rỉ và rách nát, thân tàu nghiêng hẳn một góc nguy hiểm về mạn trái, các cột cẩu hàng gãy gập trơ xương như những cẳng tay khẳng khiu vươn lên cầu cứu giữa trời đêm giông bão. Kỳ quái nhất là con tàu ấy lướt đi mà không hề rẽ sóng. Không có vệt bọt nước nào cuộn lên sau bánh lái, không có tiếng gầm rú trầm đục của buồng máy diesel, cũng không có bất kỳ ánh đèn tín hiệu hàng hải nào nhấp nháy trên nóc cabin điều khiển. Nó trôi bồng bềnh, dập dềnh ngay trên mặt rạn đá ngầm cạn hoét – nơi mà bất kỳ con tàu đáy bằng nào chạm phải cũng sẽ bị xé toạc sống lườn trong tích tắc.
“Không thể nào...” Thảo thảng thốt lẩm bẩm, hơi thở dồn dập phả ra làm mờ một góc thị kính. “Đó là bãi đá cạn... Vào giờ nước ròng này, độ sâu luồng lạch chỉ chưa đầy hai mét...”
Cô vội vàng lấy mu bàn tay quệt mạnh lên mặt kính, mở to mắt nín thở nhìn lại.
Nhưng đúng vào khoảnh khắc ánh đèn pin trên trán cô hắt một tia sáng xuyên qua cụm thấu kính Fresnel đang xoay tròn trên đệm thủy ngân, chùm sáng quang học tình cờ quét ngang qua màn sương mù ngoài khơi xa. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi của sự giao thoa ánh sáng, bóng dáng con tàu bỗng nhòe đi, vặn xoắn lại như một ảo ảnh lung linh rồi tan biến vào bóng tối thăm thẳm của rạn Quỷ Môn, chỉ còn lại những đợt sóng bạc đầu gầm gào xô vào vách đá ngầm trơ trọi.
Tim Thảo đập loạn xạ trong lồng ngực. Trực giác kỹ sư mách bảo cô rằng đây không thể là một hiện tượng siêu nhiên huyền hoặc. Dưới góc độ quang học thực nghiệm, khi chênh lệch nhiệt độ cực hạn giữa mặt nước biển lạnh ngắt và tầng không khí ẩm bão hòa xuất hiện trước cơn dông bão, lớp không khí sát mặt nước sẽ đóng vai trò như một thấu kính khúc xạ tự nhiên khổng lồ. Đó là hiện tượng Fata Morgana – ảo ảnh nghịch nhiệt tầng thấp, phản chiếu hình ảnh một bãi đá nhô cao hay phần còn lại của một xác tàu chìm khi thủy triều rút kiệt, phóng đại nó lên nền sương mù.
Thế nhưng, tại sao hình ảnh phản chiếu ấy lại trùng khớp đến rợn người với kết cấu của một con tàu chở hàng cũ kỹ? Và tại sao chiếc kính vọng xa của ông Tư lại được khóa chết chính xác vào góc quét bốn mươi lăm độ này?
Một cơn gió chướng bất ngờ giật mạnh vào các cánh chớp thông gió trên đỉnh vòm tháp, rít lên từng tràng the thé như tiếng còi tàu biển lâm nạn giữa trùng khơi. Thảo rùng mình buông tay khỏi bệ kính. Tiếng gầm gào của biển khơi bên ngoài như thôi thúc, kéo giật bản năng quan sát của cô.
Thảo vươn tay đẩy chốt, mở toang cánh cửa sắt nặng trịch dẫn ra bao lơn buồng đèn.
Gió biển lập tức táp thẳng vào mặt Thảo như những cái tát buốt giá. Hơi ẩm mặn mòi nồng nặc mùi tảo rữa và bọt sóng tràn ngập khoang mũi. Đứng ở độ cao ba mươi lăm mét so với mực nước biển, trên dải hành lang hẹp bằng gang rỉ sét có lan can bảo vệ chỉ cao ngang hông, Thảo cảm nhận rõ từng đợt rung chấn vi mô của ngọn tháp đá trăm năm tuổi đang oằn mình chống chọi với những đợt gió giật đầu mùa bão.
