Trụ trì đỏ bừng mặt mày. Chu Kỳ nghiêng đầu nhìn ông ta:
– Trụ trì có biết Thương thị, vợ của Vương Thập Nhị Lang trong làng họ Vương, cũng mất tích vào ngày mười lăm không?
Trụ trì lại tái mặt:
– Trương thị cũng mất tích sao? Lẽ nào… cô ta hẹn với Định Huệ rồi bỏ trốn rồi sao? Cái thứ nghiệt chướng này!
Một hòa thượng trung niên đứng cạnh vội vã chắp tay hành lễ với Chu Kỳ:
– Vị Định Huệ này chỉ đến ở tạm thôi chứ không phải là đệ tử của chùa chúng tôi. Chúng tôi cũng lờ mờ nhận ra cái tật háo sắc của hắn. Dạo trước, trụ trì đã răn dạy hắn rồi. Hắn hứa sẽ sửa đổi mới được cho ở lại. Trước đây, Thương thị cũng thường lui tới chùa chúng tôi. Nhưng bây giờ cô ta đã mang thai, theo tục lệ ở làng quê, phụ nữ có thai không vào chùa chiền vì sợ xung khắc gì đó, thế nên đã lâu lắm rồi Thương thị không lui tới nữa. Chuyện cô ta bị mất tích hay không, chúng tôi quả thực không biết.
Chu Kỳ nhìn vị hoà thượng kia, thầm nghĩ: “Miệng mồm leo lẻo gớm nhỉ. Cái tài chối bay chối biến này cũng sắp bì được với mấy vị quan lớn trong triều rồi.”
– Nhưng Vương Thập Nhị nói sáng sớm ngày rằm có người của chùa ông mang lộc quả đến nhà anh ta, sau đó Thương thị mới ra ngoài…
Vị hoà thượng trung niên cười trừ:
– Mấy thôn làng quanh đây, hễ ai từng đến chùa thắp hương cúng dường, chùa chúng tôi đều cho người mang lộc quả đến nhà biếu cả. Thí chủ cũng biết đấy, chẳng qua là vì mấy đồng tiền công quả mà thôi…
Chu Kỳ chẳng buồn đôi co với ông ta, xua tay nói:
– Thôi được rồi, cho vời người đã đi đưa lộc quả đến đây đi.
Trần Tiểu Lục bèn theo một nhà sư đi tìm người đã đưa lộc quả.
Chẳng bao lâu sau, Trần Tiểu Lục dẫn một chú tiểu chừng mười ba mười bốn, vẻ mặt khá thật thà đến. Chu Kỳ vừa sầm mặt chú tiểu đã sợ hãi, cuống quýt khai ra hết thảy:
– Định Huệ sư thúc bảo con mang giúp một món đồ cho vợ của Vương Thập Nhị Lang, khi trở về sẽ cho con ba mươi đồng.
Chú tiểu lí nhí nói nốt nửa câu sau, lại liếc mắt nhìn trụ trì và hoà thượng trung niên kia.
Trụ trì vẫn giữ vẻ mặt ủ dột đó, còn hoà thượng trung niên cũng bình tĩnh chẳng thay đổi.
Chu Kỳ hỏi:
– Món đồ gì?
– Sư thúc hái một cái lá trên cây ở trong sân, dùng ngón tay chấm nước bọt viết vài nét gì đó lên trên đó.
Trần Tiểu Lục hỏi:
– Viết cái gì?
Trụ trì và hoà thượng trung niên cũng đều nhíu mày tỏ vẻ khó hiểu.
– Con cũng đã hỏi thử Định Huệ sư thúc, sư thúc nói đó là “Phù chú vô sắc vô tướng”, chờ con lớn thêm một chút sẽ dạy cho con.
Trần Tiểu Lục thỉnh thoảng cũng theo chị cả đi làm đạo sĩ dỏm, đọc lướt đôi cuốn Đạo kinh kê dưới chân bàn, nên bùa chú của nhà Đạo thì cậu cũng kể tên được dăm ba loại, chứ bùa chú của nhà Phật thì mù tịt. Trần Tiểu Lục nhìn sang Chu Kỳ.
