Người Gác Hải Đăng Cuối Cùng

Chương 1: Bóng đá Hòn Gạc

Sau

Chiếc thuyền chài vỏ gỗ của chú Sáu Rạn chồm lên một ngọn sóng lừng rồi giáng mạnh xuống mặt nước xám ngắt. Bọt biển tung trắng xóa, tạt rát bỏng vào một bên gò má Thảo. Biển cuối thu năm 1998 mang sắc lạnh u uất, đậm đặc một màu chì đục ngầu phù sa và bọt muối. Gió thốc từng cơn giật cục từ phía đông nam, mang theo cái ẩm ướt nồng gắt của hơi nước mặn chát cùng dấu hiệu không thể nhầm lẫn của một vùng áp thấp nhiệt đới đang cuộn xoáy ngoài khơi xa biển Đông.

Ở mũi thuyền, đảo Hòn Gạc lừng lững hiện ra tựa một chiếc răng nanh khổng lồ bằng đá hoa cương xám xịt cắm thẳng lên nền trời vần vũ mây giông. Bốn bề là những vách đá phong hóa dựng đứng, trơ trọi và hiểm trở, tuyệt nhiên không có một bóng cây lớn nào đủ sức bén rễ; chỉ có những dải muống biển tím ngắt bám rịt vào các khe nứt cằn cỗi cùng từng vạt xương rồng dại cào xước xơ xác trong gió gắt. Ngự trị trên chỏm đá tảng cao nhất là tháp hải đăng hình trụ tròn xây bằng đá hộc kiên cố, bên ngoài trát lớp vữa vôi trắng dày dặn. Lớp vữa vôi ấy qua gần một thế kỷ dầm dãi nắng lửa và bão mặn đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ cốt gạch cổ màu xỉ than sẫm tối được người Pháp đưa từ chính quốc sang xây dựng vào năm 1912.

“Tới nơi rồi đó, cô kỹ sư!” Chú Sáu Rạn gằn giọng át tiếng máy dầu nổ thình thịch đều đặn dưới lườn thuyền. Đôi bàn tay chai sần, gân guốc như rễ cây đước biển của người ngư dân già ghì chặt lấy cần lái bằng gỗ mun, đôi mắt kèm nhem nheo lại canh chừng từng đợt sóng bạc đầu đang chực dìm mạn thuyền vào chân ghềnh đá trơn tuột rêu xanh phía trước. “Canh con sóng êm mà nhảy phắt lên bậc xi măng nhen. Đừng có dại dột ngó xuống chân, nước dưới chân vách đá này xoáy ngầm cuộn siết dữ dội lắm đó!”

Thảo siết chặt quai chiếc ba lô bạt nặng trĩu những cờ lê, thước cặp mỏ nhọn, đồng hồ vạn năng và tập hồ sơ kỹ thuật dày cộm mang con dấu đỏ của Ty Bảo đảm Hàng hải. Cô đưa bàn tay thô ráp sạm màu dầu mỡ tém lại lọn tóc ngắn bị gió biển thổi bết chặt vào trán. Nước da rám nắng công trường cùng đôi gò má cao góc cạnh của cô ánh lên vẻ cương nghị dưới thứ ánh sáng nhờ nhờ, lạnh lẽo của buổi chiều tà muộn màng.

“Chú Sáu không neo thuyền lên đảo nghỉ một lát, uống bát nước chè sao?” Thảo hét to át tiếng sóng vỗ ầm oàng vào hàm ếch đá vôi.

“Nghỉ cái giống chi chừ!” Chú Sáu nhổ toẹt bãi nước bọt khét lẹt mùi thuốc lào xuống mạn thuyền, ánh mắt đảo quanh rạn đá phía mũi thuyền với vẻ bất an lộ rõ trong từng nếp nhăn nơi khóe mắt. “Gió bắt đầu xoay hướng chướng rồi. Tui phải tống ga chạy riết về lại cửa Sa Kỳ trước khi bọt sóng trùm kín luồng lạch. Ở lại cái chóp đá Hòn Gạc này đêm nay thì chỉ có nước rách vỏ thuyền, bỏ mạng cho hà róc xương.”