Thảo bấu chặt những ngón tay cóng buốt vào thanh lan can sắt ướt sũng, rọi thẳng luồng sáng đèn pin công nghiệp xuống chân tháp.
Vệt sáng hình nón quét một đường dài qua những thềm đá granite xám xịt loang lổ rong rêu và những vạt hoa muống biển dại đang rạp mình vật vã theo gió lốc. Sóng biển từ dưới chân vách đá dựng đứng đánh ầm ầm, tung bọt nước bắn lên tận lưng chừng tháp đá.
Và rồi, ngay mép ghềnh đá hiểm trở phía tây nam của hòn đảo, tia sáng đèn pin bất ngờ bắt được một chuyển động sống.
Một bóng người.
Đó là một dáng người gầy gò, lưng còng gập xuống như một rễ đước khô, chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh bộ đội rách bươm phần vạt đang phần phật bay loạn xạ trong gió bão. Kẻ đó bước đi khập khiễng – một chân chấm phẩy rõ rệt nhưng lại di chuyển thoăn thoắt, vững chãi trên những mỏm đá tai mèo sắc nhọn trơn tuột nước biển, nơi mà ngay cả những ngư dân dày dạn kinh nghiệm nhất vùng biển Quảng Ngãi cũng không dám đặt chân vào ban đêm.
“Ông Tư!” Thảo hét lên hết sức bình sinh, hai tay ghì chặt vào lan can sắt. “Ông Tư Ngạn!”
Tiếng thét của cô bị gió bão và tiếng sóng gầm xé vụn ra thành từng mảnh, ném ngược trở lại vào khoảng không mịt mù sau lưng.
Bóng người còng lưng kia không hề dừng lại, thậm chí không một lần ngoái đầu nhìn l*n đ*nh tháp sáng loáng ánh lăng kính. Lão già lách qua một khe nứt lớn giữa hai khối đá tảng khổng lồ bên mép nước gầm réo, rồi chui tọt vào một hốc đá tối tăm dẫn xuống chân mực triều, mất hút hoàn toàn sau màn mưa bão đang bắt đầu quất xuống xối xả.
“Khốn kiếp!” Thảo nghiến răng thốt lên trong cơn bàng hoàng lẫn tức giận.
Ông ta không hề trượt chân ngã xuống biển như cô từng lo sợ khi nhìn thấy mâm cơm nguội ngắt lúc ban chiều. Lão già gác đèn vẫn sống, vẫn đi lại trên hòn đảo trơ trọi này, nhưng ông ta đang lẩn tránh cô một cách có chủ đích. Hay đúng hơn, ông ta đang âm thầm chuẩn bị cho một điều gì đó ngoài các ghềnh đá hiểm trở giữa lúc áp thấp nhiệt đới đang cuồn cuộn tiến thẳng vào đất liền.
Thảo quay ngoắt trở vào trong buồng đèn, dùng hết sức bình sinh dập mạnh cánh cửa sắt nặng trịch lại để ngăn những giọt mưa mặn chát tràn vào làm oxy hóa máng thủy ngân. Cỗ máy đồng hồ vẫn lạnh lùng quay, từng bánh răng bằng đồng nhả nhịp tách... cạch... đều đặn, vô cảm.
Không thể đứng đây giam mình với một cỗ máy cơ học vô tri. Cô phải tìm ra nguyên cớ của tất cả những điều dị thường đang bao trùm lên Hòn Gạc.
Thảo dằn bước chạy nhanh xuống cầu thang xoắn ốc bằng gang. Một trăm hai mươi bậc thang rỉ sét run lên bần bật dưới gót giày bảo hộ của cô, phát ra những tiếng ken két chói tai chạy dọc theo giếng tháp rỗng tuếch. Ánh đèn pin trượt trên những mảng tường đá hoa cương dày cả mét, nơi vôi vữa thời thuộc địa đã bong tróc nham nhở, rỉ ra những dòng nước ngầm mặn chát bốc mùi ẩm mốc của cả thế kỷ tích tụ.