Liếc qua trụ trì và hoà thượng đang có vẻ mặt đầy hoang mang, Chu Kỳ khẽ nhếch mép cười:
– Phiền trụ trì niêm phong căn phòng của Định Huệ lại giúp cho.
Trụ trì vội vàng đáp lời.
Chu Kỳ bèn dẫn Trần Tiểu Lục đi ra. Thấy vẻ mặt vừa thản nhiên lại vừa quả quyết của nàng, Trần Tiểu Lục hỏi:
– Chị cả, bùa chú kia có nghĩa gì thế ạ? Chị còn rành cả bùa chú nhà Phật nữa á?
Chu Kỳ gật đầu tỉnh bơ.
Trần Tiểu Lục lại càng khâm phục Chu Kỳ hơn, thầm nghĩ: “Nhìn chị cả suốt ngày cà lơ, luôn mồm tự nhận mình bất tài vô dụng, ai ngờ lại hiểu biết rộng thế chứ…”
Trần Tiểu Lục thật lòng khen ngợi:
– Chị cả, chị cừ thật!
Chu Kỳ chắp tay sau lưng, “ừm” một tiếng rồi dẫn cậu ra sau chùa.
– Chị cả, bùa chú đó rốt cuộc có nghĩa gì thế ạ?
– Bùa chú đó có nghĩa là… hẹn gặp trong rừng.
Trần Tiểu Lục:
– …
Chu Kỳ hơi nghiêng đầu nhìn cậu. Trần Tiểu Lục bỗng hiểu ra, vẻ mặt vừa ấm ức vừa bực bội, thầm nghĩ: “Lại bị chị cả lừa rồi! Hoá ra mấu chốt là ở cái ‘lá cây’ kia!”
Chu Kỳ bật cười.
Chùa Tịnh Minh này nằm sát bìa làng, phía sau là một khu rừng cây ăn quả rộng lớn. Thương thị không thể vào chùa nên khu rừng này dĩ nhiên là một nơi lý tưởng. Chu Kỳ dắt Trần Tiểu Lục vào khu rừng xem xét kỹ lưỡng. Tuy đã là giữa mùa thu nhưng cỏ cây trong rừng vẫn còn tươi tốt.
Đi vào rừng một lát, Chu Kỳ bèn dừng lại. Chỗ này là ranh giới giữa vườn đào và vườn mơ, cỏ dại trong phạm vi sáu bảy thước xung quanh nơi này rạp xuống khá nhiều.
Trần Tiểu Lục hỏi:
– Vết này là do Định Huệ hoà thượng với Thương nương tử giẫm à?
Chu Kỳ ngồi xuống, vừa gật đầu lại vừa lắc đầu:
– Chắc là dấu vết của họ để lại. Cả khu này toàn là đào với mơ, có quả thì cũng hái xong từ đời nào rồi, dân làng giờ này chẳng ai ra đây làm việc cả. Cỏ mọc um tùm thế này, nếu là dấu vết cũ thì cũng đã xoá mờ từ lâu rồi. Nhưng cái này không thể gọi là “giẫm” được…
Chu Kỳ chỉ vào mấy bụi cỏ bị đè bẹp gí:
– Thân cỏ bị chà đến nát bét, còn đổ rạp về cùng một phía…
Trần Tiểu Lục vẫn chẳng hiểu mô tê gì.
Chu Kỳ đứng phắt dậy, siết chặt lấy cổ của cậu.
Trần Tiểu Lục vội đưa tay gỡ tay Chu Kỳ ra, hai chân đạp loạn xạ:
– Ối!
Chu Kỳ thả cậu ra.
Trần Tiểu Lục thở hổn hển, vẻ mặt vẫn chưa hết bàng hoàng:
– Chị cả, chị định thủ tiêu em đấy à!