Chiếc thuyền chài lựa trớn ghé sát mép ghềnh. Một đợt sóng lừng dâng cao từ đáy biển, nâng bổng đuôi thuyền lên ngang tầm thềm đá nhỏ xíu được đẽo gọt thô sơ vào sườn núi. Thảo lấy đà, dứt khoát nhảy sang. Đôi ủng cao su chuyên dụng bám chặt vào bề mặt đá ẩm ướt lởm chởm vỏ hà sắc nhọn. Chú Sáu nhanh tay quẳng chiếc túi dù bọc kín lương khô và đồ nghề dự phòng của cô lên thềm đá, rồi dùng cây sào tre đực bịt sắt nhọn đẩy mạnh mũi thuyền ra xa khỏi vách đá nhọn hoắt đang chực chờ nghiền nát lớp vỏ gỗ mục.

Trước khi giật ga lùi máy để quay đầu ra khơi, người lái đò già đột nhiên khựng lại. Chú kéo sụp vành nón mê rách rưới xuống trán, ngước nhìn l*n đ*nh tháp hải đăng sừng sững giữa trời xám xịt rồi hạ giọng, nét mặt nghiêm trọng lạ thường:

“Cô Thảo nè... Tính lão Tư Ngạn trọi lỉa, quái gở như hòn đá mồ côi ngoài lộng rứa đó. Ba chục năm nay ổng không bước chân về đất liền, người ngợm mốc thếch mùi dầu hỏa với muối mặn. Nếu ổng có nạt nộ hay lảm nhảm chuyện chi... thì cô cứ bơ đi, đừng cãi cọ làm chi cho mệt xác. Nhất là đêm nay...” Chú ngập ngừng, đưa ngón tay trỏ run rẩy chỉ về phía đông bắc, nơi những ngọn sóng bạc đầu đang cuộn trào trên một dải nước sẫm màu kỳ dị cách bờ chừng ba hải lý. “Đêm nay hăm chín, mai ba mươi trăng non rồi. Biển động cuối mùa mà lại rơi trúng vào đêm trăng non thì rạn Quỷ Môn độc địa lắm. Người sống sót sau cái vụ đắm tàu hai chục năm trước... không có ai bình thường trong đầu mô cô.”

“Cháu biết rồi. Cháu cảm ơn chú Sáu.” Thảo đáp gọn lỏn, giọng điềm tĩnh và dứt khoát.

Là một kỹ sư cơ khí hàng hải được đào tạo bài bản và từng lăn lộn qua hàng chục trạm hải đăng dọc dải duyên hải miền Trung, Thảo không lạ gì những lời đồn thổi nhuốm màu ma mị của cánh ngư dân vạn chài. Với cô, rạn Quỷ Môn chỉ đơn thuần là một cấu tạo địa chất hiểm trở hình lưỡi liềm chìm ngập dưới ba sải nước biển, nơi hai luồng hải lưu nóng lạnh giao cắt tạo ra các xoáy nước nghịch dòng cực kỳ nguy hiểm. Chẳng có ma quỷ hay lời nguyền rủa truyền đời nào ở đó, chỉ có những tính toán sai lầm về thủy văn và sự bất cẩn của những thuyền trưởng khi điều khiển tàu đi lệch luồng hàng hải mà thôi.

Thế nhưng, khi chiếc thuyền chài rẽ sóng quay đầu, nhanh chóng thu nhỏ thành một chấm đen dập dềnh giữa muôn trùng sóng dữ rồi khuất hẳn sau màn mưa bụi mịt mù, cảm giác cô lập bất chợt đè nặng lên lồng ngực cô.