Trở lại tầng bốn – phòng trực bão kiêm nơi sinh hoạt thường nhật của người gác đèn.
Không gian bên trong vẫn giữ nguyên vẻ hoang phế lạnh lẽo lúc cô rời đi. Chiếc đèn bão đặt trên bàn gỗ tròn vẫn cháy liu riu, ngọn lửa vàng vọt bập bùng hắt bóng chiếc ấm nhôm móp méo lên vách đá gồ ghề. Bát cơm nguội ngắt với mấy con cá cơm khô cháy sém vẫn nằm im lìm trên chiếc phản gỗ lim đã lên nước bóng sẫm.
Thảo hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp thở đang dồn dập, rồi bắt đầu lục soát căn phòng một cách có hệ thống.
Cô kéo tung các ngăn kéo của chiếc bàn làm việc cũ kỹ kê sát cửa sổ tròn hướng gió. Bên trong chỉ có vài mẩu bút chì cùn trơ ruột, một cuộn dây thép gỉ, vài chiếc đai ốc bằng đồng cỡ lớn dùng cho cụm thấu kính, và hàng xấp công văn chỉ thị từ thập niên tám mươi của Ty Bảo đảm Hàng hải về việc tiết kiệm dầu hỏa và cồn đốt công nghiệp. Tuyệt nhiên không có một mảnh giấy tờ tùy thân hay sổ căn cước nào mang tên Tư Ngạn.
Thảo đảo mắt nhìn quanh căn phòng thô mộc, dò xét từng ngóc ngách dưới ánh sáng vàng đục của chiếc đèn bão. Ánh mắt cô dừng lại ở góc vách đá chếch về hướng đông của tháp.Ở đó có một bệ thờ nhỏ được đục lõm sâu vào thân tường đá dày của ngọn hải đăng. Đó là bàn thờ Cá Ông – vị thần hộ mệnh tối cao của dân vạn chài miền Trung. Bệ thờ phủ một lớp bụi mỏng và tàn nhang đã nguội ngắt tự bao giờ. Bên trên chỉ đặt một chiếc bát hương bằng sành thô mộc cắm đầy chân nhang đã mốc meo, hai bên là hai vỏ ốc xà cừ lớn dùng để đựng muối hạt và gạo cúng đã ngả màu vàng ố.
Tuy nhiên, có một chi tiết đập thẳng vào mắt Thảo với sự nhạy cảm nghề nghiệp của một người làm cơ khí chính xác: bệ gỗ lim kê dưới bát hương sành bị xê dịch lệch sang một bên khoảng hai phân, để lộ một vệt vôi trắng mới toanh chưa kịp bám bụi phong hóa.
Thảo bước tới, cẩn thận đưa tay nhấc bát hương sành sang một góc thềm đá. Cô lách đầu ngón tay chai sạn vào mép bệ gỗ lim, dùng sức gạt mạnh sang bên phải.
Tấm gỗ lim cọt kẹt trượt ra theo một rãnh khoét ngầm, để lộ một hốc đá khoét rỗng bên dưới lòng bệ thờ.
Bên trong hốc tối, nằm gọn lỏn giữa một lớp lá trầu khô quắt queo, là một bọc đồ được gói ghém vô cùng cẩn thận bằng vải dầu màu nâu sẫm – loại vải bạt chuyên dụng tráng nhựa chống thấm nước của lính hải quân thời chiến. Mùi dầu hỏa khét nồng pha lẫn mùi ngai ngái của giấy cũ lập tức xộc thẳng vào mũi cô.
Thảo cẩn trọng nhấc cái bọc ra, mang lại đặt lên mặt bàn gỗ dưới ánh sáng của chiếc đèn bão.