Chu Kỳ chỉ vào vết giày của cậu. Trần Tiểu Lục trợn tròn mắt, lập tức hiểu ra ngay.
– Lẽ nào Định Huệ đã siết cổ Thương thị đến chết?
Chu Kỳ gật đầu, nhìn xung quanh một vòng:
– Có thể lắm.
– Bảo sao! Bỏ trốn với tình lang đời nào không đem theo tiền bạc chứ? Trước khi đi gặp Định Huệ, Thương thị còn cố ý chưng diện một phen, hộp trang sức còn chưa cài kỹ, đủ thấy chị ta coi trọng hắn thế nào. Chị ta còn đang mang thai, chắc chắn là muốn cùng gã hoà thượng kia tính chuyện dài lâu. Thế nhưng kẻ phong lưu như Định Huệ, sao lại chịu vì một cái cây mà bỏ cả cánh rừng được? Hai người hẳn đã xảy ra mâu thuẫn, thế là Định Huệ ra tay giết người. Giết người xong, tất nhiên hắn sợ hãi nên mới cuống cuồng bỏ trốn.
Chu Kỳ nhìn Trần Tiểu Lục:
– Khá đấy, Tiểu Lục.
Trần Tiểu Lục cười hì hì:
– Cũng phải xem là anh em của ai chứ.
“Chà! Tài nịnh nọt cũng lên tay rồi đấy!” Chu Kỳ gật đầu, vừa xem xét dấu vết trên cỏ, vừa đi sâu vào trong rừng:
– Cậu nói có lý đấy, nhưng nếu chị là Định Huệ thì vẫn phải quay về lấy tiền rồi mới chạy. Cho nên chuyện này… vẫn chưa thể nói chắc được.
Thấy có cơ hội, Trần Tiểu Lục vội khuyên:
– Chị cả, Tạ Thiếu khanh tốt với chị như thế, chị cũng cho người ta một câu trả lời dứt khoát đi chứ. Vừa nhìn đã biết Tạ Thiếu khanh là người chính trực, một khi đã yêu ai thì sẽ một lòng một dạ với người đó. Chị đã “chén sạch” người ta rồi còn không cho người ta một danh phận, đã thế còn không chịu buông tay, cứ dùng dằng mãi. Như vậy chẳng phải là… quá tệ bạc rồi hay sao?
Chu Kỳ nhướng mày, hỏi:
– Bé Lục, cậu biết nhiều quá rồi… không sợ chị thủ tiêu cậu ở đây hử?
Trần Tiểu Lục cực kỳ thức thời, ngậm miệng lại ngay, lầm bầm trong bụng: “Ma nữ! Tệ bạc! Đã vậy còn không cho người ta nói…”
Chu Kỳ đưa mắt nhìn quanh. Chỗ ban nay sở dĩ có dấu vết rõ ràng là vì họ đứng ở đó khá lâu, lại còn xô xát với nhau nên dấu vết mới rõ ràng như thế. Chứ nếu chỉ đi ngang qua, e là những dấu vết trên cỏ này khó mà nhận ra được.
Chẳng tìm ra dấu vết gì, Chu Kỳ chỉ đành đi sâu vào rừng xem sao, trong bụng thầm bực dọc: “Chén sạch rồi, chén sạch rồi… Chị đây cùng lắm chỉ tính là l**m mép bát thôi! Đã kịp nếm được mùi vị gì đâu.”
Đi thêm chừng ba mươi bước nữa, Trần Tiểu Lục và Chu ma nữ “có tiếng mà không có miếng” đều đồng loạt dừng bước lại. Trên mặt đất cách đó không xa có dấu vết đào xới! Đó là một khoảnh đất rộng chừng ba bốn thước, dài chừng bảy tám thước, đã được san phẳng lì. Kẻ nào đó còn cẩn thận xúc cỏ bên cạnh phủ lên trên. Nếu trời đổ mưa, cỏ mọc lên lại thì chẳng nhìn ra được gì nữa.
