Dòng bùn bê tông tươi xám xịt và đặc quánh như một khối nham thạch lạnh buốt, sôi sục những bọt khí tanh nồng mùi xi măng công nghiệp, ầm ầm tuôn trào qua họng vòi rồng bọc thép. Áp lực cực lớn từ máy bơm trên mặt đất ép khối vữa lỏng xé toang cửa nắp cống, cuồn cuộn đổ xuống đáy khoang vòm gạch với sức công phá tựa thác lũ. Âm thanh rền rĩ, ục ục đè nghẹt màng nhĩ, hòa cùng tiếng gào thét mất hết nhân tính của Đặng Văn Khiêm vọng xuống từ miệng rãnh thu lôi, tạo nên một bản hòa âm chết chóc giữa lòng đất sâu.
Bụi vôi và mạt đá xanh bay mù mịt, táp rát bỏng vào mắt. Không khí trong căn buồng “Tâm thất” lập tức bị nén chặt, loãng dần và quánh đặc lại bởi hơi ẩm hóa chất độc hại.
“Chạy! Ngách này không qua được nữa rồi!” Khang thét lên, lồng ngực bỏng rát.
Anh không màng đến những giọt máu cam đang rỉ rả từ cánh mũi, vội vã xoay người, dùng trọn tấm lưng vững chãi của mình làm lá chắn, ôm ghì lấy Mai Linh cùng chiếc ống đồng niêm phong sáp đỏ vào lòng. Khối bùn bê tông đầu tiên đã tràn tới chân cột sắt đúc, l**m láp sàn đá hộc, chỉ chớp mắt nữa thôi sẽ dâng cao ngập đến thắt lưng và đông cứng vĩnh viễn mọi lối thoát.
“Khang, nhìn đằng kia!”
Giọng Linh lạc đi giữa tiếng gầm rú của dòng vữa lỏng, nhưng đôi mắt cô gái làm báo vẫn giữ được sự sắc sảo lạ thường ngay trước ranh giới tử thần. Ngón tay run rẩy của cô không chỉ về phía lối cũ đã bị bịt kín, mà nhắm thẳng vào vách đá xanh phía Tây Nam của buồng ngầm, nơi một luồng gió lạnh buốt mang theo mùi lá mục và ẩm ướt của rêu phong đang thổi tạt vào, làm lay động những vệt mạng nhện giăng mắc trên hốc tường.
“Rãnh tiêu áp phụ!” Khang giật mình nhận ra. Trực giác của một kiến trúc sư phục chế cùng sơ đồ kết cấu vừa hiện lên trong tâm trí mách bảo anh: một công trình vòm tiêu năng kiểu Đông Dương không bao giờ chỉ có một cửa xả khí duy nhất. Kiến trúc sư người Pháp năm 1912 cùng nhóm thợ mộc An Trạch xưa kia chắc chắn đã để lại một cửa thoát hiểm cân bằng áp lực, nối thẳng sang giếng trời kỹ thuật của Biệt thự số 3!
Một cửa vòm tròn nhỏ hẹp, đường kính chưa đầy sáu mươi phân, nằm khuất sau chân bệ đỡ van gang hình đầu rồng. Miệng lỗ vốn được che chắn bởi một tấm lưới sắt hoa văn uốn lượn đã hoen gỉ qua hơn một thế kỷ.
Bê tông tươi phía sau đã dâng lên ngập mắt cá chân, sức nặng ngàn cân bắt đầu chèn ép khiến các khớp xương chân Khang buốt nhói.
“Vào trước đi, Linh! Nhanh!”
Khang gầm lên một tiếng xé họng, dồn toàn bộ tàn lực vào đôi tay thô ráp đầy vết chai sẹo. Anh cầm chiếc xà beng ngắn nhặt dưới sàn, cắm phập vào gờ sắt mục rỗng của tấm lưới, gồng mình bẩy mạnh. Rắc! Khung sắt gỉ sét bung ra, vỡ vụn dưới sức nén cơ học. Không chần chừ một phần mười giây, Khang đẩy mạnh Linh vào trong đường ống gạch vồ hẹp thó, rồi lập tức trườn người theo sau.