Gió rít qua các khe nứt của vách đá tạo thành những âm thanh the thé rền rĩ như tiếng còi hơi trầm đục vọng lại từ biển sâu. Thảo xốc lại ba lô trên vai, bước theo con đường mòn lót đá xám dẫn ngoằn ngoèo lên chân tháp. Dọc đường đi, những cụm xương rồng cọ quẹt vào ống quần bạt phát ra tiếng sột soạt khô khốc, nhắc nhở cô về sự khắc nghiệt của hòn đảo này.

Tháp hải đăng cổ hiện ra sừng sững trước mặt. Chân tháp ốp bằng những khối đá hộc dày hơn một mét, nặng nề và vững chãi tựa một pháo đài đã trơ gan cùng tuế nguyệt qua hàng trăm cơn bão tố. Cánh cửa sắt dày nặng trịch phủ lớp sơn chống rỉ màu xám tro khép hờ, để lộ một khe hở tối om hun hút dẫn sâu vào lòng tháp.

“Bác Tư? Bác Tư Ngạn ơi!” Thảo cất tiếng gọi lớn.

Đáp lại tiếng gọi của cô chỉ có âm vang rỗng tuếch dội lại từ khoảng không hun hút bên trong lòng tháp và tiếng gầm trầm đục của sóng biển dội qua vòm đá dưới đáy móng. Tuyệt nhiên không có tiếng dép lê quen thuộc, tiếng ho khạc hay bất kỳ lời đáp nào của con người.

Thảo đặt tay đẩy mạnh cánh cửa sắt nặng trịch. Bản lề han rỉ lâu ngày kêu lên một tiếng ken két chói gắt. Không khí bên trong lập tức thay đổi hoàn toàn: mùi gió biển ẩm ướt nhường chỗ cho mùi đặc trưng của một công trình kỹ thuật cơ khí thế kỷ trước – mùi ẩm mốc của vôi vữa lâu năm, mùi dầu mỡ bôi trơn máy móc đã biến tính qua thời gian, và đặc biệt là mùi dầu hỏa pha cồn khét nồng, thứ nhiên liệu đốt bấc thắp sáng ngọn đèn cổ suốt bao thập kỷ qua.

Chính giữa lòng tháp tròn là cầu thang xoắn ốc bằng gang đúc gồm đúng 120 bậc, chạy ngoằn ngoèo lên tận đỉnh vòm tựa như khung xương sống của một con cá voi thời tiền sử đã hóa thạch. Thảo bám tay vào lan can gang lạnh buốt sờn tróc lớp sơn đen, từng bước trèo lên. Mỗi bước chân giẫm lên bậc kim loại đều tạo ra những tiếng keng... keng... vang vọng đều đặn, đếm từng nhịp gõ khô khốc giữa không gian kín bưng tĩnh mịch.

Lên đến chiếu nghỉ tầng bốn, nơi đặt buồng sinh hoạt và trạm trực bão của người gác đèn, Thảo dừng lại th* d*c, lồng ngực phập phồng vì gắng sức.

Căn phòng hình tròn nhỏ hẹp, trần vòm thấp bằng đá xám. Một chiếc giường đơn kê sát vách với chiếc chăn bông lính thủy sờn rách được gấp vuông vức chằn chặn theo kiểu nhà binh. Trên chiếc bàn gỗ mộc thô sơ đặt giữa phòng, một mâm cơm đậy lồng bàn tre đã nguội ngắt từ lâu: lưng bát cơm trắng khô khốc se lại, đĩa cá cơm kho tiêu quánh lại thành một mảng đen sẫm và một chén nước mắm dầm ớt hiểm đỏ lòm. Cạnh mâm cơm, một cây đèn bão bằng đồng thau vẫn đang leo lét cháy, bấc đèn đã tàn lụi một nửa, muội than đen kịt bám đầy mặt trong của chụp thủy tinh hình quả lê. Chiếc đèn dầu này hẳn đã cháy liên tục ít nhất ba đến bốn tiếng đồng hồ mà không có người châm thêm hay vặn nhỏ bấc.