Thấy Chu Kỳ bới đất bằng tay không, Trần Tiểu Lục bèn hỏi:
– Hay là để em vào chùa mượn cái xẻng cho nhanh nhỉ?
– Không cần đâu, đất xốp mà.
Trần Tiểu Lục cũng ngồi xuống bới đất phụ nàng.
Xác chết bị chôn khá nông, phần lộ ra đầu tiên là một cái đầu trọc và một gương mặt khá tuấn tú. Người này là Định Huệ. Trần Tiểu Lục thì sững cả người, còn Chu Kỳ vẫn bình thản như không.
Sau khi lôi hẳn cái xác ra khỏi hố đất, Chu Kỳ bắt đầu xem xét tỉ mỉ. Hoà thượng Định Huệ này chết do bị siết cổ, nhưng vết hằn lại khác với vết siết bằng dây thừng thông thường. Phần trước cổ có một vết hằn rộng bảy tám phân, dài ba bốn tấc, làn da không bị trầy xước hay chảy máu, nhưng sờ thử thì thấy xương cổ đã bị gãy. Hung khí ắt hẳn là côn hoặc gậy.
Trần Tiểu Lục cũng ghé sát vào, hỏi:
– Côn hoặc gậy? Là bẻ cành cây làm hung khí à?
Chu Kỳ khẽ chau mày, lắc đầu nói:
– Không phải là cành cây. Vỏ cây sần sùi, nếu là thân cây thì làn da phải có chỗ bị trầy xước rớm máu chứ.
Chu Kỳ lại kiểm tra những nơi khác trên thi thể thì phát hiện dưới nách và cổ chân của nạn nhân có vết hằn do bị túm chặt, ngoài ra không có vết thương nào khác nữa. Chu Kỳ và Trần Tiểu Lục tìm kiếm xung quanh thêm một vòng nữa nhưng không phát hiện ra dấu vết đào bới nào cả.
Quay đầu nhìn những mái nhà cong vút của lầu gác ở ngoài cánh rừng, Chu Kỳ dặn dò Trần Tiểu Lục:
– Cậu ra ngoài cổng chùa dắt ngựa, lặng lẽ về thành tìm Tạ Thiếu khanh, báo cáo lại mọi chuyện ở đây nghe rồi nhờ ngài ấy đưa Ngỗ tác và lính bắt cướp giỏi võ công đến đây. Nhớ dặn dò bọn họ đừng vào làng, cũng đừng đi đường lớn, giấu ngựa cho kỹ rồi xuyên qua khu rừng này để tới thẳng đây luôn đi.
Trần Tiểu Lục nhận lệnh rời đi.
Sợ thú hoang trong rừng sẽ cắn xé thi thể của Định Huệ, Chu Kỳ cẩn thận vun đất lại, phủi sạch đất trên tay rồi đi đến lầu gác ở phía Tây khu rừng.
Khi đến gần cổng sau, Chu Kỳ liếc nhìn đài cao bên ngoài rồi đi ngược trở về. Nàng nhảy tót lên cành cây, thừ người nhìn thảm cỏ xanh và vạt đất vàng vừa mới chôn xác người kia.
Nơi này cách kinh thành chỉ tám chín dặm, mà Đại Lý Tự nằm ở phường Nghĩa Ninh vốn nằm sát cửa Khai Viễn ở phía Tây Bắc, vì thế chẳng mấy chốc đám người Tạ Dung chạy đến. Xác chết của Định Huệ lại bị đào lên lần nữa.
Ngô Hoài Nhân lau đi mồ hôi nhễ nhại trên trán sau khi đi bộ xuyên qua khu rừng, sau đó mới cẩn thận khám nghiệm thi thể. Chú với Chu Kỳ cũng có cùng kết luận: Định Huệ chết vì bị siết cổ bằng gậy. Hung thủ có đồng bọn, cả hai đã khiêng xác đến đây. Hơn nữa, dựa vào vết hoen tử thi và tình trạng co cứng của tử thi, có thể suy đoán Định Huệ đã chết được hai ngày hai đêm, tức là vào trưa ngày mười lăm.