Đúng khoảnh khắc gót giày của Khang vừa rút khỏi mép cửa vòm, một khối bê tông tươi nặng hàng tấn trút ụp xuống ngay vị trí họ vừa đứng. Tiếng rầm rung chuyển địa tầng hất văng những tảng vữa mật mía vụn nát, bắn tung tóe vào bắp chân anh. Bùn xám tràn mấp mé vào miệng rãnh gió rồi bị chặn lại bởi bức vách nghiêng đặc thù của hệ thống xả ngược.
Đường cống phụ tối đen như mực, ẩm ướt và chật hẹp đến mức lồng ngực hai người cọ sát liên tục vào lớp gạch vồ thô nhám. Từng tấc bò trườn là một tấc thịt da rát buốt. Linh cắn chặt môi đến bật máu để ngăn không phát ra tiếng r*n r* khi bả vai phải vừa khâu lại cọ vào thành cống nham nhở; chiếc túi máy ảnh được cô ghì chặt trước bụng, kiên quyết bảo vệ chiếc thẻ nhớ ghi lại tội ác của đám tay sai Thịnh Phát. Phía sau cô, Khang th* d*c từng cơn nặng nhọc, một tay chống đất trườn tới, một tay ôm khư khư chiếc ống đồng nặng trịch trước ngực như ôm lấy báu vật sinh mệnh.
Sau hơn mười mét nghẹt thở trong lòng đất tối tăm, luồng dưỡng khí lạnh buốt ùa vào khoang mũi. Ánh sáng mờ đục của buổi sớm mai chớm đông rọi xuống qua một nắp cống nan sắt phủ đầy dây leo hoa giun.
Khang rướn người, dùng vai đội tung nắp sắt hoen rỉ ken dày rác lá. Hai người lóp ngóp trườn lên, ngã nhoài ra bãi cỏ rậm rạp của khoảng sân sau Biệt thự số 3.
Màn sương sớm của phố Tràng Thi vẫn bảng lảng giăng mắc trên những tàng cây xà cừ cổ thụ. Phía góc sân Biệt thự số 2, tiếng động cơ xe bồn và máy bơm bê tông của Thịnh Phát vẫn đang ầm ầm gầm rú inh tai, nhưng sự chú ý của toàn bộ đám vệ sĩ mặc áo đen cùng Đặng Văn Khiêm đều dồn cả vào miệng rãnh cống phía Bắc. Khói dầu diesel quyện với hơi nước mịt mù tạo thành một bức màn ngụy trang hoàn hảo.
“Đi lối cổng ngách Chân Cầm!” Linh thì thầm, kéo Khang lách qua rặng cúc tần mọc dại men theo bức tường hoa đúc bằng xi măng xỉ.
Cả hai hòa vào dòng người lao động dậy sớm đi chợ hoa và những gánh hàng rong bảng lảng trong sương. Với bộ quần áo bảo hộ lao động lấm lem bùn đất, vôi vữa và vệt sáp đỏ lem luốc trên ngực áo Khang, họ trông không khác gì những người thợ nề vừa trải qua một ca trực đêm nhọc nhằn nơi công trường ngổn ngang của phố thị.
*
Sáu giờ mười lăm phút sáng, xưởng mộc của cụ Ba Luân nơi ngõ Giếng Chùa chìm trong bầu không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Cánh cửa gỗ bức bàn then cài then đẩy được chốt chặt ba lớp bên trong.
Bà Thục ngồi trên chiếc ghế mây thấp, hai bàn tay gầy gò đan chặt vào nhau, lần từng hạt chuỗi bồ đề sờn bóng, đôi môi mấp máy cầu nguyện không ngừng. Cụ Ba Luân đứng lặng bên bàn thợ, chiếc tẩu thuốc lào trên tay đã tắt lửa từ lâu nhưng cụ vẫn vô thức mân mê đóm đóm nứa. Mùi gỗ dạ hương ngâm nước và mùn cưa thông thoang thoảng trong gian nhà cổ bỗng bị khuấy động bởi tiếng gõ nhịp ba dài hai ngắn gấp gáp bên ngoài vách gỗ.