“Bác Tư?” Thảo bước hẳn vào phòng, đưa mắt rà soát từng ngóc ngách.

Mọi vật dụng cá nhân của người gác đèn già vẫn còn nguyên vẹn tại chỗ. Chiếc áo khoác dạ lính thủy bạc màu sương gió treo trên chiếc đinh sắt đóng vào mạch vữa. Cuộn dây thừng đay, chiếc điếu bát bằng sành, bao diêm dở dang nằm ngay ngắn trên kệ sách cũ kỹ.

Thảo tiến lại gần chiếc bàn làm việc bằng gỗ lim kê sát cửa sổ tròn nhìn ra biển. Trên mặt bàn bám đầy bụi muối và muội than, một cuốn sổ nhật ký hải trình dày cộm bọc bìa vải dầu xám nằm mở rộng. Cô bước tới, cẩn trọng nghiêng đầu xem xét. Những trang giấy ngả vàng vì ẩm ướt được kẻ cột ngay ngắn bằng mực tím, ghi chép cẩn mật các thông số khí tượng từng ca trực: hướng gió, áp suất khí quyển đo bằng phong vũ biểu thủy ngân, lượng dầu hỏa tiêu thụ tính bằng lít, và thời điểm cắt bấc đèn mỗi buổi rạng đông.

Thế nhưng, điều khiến ánh mắt Thảo khựng lại là những dòng ghi chú vội vã bằng bút chì ở lề dưới của các trang ghi ngày ba mươi âm lịch hàng tháng. Nét chữ run rẩy, xước giấy: “Góc quét 45 độ Đông Bắc... Tốc độ gió 6 hải lý... Sương muối dâng ngang mép rạn... Vẫn nghe tiếng gõ buồng máy dưới đáy nước.” Cạnh cuốn sổ là những dụng cụ đo đạc bằng đồng thau được sắp đặt ngay ngắn đến kỳ lạ: chiếc com-pa đo góc hàng hải, quả dọi chì bóng loáng và một hộp mỡ bò bôi trơn máy móc đã cạn một nửa.

Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng ông Tư Ngạn đâu. Nếu ông đi tuần tra quanh chân tháp hay kiểm tra các ghềnh đá trước khi bão đổ bộ, ông không thể nào không nhìn thấy chiếc thuyền chài của chú Sáu cập bến, càng không thể để mặc ngọn đèn bão cháy hao dầu vô ích và bỏ dở bữa cơm chiều như thế này.

Thảo nhíu mày, trực giác nghề nghiệp của một người thợ máy mách bảo cô rằng trật tự vận hành tại trạm đèn này đang có sự xáo trộn bất thường. Cô không chần chừ, quay người bước tiếp lên những bậc thang gang cuối cùng dẫn thẳng lên buồng đèn – trái tim và linh hồn của toàn bộ ngọn hải đăng Hòn Gạc.

Đẩy cánh cửa sập bằng đồng nặng nề bước lên sàn buồng đèn, Thảo hoàn toàn nín thở.

Cả một thế giới cơ khí quang học cổ điển tráng lệ và kiêu hãnh mở ra trước mắt cô dưới ánh hoàng hôn le lói xuyên qua những ô kính cường lực dày hai mươi milimét đọng vệt muối mờ. Chiếm trọn không gian trung tâm là cụm thấu kính Fresnel khổng lồ cao hơn hai mét, một kiệt tác quang học do các kỹ sư bậc thầy người Pháp chế tác tinh xảo từ đầu thế kỷ hai mươi. Hàng trăm vành đai lăng kính thủy tinh quang học bậc thang đồng tâm lấp lánh như một khối đa diện tinh xảo, ôm trọn lấy buồng đốt bấc dầu ở chính tâm. Toàn bộ khối thấu kính nặng hàng tấn ấy được đặt nổi cân bằng hoàn hảo trên một máng gang hình xuyến chứa đầy thủy ngân lỏng sáng loáng, triệt tiêu gần như toàn bộ ma sát để có thể xoay tròn mượt mà chỉ với một lực đẩy nhẹ của ngón tay.