Những ngón tay cô khẽ run khi gỡ từng nút buộc bằng dây dù biển đã sờn rách mép. Lớp vải dầu dầy dặn mở ra từng lớp, để lộ một cuốn sổ hải trình khổ lớn, bìa bọc da bò thô ráp đã ngả sang màu xám mốc vì hơi muối biển qua năm tháng. Ở góc trên của bìa trước, ai đó đã dùng mũi bút sắt nung nóng khắc sâu một dòng chữ in hoa đã phai mờ:
HẢI ĐĂNG HÒN GẠC – NHẬT KÝ VẬN HÀNH ĐÈN DẦU (1978 – 1998)
Thảo lật mở trang đầu tiên. Mùi giấy mục nồng nặc phả ra trong không khí ẩm. Chữ viết trong sổ nghiêng ngả, gầy guộc và sắc nhọn, nét mực tím Cửu Long đã chuyển sang màu đỏ gỉ sắt, mang đậm nét chữ của một người quen lao động chân tay nhưng luôn cố gắng giữ cho từng con số được thẳng hàng ngay lối.
Những trang đầu tiên ghi chép các thông số kỹ thuật hàng ngày của trạm đèn trong những năm cuối thập niên bảy mươi: lượng dầu hỏa tiêu thụ mỗi đêm, số lít cồn công nghiệp dùng để mồi bấc đèn, số lần kéo tạ xích trong một ca trực, tình trạng gió và mực nước triều rút. Mọi thứ đều chuẩn xác, khô khan và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật của một trạm hải đăng cấp quốc gia.
Nhưng càng lật về các trang sau, các dòng ghi chép bắt đầu biến đổi một cách kỳ lạ và đầy dằn vặt.
Bắt đầu từ năm 1980, cứ đúng vào ngày 30 âm lịch hàng tháng – những đêm không trăng, trời biển tối đen như mực – mật độ ghi chép lại dày đặc một cách bất thường. Những con số kỹ thuật thuần túy nhường chỗ cho những thông số quang học kỳ dị và những dòng độc thoại trĩu nặng u uất:
“Ngày 30 tháng 8 năm Canh Thân (1980): Gió Đông Bắc cấp 5. Mưa sương mù. Thấu kính quay nhịp 15 giây/vòng không thấy gì. Đổi góc quét thấu kính lệch 3 độ về phía rạn Quỷ Môn. Pha thêm 10% cồn thơm vào mẻ dầu đốt để tim đèn cháy sáng trắng. Lúc 01 giờ 15 phút sáng, có bóng tàu lướt qua rạn. Đèn pha quét trúng mũi tàu nhưng không có số hiệu. Chúng nó không chịu đi. Chúng nó đứng đầy trên boong tàu ướt sũng, nhìn lên tháp đèn mà không chớp mắt.”
Thảo cảm thấy từng sợi tóc gáy dựng đứng, sống lưng cô lạnh buốt từng chặng. Cô lật tiếp một trang khác, viết vào năm 1988:
“Ngày 30 tháng Chạp năm Đinh Mão: Đêm nay biển động dữ dội. Sóng ngầm đánh rung chuyển chân móng tháp. Ta lại chỉnh góc tiêu cự thấu kính Fresnel về đúng 45 độ Đông Bắc. Đúng nhịp quay cơ khí thứ ba trăm sáu mươi, ánh lửa dầu quét qua bãi san hô ngầm. Lại là con tàu ấy. Con tàu vỡ đôi của mười năm trước. Ta nghe thấy tiếng chuông boong gõ dồn dập dưới hầm máy. Có tiếng người la hét đòi phao cứu sinh. Khiêm ơi, có phải anh dưới đó không? Sao anh không lên đây lấy lại cái đèn?”
Thảo sững sờ, toàn thân như đông cứng lại. Cái tên “Khiêm” xuất hiện đột ngột giữa những dòng mực tím run rẩy đập vào mắt cô như một nhát búa giáng thẳng vào lồng ngực.
Cha cô. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Khiêm.