– Hung khí không phải là cành cây, vì nếu là cành cây, nạn nhân hẳn sẽ có những vết trầy xước và rớm máu li ti. Cũng không phải là thiền trượng của hoà thượng, vì thiền trượng rất dày, ít nhất cũng phải hơn một tấc. Cán cuốc hay xẻng của nông dân thì càng không thể, vì chúng còn thô và dày hơn nhiều. Hung khí này vừa dày, vừa nhẵn, lại vừa dẻo dai, đủ để siết cổ nạn nhân…
Chu Kỳ ngẩng đầu nhìn về phía Tây. Nơi đó mái cong của tòa lầu vươn cao hơn hẳn những ngôi nhà xung quanh.
Tạ Dung nhìn theo nàng:
– Là cán của phất trần à?
Chu Kỳ gật đầu:
– Đó là quán Thuỵ Thanh. Ở sau đạo quán cũng có một cánh rừng giống như chùa Tịnh Minh này. Từ đây đi bộ sang đó khoảng chừng một dặm.
– Quán Thuỵ Thanh với chùa Tịnh Minh vốn đã có hiềm khích, nay Định Huệ tới thì giành mất kha khá khách hành hương của quán. Sáng hôm mười lăm, cả hoà thượng lẫn đạo sĩ đều đến nhà Vương Thập Nhị đưa lộc quả thì chạm mặt nhau. Có lẽ đạo sĩ đã trông thấy hoặc nghe lỏm được gì đó nên biết được cuộc hẹn giữa Định Huệ và Thương thị, hoặc có khi còn bám theo sau cũng nên.
Chu Kỳ nói tiếp:
– Nếu chỉ xét về mặt hiềm nghi, thực ra Vương Thập Nhị vẫn đáng ngờ hơn cả. Anh ta cao to vạm vỡ như thế, giết một người dong dỏng cao như Định Huệ thì dễ như trở bàn tay. Có điều, nếu anh ta muốn phi tang cái xác thì tự mình vác đi là được, đâu cần phải nhờ người khác khiêng cùng cho rách việc.
– Bàn đến đồng phạm cùng nhau làm chuyện tày đình như giết người này thì phải là người có quan hệ cực kỳ thân thiết, như người nhà chẳng hạn. Nhưng nhà họ Vương chỉ có một mụn con trai. Tuy anh ta tên là “Thập Nhị” nhưng thực ra là con thứ hai trong nhà, người anh cả đã chết yểu từ lâu rồi. Tìm được một người ngoài chịu “liều mạng vì mình” e là không dễ dàng gì. Vả lại, cái chuyện bản thân “bất lực” và vợ mình tằng tịu với hòa thượng xấu hổ như thế này, anh ta cũng chẳng muốn kể cho người khác biết đâu.
– Quan trọng nhất là nếu anh ta không báo quan thì chúng ta chẳng bao giờ đến đây điều tra cả. Anh ta chỉ cần viện cớ vợ mình bỏ nhà theo trai để lấp l**m chuyện này với nhà ngoại là xong. Mà cái kế “mượn giống” này do mẹ vợ anh ra bày ra, dùng cái cớ đó để lấp l**m cho qua chuyện thì đơn giản quá.
– Đương nhiên, Định Huệ vốn trăng hoa đa tình, biết đâu hắn vì vướng vào nợ tình mà rước vạ vào thân. Nhưng thôi, chuyện đó cứ tạm gác lại, giờ ta cứ giải quyết hết những nghi vấn trước mắt đã. Lý do đám đạo sĩ giết người vì tiền cúng dường nghe có vẻ chưa đủ thuyết phục, nhưng xét về hình dạng hung khí và việc cả thầy lẫn trò đám đạo sĩ đều cùng một giuộc, không thiếu kẻ giúp sức, tôi dám chắc rằng hung thủ chính là đám đạo sĩ này.
Nói đến đây, Chu Kỳ để lộ ra máu cờ bạc của mình. Nàng hỏi thêm:
– Chàng nghĩ sao?