“Khang đấy! Cụ ơi, chúng nó về rồi!” Bà Thục bật dậy thảng thốt, chiếc khăn len mỏng trên vai rơi tuột xuống đất.
Cụ Ba Luân nhanh như cắt rút then cài, hé mở cánh cửa gỗ lim nặng nề. Hai bóng người lấm lem bùn đất trượt vội vào trong. Khang vừa bước qua ngưỡng cửa đã khụy một bên gối xuống nền gạch Bát Tràng, mồ hôi quyện với máu cam khô khốc bết dính trên khuôn mặt hốc hác, nhưng đôi mắt anh sáng quắc một ngọn lửa rực rỡ chưa từng thấy.
“Mẹ... Cụ Ba... Con lấy được rồi!” Khang th* d*c, hai bàn tay run rẩy nâng chiếc ống đồng dài hơn nửa mét lên trước mặt.
Lớp bùn đất bám ngoài vỏ kim loại không che giấu được ánh đồng đỏ trầm mặc của thời gian, nổi bật nhất là khối sáp ong niêm phong đỏ thẫm hình hoa sen tám cánh vẫn còn nguyên vẹn ở đầu nắp vặn ren.
Bà Thục òa khóc, ngồi sụp xuống ôm chầm lấy bả vai con trai. Bà vội vã lấy vạt áo bà ba lau đi những vệt bùn xám xịt trên trán Khang, đôi bàn tay run rẩy sờ nắn khắp người anh như muốn tin chắc đứa con duy nhất của mình vừa từ cõi chết trở về. Cụ Ba Luân lập tức chốt chặt cửa nắp, quay lại đỡ Linh ngồi xuống phản gỗ, cẩn thận đặt một bát nước gừng nóng pha đường phèn vào tay cô gái.
“Uống ngụm nước ấm cho hồi khí đã các con!” Cụ Ba Luân trầm giọng, đôi mắt già nua ngân ngấn nước nhưng giọng nói vẫn đanh thép giữ vững tinh thần cho cả gian phòng. “Thần hộ trì che chở, linh hồn thằng Minh đã dẫn đường cho các con vượt qua cửa tử!”
Khang gật đầu, hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim đang đập dồn dập. Cơn phản phệ của dị năng “Cảm thức Mộc Thạch” vẫn âm ỉ cắn xé các tế bào thần kinh nơi thái dương, nhưng ý chí sắt đá buộc anh phải tỉnh táo. Anh đặt chiếc ống đồng lên chiếc bàn thợ bằng gỗ nghiến phẳng phiu giữa xưởng.
Cụ Ba Luân bước vào gian trong, cung kính bưng ra chiếc “Hộp Mộng Cửu Khúc” bằng gỗ lim đen bóng đặt cạnh chiếc ống đồng. Tám chốt mộng gỗ tinh xảo đã được giải mã đêm qua vẫn nằm ở vị trí mở so le, chỉ còn duy nhất rãnh mộng thứ chín – một khe hẹp sắc ngọt bằng đồng thau nguyên chất – nằm im lìm khóa chặt nắp đáy bí mật của chiếc hộp.
“Khai phong đi, Khang!” Cụ Ba Luân đưa cho anh chiếc dao trổ mũi nhọn bằng thép trắng chuyên dùng tỉa hoa văn mộng. “Mười lăm năm rồi, đã đến lúc chân tướng phải được phơi bày dưới ánh mặt trời!”
Khang cầm lấy con dao trổ. Mũi dao sắc bén khẽ khàng lách qua khe hẹp giữa nắp ren và thân ống đồng, nhẹ nhàng bóc tách lớp sáp ong đỏ thẫm. Mùi sáp ong cổ truyền quyện với dầu tràm và hương hắc ín xông lên nồng đượm, một mùi hương ấm áp lưu giữ sự sống của mười lăm năm trước, hoàn toàn đối lập với mùi xi măng chết chóc ngoài công trường.
Két... kẹt...