Thảo bước chậm rãi quanh bệ đèn, đưa những ngón tay chai sạn lướt nhẹ trên gờ mép gang của máng tròn. Lớp thủy ngân kim loại nặng trịch, phẳng lặng tuyệt đối như một tấm gương bạc soi bóng trần vòm tháp. Chỉ cần một mô-men xoắn cực nhỏ từ hệ thống tạ xích cơ học bên dưới, khối lăng kính khổng lồ này có thể lướt đi êm ả, không phát ra một tiếng cọ xát cơ học nào.Ngay phía dưới bệ máy là hệ thống máy đồng hồ tạ xích điều tốc khổng lồ. Quả tạ treo nặng hàng trăm ký bằng gang đúc được thả sâu vào lòng giếng tháp thông qua trục trung tâm, có nhiệm vụ truyền thế năng để vận hành toàn bộ cơ cấu xoay. Một bánh xe hồi bằng đồng thau cùng bộ giảm tốc cánh quạt gió đảm nhiệm việc duy trì nhịp quay chuẩn xác tuyệt đối: đúng bốn vòng mỗi phút, tạo ra nhịp chớp đơn định danh dẫn đường cho tàu bè qua lại hải phận Hòn Gạc.

Thảo đứng lặng hồi lâu, vừa thán phục trước đỉnh cao của kỹ nghệ cơ khí thủ công thế kỷ trước, vừa trào dâng một cảm giác xót xa, hoài niệm khó tả.

Cô mở cặp da công vụ, rút ra tập lệnh điều động của Cục Hàng hải: Quyết định kiểm kê, đình chỉ hoạt động hệ thống thấu kính cơ khí đốt dầu và lắp đặt thử nghiệm hệ thống đèn hải đăng tự động chạy bằng năng lượng mặt trời. Kỷ nguyên của những quả tạ xích, của đệm thủy ngân và những mẻ dầu hỏa châm tay thức trắng đêm đã đi đến hồi kết. Thiết bị thay thế hiện đại chỉ là một chiếc hộp nhựa composite gắn đi-ốt bán dẫn nhỏ gọn, cắm trên giàn pin mặt trời, tự động bật tắt nhờ cảm biến quang học mà không cần đến sự hiện diện của bất kỳ người gác đèn nào nữa.

Và nhiệm vụ của Thảo trong chuyến đi này chính là đặt dấu chấm hết vĩnh viễn cho ngọn đèn dầu trăm năm tuổi.

Gió bên ngoài quất mạnh vào lớp kính buồng đèn, phát ra những tiếng rền rĩ từng hồi trầm đục như tiếng còi sương mù báo bão. Mây đen từ biển xa ùa vào, nuốt chửng vệt sáng đỏ ối cuối cùng của mặt trời lặn. Màn đêm đổ ụp xuống đại dương nhanh như một thùng mực đen đặc bị ai đó hất tung.

Thảo bước tới bảng phân phối điện phụ trợ đặt ở góc vách buồng đèn. Đây là hệ thống máy nổ diesel nhỏ cấp điện cho bóng đèn chiếu sáng cầu thang và radio liên lạc sóng ngắn do Ty trang bị thêm hồi thập niên 80. Theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, trước khi tiến hành đo đạc kích thước buồng đèn để dựng khung giá đỡ cho hệ thống pin mặt trời vào sáng mai, cô bắt buộc phải cắt toàn bộ nguồn điện phụ trợ để triệt tiêu mọi rủi ro chập cháy khi bão lớn tràn qua.

Thảo đưa tay nắm lấy cần gạt cầu dao tổng, dứt khoát kéo mạnh xuống.