Tạ Dung gật đầu:
– Tôi cũng cá là bọn họ làm.
Ngô Hoài Nhân nhìn về phía Tạ Dung, thầm nghĩ: “Tạ Thiếu khanh đây là đang ‘vợ hát chồng khen hay’đấy hả? Sao mới đó đã bị Chu Tướng quân dạy hư rồi…”
Tạ Dung nói:
– Chúng ta không tìm thấy thi thể của Thương thị ở đây, có lẽ bọn chúng không giết mà bắt chị ta đi rồi. Bọn chúng bắt cóc chị ta để làm gì?
Trần Tiểu Lục nói:
– Vương Thập Nhị nói Thương thị cũng từng đến đạo quán “cầu con”…
Trong đầu Trần Tiểu Lục chợt loé lên đủ loại tình tiết ghen tuông, điên cuồng vì tình trong tiểu thuyết.
Chu Kỳ định gõ đầu cậu nhưng nhìn bàn tay lấm bẩn của mình thì lại thôi:
– Nếu đúng là đám đạo sĩ bắt cóc Thương thị thì có lẽ bây giờ chị ta đang ở trong đạo quán. Chúng ta đến đó thăm dò thử xem.
Chu Kỳ nói ra chủ ý của mình.
Tạ Dung nói:
– Cũng được, dù sao chúng ta cũng không có bằng chứng xác thực nào cả.
Chu Kỳ lại “làm hỏng” thêm một chiếc khăn tay của Tạ Dung nữa mới tạm lau sạch tay. Sau đó, nàng quay lại căn dặn Tạ Dung:
– Chàng phải cẩn thận đấy, vết thương mới lành thôi, chàng đừng có khoe tài mà chi.
Chu Kỳ lại dặn La Khải và đám lính bắt cướp:
– Trông chừng chàng ấy nhé!
La Khải và đám lính bắt cướp chắp tay vâng dạ. Tạ Dung thì chỉ đành cười trừ.
Chu Kỳ cùng Trần Tiểu Lục ra khỏi rừng, men theo đường cái đi về phía Tây. Hai người đi chưa tới một dặm đã trông thấy quán Thuỵ Thanh. Cửa đạo quán đóng chặt. Trần Tiểu Lục bước đến gọi cửa.
Cửa đạo quán mở ra. Đạo sĩ trẻ tuổi vừa trông thấy Chu Kỳ mặc quan phục thì chần chờ một thoáng nhưng rồi cũng cất lời:
– Đạo quán chúng tôi đang sửa sang lại nhà cửa, sơn phết lại tượng thần, thí chủ ít hôm nữa hãy quay lại nhé.
Chu Kỳ cười nói:
– Tôi là người của quan phủ, đến đây để điều tra án. Tôi chỉ muốn hỏi quán chủ mấy câu thôi. Tượng thần sơn xong hay chưa cũng không hề gì.
– Thí chủ vui lòng chờ một lát, để tôi vào bẩm với quán chủ một tiếng đã.
Đoạn, đạo sĩ đóng sập cửa lại.
Chẳng mấy chốc đã nghe tiếng bước chân vọng ra từ bên trong. Cửa lớn mở toang. Mấy đạo sĩ bước ra đón. Người đi đầu là một đạo sĩ bốn năm mươi tuổi, tướng mạo bình thường nhưng vóc người cao lớn, sải bước cực dài. Chu Kỳ đoán có lẽ ông ta biết võ.
Đạo sĩ già vái chào:
– Bần đạo là Huyền Thành, xin chào thí chủ.
Chu Kỳ cũng vội vàng đáp lễ, khách sáo mấy câu rồi nói chuyện vợ của Vương Thập Nhị là Thương thị đã mất tích. Vì chị ta sùng Phật, tin Đạo, hay lui tới đạo quán nên họ mới đến đây hỏi thăm, xin lỗi đã làm phiền đạo trưởng tu hành…
Huyền Thành tươi cười, mời Chu Kỳ vào trong đạo quán:
– À, bần đạo biết vị Thương thí chủ này. Trước đây cô ấy thường đến đây để cầu phúc xin con.