Tiếng ren đồng xoay chuyển nặng nề sau hơn nửa thế kỷ chôn vùi trong bóng tối buồng ngầm. Nắp ống bật mở.
Khang cẩn thận dốc nhẹ đáy ống đồng.
Rơi ra đầu tiên trên mặt bàn gỗ nghiến không phải là giấy, mà là một chiếc thẻ bài bằng đồng đỏ nhỏ cỡ ngón tay cái, dẹt và dày dặn. Mặt trước thẻ khắc chìm hình hoa sen cách điệu cùng con số “1912”, mặt sau là một chuỗi răng cưa lồi lõm so le theo cấu trúc mộng thắt âm dương cực kỳ phức tạp.
“Chìa khóa chốt thứ chín!” Linh khẽ kêu lên, đặt vội bát nước gừng xuống bàn, ánh mắt ánh lên niềm hy vọng tột bực.
Khang cầm lấy chiếc thẻ đồng. Bàn tay anh không còn run rẩy nữa. Sự run rẩy của sợ hãi đã nhường chỗ cho sự chuẩn xác tuyệt đối của một nghệ nhân mộc truyền thừa. Anh đưa chiếc thẻ đồng áp sát vào rãnh mộng thứ chín của Hộp Mộng Cửu Khúc.
Cạnh!
Chiếc thẻ trượt khít khao vào rãnh hẹp như một mảnh ghép định mệnh của tạo hóa.
Khang đặt ngón tay cái lên đuôi thẻ, hít một hơi thật sâu, rồi ấn dứt khoát về phía trước.
Tách! Rắc! Ting!
Một chuỗi âm thanh cơ học giòn giã, trong trẻo như tiếng chuông gió bằng đồng vang lên liên hồi bên trong thân hộp gỗ lim. Hệ thống lò xo lá bằng đồng phosphor bung chốt, chín tầng mộng thắt tự động trượt ra theo hai hướng đối xứng. Đáy hộp bật mở ra một ngăn rỗng bí mật lót bằng lụa tơ tằm Hà Đông màu vàng úa.
Từ trong ống đồng và ngăn bí mật của chiếc hộp mộng, Khang cẩn trọng rút ra hai cuộn tài liệu được bọc kín trong ba lớp giấy dầu chống ẩm.
Từng lớp giấy dầu được bóc ra dưới ánh đèn sợi đốt vàng ấm áp của xưởng mộc.Một mùi hương đặc trưng phả vào không gian: mùi mực nho pha mật cá, mùi ẩm mốc nhẹ của sợi bông tự nhiên và hương thời gian cô đọng trên chất liệu giấy can (calque) hảo hạng thời Pháp thuộc.
Bản vẽ gốc hiện ra hoàn chỉnh, trải rộng khắp mặt bàn gỗ nghiến dài hai mét.
Đó là một bản vẽ phối cảnh kết cấu và mặt cắt địa tầng khổ lớn, vẽ tay hoàn toàn bằng mực ngòi sắt tinh xảo đến từng micromet, góc dưới bên phải mang con dấu đỏ thẫm của Nha Công chính Đông Dương năm 1912, bên cạnh là chữ ký phê chuẩn bằng mực tím của kiến trúc sư trưởng người Pháp Auguste Henri. Nhưng điều làm tim Khang thắt lại, nghẹn ngào đến rơi lệ, chính là những dòng ghi chú bổ sung bằng mực kim tinh màu xanh lục đậm, chữ viết tay nắn nót, rắn rỏi và quen thuộc đến từng nét móc: chữ viết của cha anh – Kiến trúc sư Trần Minh, ghi ngày 15 tháng 9 năm 2009!
Cùng với bản vẽ là một tập sổ tay bìa bọc da bò đã sờn rách bốn góc – cuốn nhật ký địa chất chi tiết dày hơn một trăm trang ghi lại toàn bộ quá trình khảo sát thực địa của Trần Minh cách đây mười lăm năm.
“Cha...” Khang khẽ gọi, đầu ngón tay lướt nhẹ trên từng nét vẽ mực xanh.