Một tiếng tách khô khốc vang lên. Tiếng vo ve khe khẽ của cuộn dây biến áp lập tức tắt ngấm. Toàn bộ ngọn tháp chìm sâu vào bóng tối đặc sệt, chỉ còn lại ánh sáng vàng lạnh của chiếc đèn pin công nghiệp gắn trên trán cô và thứ ánh phản quang mờ ảo hắt lên từ bề mặt máng thủy ngân lỏng phẳng lặng như gương. Khối thấu kính Fresnel đứng im lìm như một tượng đài câm lặng giữa đêm đen. Bộ máy tạ xích cơ học cũng đã được cài then chốt hãm an toàn chặt chẽ từ trước, các bánh răng đồng ăn khớp bất động.

Thảo thở hắt ra một hơi dài, đưa bàn tay dính bụi than xoa nhẹ hai bên thái dương đang căng lên vì mệt mỏi. Trong lúc thu dọn giấy tờ kỹ thuật vào cặp da, ngón tay cô vô tình chạm vào túi ngực áo khoác bảo hộ lao động.

Ở đó có một vật thể cộm lên, nặng và tròn trịa.

Thảo khẽ luồn tay rút nó ra. Đó là một chiếc la bàn hàng hải bỏ túi bằng đồng thau đã xỉn màu vì sương gió thời gian, mặt kính tròn bên trên chằng chịt những vết xước dăm. Đây là kỷ vật duy nhất còn sót lại của cha cô – Thuyền trưởng Nguyễn Văn Khiêm.

Ký ức xa xăm của tuổi lên bảy bất chợt ùa về, rõ nét như một nhát cắt. Ngày ấy, cô bé Thảo thường ngồi vắt vẻo trên bờ vai vững chãi của cha nơi cầu cảng Sa Kỳ lộng gió, hít hà mùi thuốc lá sợi quyện lẫn vị muối mặn nồng trên chiếc áo khoác lính thủy của ông. Cha từng cầm bàn tay nhỏ xíu của cô, áp vào nắp chiếc la bàn này và trầm ngâm bảo: “Biển cả có thể đánh lừa con mắt bằng sương mù và sóng cồn, nhưng kim chỉ nam thì không bao giờ biết nói dối, Thảo con.”

Rồi mùa thu định mệnh năm 1978 ập đến. Con tàu chở hàng Thuận Phong 04 do cha cô cầm lái đã vĩnh viễn không trở về sau một đêm bão gầm gào ngoài khơi Hòn Gạc. Đội tìm kiếm cứu nạn rà soát suốt nhiều tuần dọc các bãi rạn nhưng không tìm thấy xác ông, chỉ vớt được chiếc ba lô dạt vào thềm đá chân tháp hải đăng, bên trong có cuốn nhật ký ướt sũng và chiếc la bàn này. Suốt hai mươi năm ròng rã qua, trục kim của chiếc la bàn luôn bị kẹt cứng, lệch hẳn về một góc chết bất động, không hề chịu xoay theo từ trường Trái Đất dù Thảo đã đem nó đi qua bao nhiêu kinh độ, vĩ độ.

Thảo bật nắp chiếc la bàn dưới ánh đèn pin cá nhân. Bất chợt, toàn thân cô khựng lại.

Dưới lớp kính trầy xước, mũi kim sơn hai màu xanh đỏ vốn đã bất động suốt hai thập kỷ qua bỗng nhiên run rẩy dữ dội. Nó giật cục từng nhịp ngắn, rồi bắt đầu xoay tròn một cách điên cuồng như thể đang bị cuốn vào một cơn lốc xoáy từ trường cực mạnh ngay dưới chân tháp.

Từng thớ cơ trên khuôn mặt Thảo căng cứng. Với tư duy duy lý của một kỹ sư cơ khí, hiện tượng này hoàn toàn phi lý và bất khả thi; trên đỉnh tháp đá cô lập này không hề có bất kỳ nguồn nam châm điện hay trạm biến áp cao thế nào đủ mạnh để kích động một mũi kim cơ học cổ điển đến mức độ đó.