Chu Kỳ nói:
– Cô ấy được Thiên Tôn phù hộ, cầu được ước thấy, tháng sau là đến kỳ sinh nở rồi. Ai ngờ lại đột nhiên mất tích như vậy.
Huyền Thành nhíu mày:
– Hả?
– Hôm mười lăm tháng Tám các ngài còn đi biếu lộc quả cho chị ấy nữa mà.
Sau khi đến gian chính ngồi xuống, Huyền Thanh sai người cho gọi đạo sĩ đã đi biếu lộc quả rồi sai người khác dâng trà lên. Một lát sau, một đạo sĩ chừng hai mươi tuổi bước vào, vái chào Huyền Thanh và Chu Kỳ.
Huyền Thanh giới thiệu:
– Đây là Đức Hiền. Quý nhân có gì xin cứ hỏi tự nhiên.
Chu Kỳ bèn hỏi Đức Hiền về chuyện chạm mặt với hoà thượng chùa Tịnh Minh, sau khi khi nhận lộc quả thì vẻ mặt của Thương thị có gì khác thường không, ngoài lộc quả ra thì hoà thượng kia có đưa gì khác cho Thương thị không.
Vị Đức Hiền này kín miệng hơn hẳn hoà thượng của chùa Tịnh Minh, hỏi gì cũng chỉ đáp “không”, bảo mình không thấy vẻ mặt của Thương thị có gì khác thường, cũng không thấy hai người họ trao nhận thứ gì ngoài lộc quả cả.
Chu Kỳ thất vọng thở dài. Huyền Thành vẫy tay, Đức Hiền chắp tay vái chào rồi lui ra.
Huyền Thành hỏi:
– Nghe thí chủ nói vậy, chẳng lẽ chuyện Thương thí chủ mất tích lại liên quan đến chùa Tịnh Minh bên đó sao?
Chu Kỳ gật đầu, khẽ hạ giọng đáp:
– Thương nương tử này e là đã bị một hoà thượng ở nhờ trong chùa bắt cóc… thậm chí là đã bị giết rồi.
Huyền Thành cả kinh:
– Đã là người xuất gia sao lại tàn ác như thế?
Chu Kỳ gật đầu:
– Hai người họ mất tích cùng một lúc, còn không mang theo một đồng lộ phí nào, không giống hẹn nhau bỏ trốn cho lắm. Tôi e là họ đã gặp chuyện gì bất trắc rồi.
Huyền Thành lắc đầu:
– Bần đạo vẫn không tài nào tin nổi một người xuất gia lại ác độc như thế. Bần đạo cũng có nghe nói đến vị hoà thượng ở chùa Tịnh Minh kia. Nếu nói là bỏ trốn vì tình thì còn tin được chứ hắn đời nào lại gây ra vụ giết người nghiêm trọng như thế…
Chu Kỳ thở dài:
– Đợi lát nữa người bên tôi đến đông đủ sẽ bắt đầu tìm kiếm kỹ khu vực này như nhà hoang, rừng cây,… Nếu tra xét một lượt mà vẫn không tìm thấy thì cũng chỉ còn cách kết luận là họ đã bỏ trốn với nhau rồi kết án thôi. Có điều tôi thấy chuyện này vẫn còn nhiều uẩn khúc.
Huyền Thành gật đầu, đưa mắt nhìn đệ tử đứng hầu bên cạnh.
Chu Kỳ lại hỏi Huyền Thành xem ông ta có biết thêm chuyện gì khác về chùa Tịnh Minh và hoà thượng Định Huệ không, rồi hỏi cả chuyện về Vương Thập Nhị Lang nữa. Huyền Thành chỉ đáp lại đôi câu: chùa Tịnh Minh cũng là nơi tử tế, trụ trì tuy chẳng phải là bậc cao tăng nhưng là người phúc hậu, Định Huệ thì nghe đồn là “có tiếng phong lưu”, còn Vương Thập Nhị Lang là người thật thà, hiền hậu.