Dị năng trong huyết quản anh khẽ rung rinh, nhưng lần này không hề có cảm giác đau đớn hay ảo giác hỗn loạn. Một luồng hơi ấm dịu dàng, trầm tĩnh như bàn tay cha thuở ấu thơ đang vỗ về sau lưng anh, truyền vào lòng bàn tay anh sự vững chãi của những thớ gỗ lim ngàn năm không mục nát.
“Trời đất ơi... thằng Minh nó tính toán đến từng chân tơ kẽ tóc thế này ư!” Cụ Ba Luân cúi rạp người trên bản vẽ, đôi bàn tay thợ mộc gân guốc run run lần theo những đường kẻ hình học phức tạp.
Bản vẽ mặt cắt thể hiện rõ ràng toàn bộ bí mật kết cấu của Cụm Biệt thự Hoa Tiêu và mối liên kết hữu cơ với Đình An Trạch:
Dưới đáy móng của ba tòa biệt thự không phải là móng nông đơn lẻ như báo cáo gian lận của Đặng Văn Khiêm miêu tả, mà là một hệ thống “móng bè sống” đan cài bằng hàng vạn cọc gỗ lim xanh Thanh Hóa đường kính ba mươi phân, cắm sâu mười tám mét xuyên qua tầng bùn lầy, neo chặt vào tầng cuội sỏi chịu lực cổ xưa của lưu vực sông Hồng.
Gỗ lim được bảo quản hoàn hảo trong môi trường yếm khí ngập nước ngầm, qua hơn một thế kỷ không những không mục ruỗng mà đã hóa thạch, cứng như đá hoa cương!
Chưa dừng lại ở đó, bản vẽ của KTS Trần Minh đã bóc trần một phát kiến kiến trúc chấn động: Giữa Cụm Biệt thự Hoa Tiêu và cụm móng đình An Trạch được kết nối bằng một hệ thống vòm gạch vồ tiêu năng liên hoàn xây theo hình zíc-zắc cửu khúc. Hệ thống này hoạt động như một bộ giảm chấn thủy lực tự nhiên khổng lồ.
Khi có chấn động địa chất, rung chấn từ giao thông hiện đại hay sự thay đổi mực nước ngầm, các vòm gạch vồ và van gang “miệng rồng” sẽ tự động điều tiết phân tán tải trọng sang giếng ngọc đình An Trạch, triệt tiêu đến 95% lực xô ngang!
Khang lật giở cuốn nhật ký địa chất, dừng lại ở trang ghi chép ngày 28 tháng 10 năm 2009. Dưới ánh đèn, từng con số đo đạc tải trọng hiện lên rõ mòn mọt:
“Hệ mộng gỗ lim và vòm gạch tiêu năng Hoa Tiêu – An Trạch là một chỉnh thể cộng sinh hoàn hảo. Độ võng đàn hồi thực tế chỉ đạt 0,02%, sức chịu tải động lực học gấp 4,5 lần tiêu chuẩn công trình kiên cố cấp I hiện hành. Cảnh báo: Tuyệt đối không được phá vỡ một mắt xích nào trong cụm tam giác móng này. Nếu phá hủy Biệt thự Hoa Tiêu, sự mất cân bằng áp lực nước ngầm sẽ kích hoạt hiện tượng sụt lún dây chuyền, kéo sụp toàn bộ nền móng 200 năm của Đình An Trạch và đè bẹp tầng di chỉ thương cảng cổ thời Lý – Trần bên dưới. Hoàng Triệu Tuấn và đám người Thịnh Phát đang ép tôi ký biên bản hạ cấp công trình xuống Cấp D nguy hiểm. Tôi thà chết chứ dứt khoát không bán rẻ linh hồn kiến trúc sư và di sản của tiền nhân!”
“Chúng làm giả... Chúng đã làm giả toàn bộ số liệu!”
Linh nghẹn ngào thốt lên, đôi mắt cô rực sáng ngọn lửa căm phẫn tột cùng. Cô lập tức mở chiếc máy tính xách tay bảng phụ mang theo bên mình, lôi từ trong túi áo ra tập hồ sơ kiểm định của Viện Giám định do Đặng Văn Khiêm ký duyệt mà Khang đã sao chụp trước khi từ chức.