Đầu óc Thảo bắt đầu quay cuồng dữ dội. Cô lật dồn dập từng trang giấy mỏng giòn rụm trong tiếng th* d*c nghẹn ngào. Những ghi chép của Tư Ngạn suốt hai mươi năm ròng rã qua không đơn thuần là nhật ký công việc của một người gác đèn mẫn cán, mà là một biên niên sử của sự ám ảnh, thống khổ và kiếm tìm chuộc tội.
Đứng trên lập trường duy lý của một kỹ sư, Thảo nhanh chóng nhận ra bản chất của những hiện tượng mà người gác đèn già miêu tả. Lão già không hề triệu hồi ma quỷ bằng thuật phù thủy nào cả; thay vào đó, lão đã vô tình hoặc hữu ý vận dụng những nguyên lý quang học và đặc điểm khí tượng khắc nghiệt của vùng biển này. Bằng cách cố định góc quét của thấu kính Fresnel ở đúng góc bốn mươi lăm độ hướng ra rạn Quỷ Môn, kết hợp với việc pha cồn vào dầu hỏa để tăng độ rực sáng của ngọn lửa tim đèn vào những đêm triều kiệt sương dày, ánh sáng cực mạnh đã rọi thẳng vào những khối đá ngầm và mảnh xác tàu rỉ sét nhô lên khỏi mặt nước. Màn sương muối dày đặc đóng vai trò như một phông phản xạ khổng lồ, và hiện tượng nghịch nhiệt tầng thấp Fata Morgana đã bẻ cong các tia sáng, khúc xạ hình bóng đổ nát của xác tàu dưới đáy nước thành một ảo ảnh lơ lửng trên mặt biển.
Thế nhưng, sự chuẩn xác về quang học ấy không thể xua đi nỗi đau đớn đến nghẹt thở đang dâng lên trong lòng Thảo. Suốt hai mươi năm cô độc trên đỉnh tháp đá trơ trọi này, người đàn ông gầy gò ấy đã sống trong cơn ác mộng triền miên của ký ức, ngày qua ngày đối diện với ảo ảnh quang học của con tàu đắm như một cách tự hành xác lương tâm.
“Đêm 30 tháng 7 năm Mậu Dần (1998):” – Thảo lật đến trang áp chót, nét mực viết bằng bút bi xanh còn khá mới, có lẽ chỉ mới được ghi cách đây một tháng. – “Bọn trên bờ thông báo sắp mang đèn điện mặt trời ra thay. Chúng nó bảo ngọn đèn Pháp cổ này đã già cỗi, phải dập tắt bấc dầu, phải tháo dỡ thấu kính Fresnel đem vào bảo tàng. Chúng nó không hiểu. Chúng nó chẳng hiểu gì cả! Đèn cơ khí chạy bằng sức người mới có linh hồn. Đèn dầu mới tỏa ra hơi ấm để dẫn lối cho những kẻ chết chìm dưới rạn Quỷ Môn tìm đường về nhà. Nếu ngọn đèn này tắt, nếu bánh răng cơ khí ngừng quay, linh hồn con tàu Thuận Phong sẽ vĩnh viễn kẹt lại trong hốc đá lạnh lẽo ngoài kia. Ta không còn nhiều thời gian nữa. Ta phải gom đủ mẻ dầu cuối cùng...”
Thuận Phong.
Hai chữ ấy như xé toạc màn sương mù u tối trong tâm trí Thảo. Tàu Thuận Phong 04. Con tàu định mệnh đã cướp đi người cha thân yêu của cô vào một đêm mùa thu năm 1978, để lại một đứa trẻ bảy tuổi ngơ ngác ôm chiếc ba lô sũng nước mặn bên bờ biển Sa Huỳnh chờ đợi trong tuyệt vọng.
Tư Ngạn biết con tàu đó. Lão không chỉ biết, mà lão còn gắn chặt cả nửa đời người còn lại của mình với bi kịch đắm tàu năm ấy.