Chu Kỳ gật đầu, hỏi thêm mấy câu nữa, cảm tạ Huyền Thành rồi đứng dậy cáo từ. Huyền Thành tiền nàng ra ngoài. Lúc đi ngang qua đại điện, Chu Kỳ cười nói:
– Đã đến đạo quán rồi mà cứ thế ra về thì bất kính với Thiên Tôn quá, thôi để tôi vào thắp một nén hương đã.
Huyền Thành mỉm cười rồi đi theo cùng.
Thắp hương xong, Chu Kỳ ngắm nghía pho tượng Tam Thanh rồi nói:
– Các ngài vẫn chưa bắt đầu tu sửa đại điện ạ? Cũng đến lúc phết sơn lại một lượt rồi. Lớp sơn ở giữa phần vai của pho tượng này đã bong tróc cả rồi. Mặc dù linh thiêng hay không cũng chả phụ thuộc vào pho tượng, nhưng người đời thường “trông mặt mà bắt hình dong” rồi dùng cái nhìn đó với cả Thần Phật. Có nhiều người hễ thấy tượng thần không tráng lệ, uy nghi thì lòng kính ngưỡng, đức tin cũng vơi đi mấy phần.
Huyền Thành niệm một tiếng Đạo hiệu rồi mỉm cười nói:
– Thí chủ nói chí phải. Cũng vì lẽ đó mà lần này chúng tôi mới phải phết dầu, sơn son lại một phen đấy chứ, sao mà để cho tượng các Ngài sơ sài, cũ kỹ quá được. Rồi nhân tiện đó cũng sửa sang lại mái ngói với gạch nền luôn.
– Thế bao giờ các ngài mới mở cửa đón khách hành hương trở lại?
– Chắc cũng phải sang giữa tháng Chín.
– Quý đạo quán chắc cũng lâu năm rồi nhỉ?
– Vâng, đã hơn hai chục năm rồi.
– Chắc đạo trưởng là người xây dựng nên đạo quán này nhỉ?
– Dạ không phải đâu, người xây dựng đạo quán này là sư huynh Huyền Minh của bần đạo. Sư huynh đã về cõi tiên được bảy tám năm rồi. Sau đó bần đạo mới trông coi nơi này.
Chu Kỳ gật đầu rồi hỏi:
– Thế chùa Tịnh Minh bên kia thì được xây dựng từ bao giờ?
Huyền Thành cười đáp:
– Lâu lắm rồi, cũng phải năm sáu chục năm rồi cơ.
Chu Kỳ đang định tán gẫu thêm mấy câu thì đột nhiên nghe được tiếng quát của đám lính bắt cướp:
– Tất cả đứng im! Quan phủ đang phá án. Kẻ nào dám manh động, chém!
Huyền Thanh biến sắc mặt. Trước khi ông ta kịp phản ứng lại, Chu Kỳ đã vung đao chém tới. Huyền Thanh vợi giơ phất trần lên đỡ lại. Một tiếng “keng” vang lên. Thì ra cây phất trần của ông ta lại được đúc bằng đồng sắt. Lưỡi đao của Chu Kỳ bị mẻ một miếng, còn cây phất trần của ông ta thì suýt bị chém gãy.
Chu Kỳ cười khà khà, vung đao chém thêm một nhát nữa. Huyền Thành tức khắc lăn một vòng dưới đất để né đi, đồng thời rút con dao găm giấu trong giày ra. Đúng lúc ấy, một bóng hình quen thuộc xuất hiện trước cửa đại điện. Chu Kỳ thở phào nhẹ nhõm, thanh đao trong tay chém ra càng thoải mái hơn. Hai người giao đấu với nhau mười mấy hiệp. Cuối cùng kẻ già đời chẳng địch lại được người trẻ tuổi mặt dày, Chu Kỳ đã gí đao vào cổ của Huyền Thành.
– Hết chương 124 –