Đặt hai tài liệu cạnh nhau, sự thật tr*n tr** và bẩn thỉu phơi bày không thể chối cãi:
Khiêm và đám tay sai đã cố tình bỏ qua hoàn toàn hệ thống móng cọc lim hóa thạch và buồng tiêu năng ngầm. Chúng lấy mẫu bê tông phong hóa ở các lớp trát ngoài ban công để đánh đồng với kết cấu chịu lực chính; chúng dùng mũi khoan rút lõi phá hoại chân cột chịu lực để tạo ra các vết nứt nhân tạo, rồi lập luận ngụy biện rằng công trình “có nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào” nhằm cưỡng chế phá dỡ!
Bản vẽ gốc bằng giấy can thời Pháp cùng tập nhật ký hiện trường của KTS Trần Minh chính là bản án tử hình đối với mọi luận điệu dối trá của Tập đoàn Địa ốc Thịnh Phát. Nó không chỉ chứng minh Cụm Biệt thự Hoa Tiêu sừng sững bền vững qua hàng trăm năm nữa, mà còn là bằng chứng sắt đá tố cáo âm mưu phá hoại di sản có tổ chức, có hệ thống của một liên minh ma quỷ.
“Linh, bắt đầu đi!” Khang nhìn cô, giọng anh trầm tĩnh nhưng vang lên một uy lực đanh thép. “Thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa. Khiêm đã biết chúng ta đột nhập hầm ngầm, chúng sẽ đẩy nhanh tiến độ cưỡng chế ngay trong sáng nay!”
“Em hiểu!”
Mai Linh hít sâu một hơi, tác phong nhanh nhẹn và quyết đoán của một phóng viên điều tra dạn dày sương gió lập tức trở lại. Cô kéo chiếc đèn chụp thợ mộc của cụ Ba Luân lại gần, điều chỉnh góc sáng vàng ấm chiếu đều khắp mặt bàn gỗ nghiến, triệt tiêu mọi bóng đổ.
Từ chiếc túi máy ảnh, Linh lấy ra thân máy ảnh chuyên dụng cùng ống kính macro sắc nét. Cô cẩn thận gắn máy lên chiếc chân máy ba chạc, căn chỉnh thước thủy ngân thăng bằng tuyệt đối trên mặt phẳng bản vẽ.
Tách! Tách! Tách!
Từng khung hình độ phân giải cực cao lần lượt được thu lại: con dấu đỏ của Nha Công chính Đông Dương năm 1912, chữ ký của Auguste Henri, chữ ký bằng mực xanh của Trần Minh, toàn bộ bản vẽ chi tiết các khớp mộng thắt cửu khúc, từng trang nhật ký địa chất với tọa độ tầng di chỉ khảo cổ và số liệu đo đạc tải trọng thực tế.
Mười ngón tay Linh lướt thoăn thoắt trên bàn phím chiếc máy tính bảng. Cô thiết lập kết nối mạng mã hóa thông qua điểm phát sóng di động vệ tinh độc lập.
Từng tệp dữ liệu hình ảnh RAW dung lượng lớn kèm bài phóng sự điều tra chuyên sâu mang tựa đề: “Bản Can Thời Gian: Lời Thì Thầm Từ Lòng Đất Hoa Tiêu Và Âm Mưu Bóp Nghẹt Di Sản Của Địa Ốc Thịnh Phát” được cô hoàn thiện với những câu chữ sắc bén như lưỡi dao mổ xẻ sự thật.
“Đang tải lên máy chủ đám mây độc lập thứ nhất của Liên đoàn Báo chí Quốc tế...” Linh vừa nhìn thanh tiến trình màu xanh đang chạy, vừa lẩm nhẩm thông báo.
“Xong máy chủ thứ nhất! Tiếp tục phân tán bản sao mã hóa sang máy chủ lưu trữ dữ liệu tư pháp của Bộ Công an và hòm thư mật của đồng chí Trưởng ban Nội chính Trung ương!”