Đôi bàn tay Thảo run rẩy đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Cô hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn nghẹn ngào đang trào dâng nơi cuống họng, lật tiếp sang trang giấy cuối cùng của cuốn sổ hải trình.
Trang giấy cuối cùng bị gập đôi lại theo mép dọc, phần mép giấy ngả màu ố vàng sậm và giòn rụm như tàn tro. Bên trong nếp gấp, một vật mỏng và cứng kẹp chặt lấy thân trang sổ.
Thảo nhẹ nhàng tách nếp gấp bằng giấy cũ ra.
Tách.
Một tấm ảnh đen trắng cỡ sáu nhân chín rơi ra khỏi trang giấy, nằm sấp trên mặt bàn gỗ lim.
Thảo nín thở, từ từ lật mặt trước của bức ảnh lên dưới ánh đèn bão vàng vọt.
Bức ảnh chụp bằng phim đen trắng của thập niên bảy mươi, chất bạc trên giấy ảnh đã ngả sang màu nâu cánh gián loang lổ, bốn góc bị gặm nham nhở bởi hơi muối biển nhưng hình ảnh hai người đàn ông ở trung tâm vẫn hiện lên rõ mồn một.
Họ còn rất trẻ, trạc chừng ngoài ba mươi tuổi, đều mặc bộ đồ bảo hộ lao động màu xanh công nhân hàng hải ướt đẫm mồ hôi. Họ đang đứng cạnh nhau trên boong mũi của một con tàu chở hàng lớn, tựa lưng vào lan can sắt sáng loáng. Phía sau lưng họ, trên vách cabin màu trắng, nổi bật lên dòng chữ sơn đen sắc nét: TÀU THUẬN PHONG 04.
Người đàn ông bên phải có vóc dáng mảnh khảnh, gầy gò, đôi mắt sáng quắc đầy nhiệt huyết nhưng khóe miệng lại phảng phất nét e dè, rụt rè – đó chính là Tư Ngạn hai mươi năm về trước, khi hai chân lão vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề bị tật nguyền khập khiễng.
Còn người đàn ông đứng bên trái...
Một giọt nước mắt nóng hổi bất thần lăn dài trên gò má Thảo, rơi trúng mặt kính chiếc đèn bão kêu xèo một tiếng nhỏ rồi bốc hơi cay xè.
Người đàn ông vạm vỡ, cao lớn, đội chiếc mũ thuyền trưởng sờn rách hơi lệch về một bên, khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn của gió biển nhưng nụ cười lại ấm áp, bao dung như một bến đỗ bình yên. Cánh tay rắn chắc của ông đang thân tình choàng qua vai người thủy thủ phó gầy gò bên cạnh, bàn tay to bè đang nắm chặt chiếc la bàn hàng hải bằng đồng thau – đúng chiếc la bàn đang nằm trong túi áo ngực Thảo lúc này.
Cha cô. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Khiêm.
Thảo đưa những ngón tay run rẩy sờ nhẹ lên gương mặt của cha trong bức ảnh cũ. Suốt hai mươi năm qua, hình bóng của ông trong tâm trí cô chỉ còn là những mảnh ký ức vụn vỡ và mờ nhạt: mùi thuốc lá sợi nồng nặc trên chiếc áo len mùa đông, tiếng cười trầm ấm vang vọng trong căn nhà tập thể ven cảng cá, và bàn tay thô ráp xoa đầu cô trước mỗi chuyến hải trình dài ngày. Giờ đây, ông đang hiện diện ở đây, ngay trên ngọn tháp cô độc giữa muôn trùng sóng gió này.
Ánh mắt nhòe lệ của Thảo trượt dần xuống phần lề trắng phía dưới bức ảnh.
Ở đó, một dòng chữ viết tay bằng mực tím đã phai màu, nét chữ run rẩy, nguệch ngoạc như được viết trong một cơn hoảng loạn tột cùng hoặc giữa những cơn dằn vặt xé lòng của một linh hồn mang trọng tội:
“Nợ Khiêm một mạng. Đèn tắt, hồn rạn, người tan.”