Sau vài giây chao đảo dữ dội, chiếc kim đột ngột khựng lại. Một tiếng cạch thanh gọn vang lên bên trong ổ trục bằng đá ngọc bích.

Mũi kim sơn màu đỏ thắm nhọn hoắt ghim chặt, kẹt cứng hoàn toàn về hướng Đông Bắc – góc 45 độ trên mặt số, chỉ thẳng tắp ra vùng biển đêm tăm tối mịt mùng, nơi rạn Quỷ Môn đang chìm sâu dưới những ngọn sóng ngầm cuồng nộ.

Gáy Thảo lạnh toát, sống lưng cô run lên từng đợt gai ốc. Cô nhìn trừng trừng vào mặt la bàn, lồng ngực thắt lại. Đúng góc quét 45 độ ấy. Đúng tọa độ định mệnh mà con tàu Thuận Phong 04 của cha cô đã phát tín hiệu cấp cứu vô tuyến lần cuối cùng vào một đêm trăng non của hai mươi năm về trước trước khi chìm vào lòng biển thẳm, và cũng chính là góc quét mà ông Tư Ngạn đã ghi chú nguệch ngoạc bằng bút chì trong cuốn sổ trực bão dưới tầng bốn.

Một luồng gió buốt giá bất thần luồn qua khe thông gió của buồng đèn, tạt thẳng vào gáy Thảo, thổi bạt đi chút hơi ấm sót lại trong không gian kín. Bốn bề rơi vào một sự tĩnh lặng chết chóc, chỉ còn lại tiếng nhịp tim của Thảo đập dồn dập vào lồng ngực tựa như tiếng búa gõ.

Đúng lúc ấy, từ trong bóng tối sâu thẳm của giếng tháp bên dưới chân cô, một chuỗi âm thanh kim loại bắt đầu cất lên rành rọt.

Ken két... Keng!

Tiếng kim loại va đập gắt gao vang lên đanh thép, rạch toạc màn đêm đen kịt. Then hãm bằng thép tôi của bộ máy tạ xích – chiếc then mà chính tay Thảo vừa rà soát và thấy đã được gài chặt bằng chốt an toàn kép – bỗng nhiên bật tung ra với một lực giật cực mạnh.

Rắc! Xoạt... xoạt... xoạt...

Xích tải bằng đồng rít qua các rãnh puly với âm sắc khô khốc. Quả tạ gang nặng hàng trăm ký bắt đầu từ từ hạ xuống khoảng không tăm tối trong lòng giếng tháp. Bánh xe hồi bằng đồng thau gõ nhịp tách... cạch... tách... cạch... nặng nề, dứt khoát và chuẩn xác đến từng phần trăm giây như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ quả lắc khổng lồ vừa được lên dây cót.

Và rồi, ngay trước đôi mắt mở to vì bàng hoàng của Thảo, cụm thấu kính Fresnel khổng lồ nặng hàng tấn đặt trên đệm thủy ngân lỏng bắt đầu tự động xoay tròn.

Nó xoay chầm chậm, êm ru không một tiếng động ma sát, lướt đi trên bề mặt thủy ngân sáng loáng phẳng lặng. Những vành đai lăng kính thủy tinh quang học khúc xạ chút ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn pin, cắt xẻ bóng tối trong buồng đèn thành từng mảng chập chờn, kỳ ảo. Bánh răng đồng tiếp tục quay đều, xích tải tuôn dần theo từng nấc nhả của cơ cấu hồi, làm cả ngọn tháp đá cổ rung lên nhè nhẹ theo từng nhịp quay cơ khí hoàn hảo giữa đêm đen cô tịch.

Không một bóng người vận hành. Không một bàn tay châm bấc dầu. Nhưng cỗ máy thời gian trăm năm tuổi ấy đang thức giấc, xoay tròn một cách kiên định giữa cơn bão biển đang ập tới chân trời.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn

Sau