Khang đứng bên cạnh Linh, nhìn những dòng dữ liệu vô hình đang bay vào không gian số. Anh cảm nhận được một luồng sinh khí mới đang dâng trào mạnh mẽ. Mười lăm năm trước, cha anh đơn độc giữa vòng vây của quyền lực và tiền bạc, phải dùng cả tính mạng và chôn giấu bản vẽ dưới lòng đất lạnh giá để bảo toàn sự thật. Nhưng hôm nay, anh không còn đơn độc. Bên cạnh anh có Linh, có ngòi bút kiên cường của công lý, có cụ Ba Luân, có mẹ, và có cả hồn thiêng sông núi Thăng Long đang cuộn chảy trong từng mạch vữa, thớ gỗ ngàn đời.
“Sao lưu hoàn tất một trăm phần trăm trên cả ba máy chủ!” Linh thở phào một hơi dài, ngón tay run lên vì xúc động bấm nút gửi bản thông cáo báo chí khẩn cấp đến hơn năm mươi tòa soạn báo chính thống trên cả nước. “Bây giờ, dù Hoàng Triệu Tuấn có mua chuộc được bao nhiêu kẻ thoái hóa, hắn cũng không bao giờ có thể xóa sạch được sự thật này nữa!”
Bà Thục bưng lên một đĩa xôi nếp cái hoa vàng nghi ngút khói cùng ấm trà sen thơm ngát đặt lên góc bàn. Nhìn con trai và Linh đứng sát bên nhau, ánh mắt hai người trao nhau chan chứa sự thấu hiểu, chở che và tin cậy tuyệt đối sau hoạn nạn sinh tử, khóe mắt người mẹ già rưng rưng những giọt lệ nhẹ nhõm.
Khang bước tới bên Linh, khẽ chạm tay vào bàn tay đang run nhẹ của cô. Đầu ngón tay thô ráp của anh đan nhẹ vào những ngón tay mềm mại nhưng kiên định của người con gái làm báo. Linh không rút tay lại, cô ngước nhìn anh, nở một nụ cười rạng rỡ giữa những vệt bụi tro còn vương trên gò má.
“Cảm ơn anh, Khang. Cảm ơn vì đã không bỏ cuộc,” cô thì thầm, giọng nói trong veo như giọt sương mai.
“Là anh phải cảm ơn em,” Khang siết nhẹ bàn tay cô, ánh mắt ấm áp sâu thẳm. “Nếu không có em, những tiếng thì thầm dưới mái ngói rêu phong này có lẽ sẽ mãi mãi chìm vào quên lãng.”
Không khí trong xưởng mộc bỗng chùng xuống trong một khoảnh khắc bình yên hiếm hoi, ấm áp và thiêng liêng như một lời ước hẹn thầm kín giữa giông bão cuộc đời.
Thế nhưng, khoảnh khắc bình yên ngắn ngủi ấy đột ngột bị xé toạc thành từng mảnh vụn!
RẦM! RẦM! RẦM!
Tiếng đập cửa dữ dội như búa tạ nện thẳng vào cánh cửa gỗ bức bàn của xưởng mộc. Then cài rung lên bần bật, bụi mùn cưa trên xà ngang rụng lả tả xuống nền gạch.
“Cụ Ba ơi! Khang ơi! Mở cửa! Mở cửa cứu làng với!”
Tiếng gào thét thất thanh, lạc cả giọng của ông giáo Chu – một vị bô lão uy tín trong ban khánh tiết làng An Trạch – vang lên đầy kinh hoàng qua khe cửa.
Cụ Ba Luân biến sắc, lập tức lao ra giật chốt then cài. Cánh cửa vừa mở toang, ông giáo Chu đã ngã nhào vào trong, hơi thở đứt quãng, chiếc áo len thủng lỗ chỗ vì cành gai cào rách, khuôn mặt già nua tái mét không còn một giọt máu. Ông run rẩy túm chặt lấy hai bên vai Khang, vừa thở hổn hển vừa chỉ tay về phía cổng làng ngoài ngõ lớn:
“Nguy to rồi Khang ơi! Đoàn xe ủi của Thịnh Phát đã kéo về vây kín cổng đình rồi!”