Kinh Hoa Trú Dạ - Bánh Anh Đào

Chương 123: Thổ mộc tương ngộ, mộng hư vô (2)

– Lộc cúng của đạo sĩ và hoà thượng chỉ dành cho tín đồ. Nhà anh vừa đến đạo quán lại vừa đến chùa chiền là để cầu cho mẹ ông tai qua nạn khỏi, hay là…?

Trong nhà này chẳng có vẻ gì là có trẻ con, người đàn ông này cũng lớn tuổi rồi… Quả nhiên, Vương Thập Nhị im lặng một lúc rồi nói:

– Đến chùa chiền, đạo quán đều là để cầu con.

Chu Kỳ gật đầu. Gương mặt đen sạm của người đàn ông dường như càng đỏ hơn, anh ta cúi đầu nói:

– Số tôi hiếm muộn. Tôi với vợ trước cưới nhau bốn năm năm mà không có con. Sau đó, nàng ấy lâm bệnh qua đời. Tôi đi bước nữa với người vợ bây giờ, về ở với nhau hai năm rồi mà vẫn chưa có tin vui.

Chu Kỳ gật đầu chờ anh ta kể tiếp.

– Nhà tôi cũng sốt ruột, mẹ vợ tôi thấy vậy bèn bày kế là đi cầu thần bái phật… Vốn tôi cũng không tin… Nhưng mẹ tôi già cả rồi, anh tôi lại mất sớm, nhà tôi thế hệ này chỉ còn lại mình tôi mà thôi. Nếu tôi không có lấy mụn con nối dõi, mẹ tôi có chết cũng không yên lòng. Thế là tôi… Dù sao thì nhà tôi cũng mang thai rồi.

Vương Thập Nhị kể chuyện ngập ngừng đứt quãng, nhưng Chu Kỳ là người rành rẽ các truyền thuyết dân gian, đã thấy quá nhiều chuyện khuất tất mờ ám nên nàng hiểu ngay tắp lự. Nói là cầu thần bái phật nhưng e là đến chùa chiền, đạo quán để “mượn giống” rồi. Cái kiểu “gian tình sinh án mạng” này…

Chu Kỳ lại quan sát người đàn ông vạm vỡ này một lượt:

– Vậy anh có biết là “Phật Tổ Bồ Tát” hay “Thiên Tôn Thần Quân” linh nghiệm hơn không?

Vương Thập Nhị ngẩng lên nhìn Chu Kỳ. Chu Kỳ cũng nhìn thẳng vào anh ta. Anh ta lại cúi gằm mặt, hai tay bưng mặt một lúc lâu mới rầu rĩ nói:

– Tôi không biết. Mà biết để làm gì cơ chứ?

Chu Kỳ nói:

– Nếu vợ anh không xảy ra chuyện gì, thì biết mấy chuyện này cũng chẳng để làm gì, cứ sống hồ đồ qua ngày cũng chẳng sao. Nhưng giờ đây, tốt nhất là nên biết rõ mọi chuyện một chút.

– Là đạo sĩ… đạo sĩ thì phải? Tôi hỏi nhà tôi mấy lần, lần nào nàng cũng nói là đến quán Thuỵ Thanh.

– Vương lang quân có vẻ hơi do dự thì phải…

– Mấy năm nay, chùa Tịnh Minh trở nên vắng vẻ hơn hẳn đạo quán Thuỵ Thanh ở gần đó. Mãi đến năm ngoái, khi một vị hòa thượng pháp danh Định Huệ có tướng mạo ưa nhìn tới chùa thì các nương tử, tiểu nương tử trong làng mới lui tới chùa thắp hương nhiều hơn. Tôi đã hỏi nhà tôi về chuyện này, nhưng nàng vẫn một mực phủ nhận.

Chu Kỳ hỏi thêm vài câu rồi bảo Vương Thập Nhị dẫn mình đến buồng ngủ của hai người.

Buồng ngủ trông khá sạch sẽ ngăn nắp, chỉ có chăn gối vẫn chưa được thu dọn. Màn giường đã được vén lên và buộc gọn gàng, thậm chí còn thắt nơ bướm. Xem ra mấy hôm nay, Vương Thập Nhị Lang chỉ ngủ vật vờ, đến cả màn giường cũng không buồn thả xuống.

Chu Kỳ đứng ở mép giường, nhìn túi thơm treo trong giường:

– Đây là…

Bên trong có mấy viên tro hương, nghe nói là xin từ đạo quán về, có tác dụng an thần lại có thể an thai, gì cũng đủ cả.

Chu Kỳ cởi túi thơm xuống, đưa lên mũi ngửi thử rồi mở ra xem. Nàng không treo lại chỗ cũ mà đưa cho Trần Tiểu Lục:

– Thứ này coi như vật chứng, bọn ta mang đi.

Vương Thập Nhị tái mặt:

– Vật… vật chứng gì cơ? Lẽ nào đúng là đám đạo sĩ đó?

Chu Kỳ không đáp, rời khỏi giường bước đến chiếc bàn đặt sát cửa sổ. Trên bàn có một chiếc gương đồng nhỏ, bên cạnh là một hộp trang điểm không đậy kín mà để lộ ra một phần đầu trâm. Chu Kỳ mở hộp ra xem rồi đậy nắp chặt lại, đưa mắt nhìn lướt qua hai bộ xiêm y vải gai mặc thường ngày vắt hờ hững trên giá áo rồi dừng lại trên chiếc rương đặt nơi góc tường.

Chu Kỳ bước tới trước chiếc rương, mở nắp lên xem. Bên trong là mấy bộ y phục, trên cùng đặt một túi tiền, y phục có dấu vết bị lục qua nhưng không đến nỗi bừa bộn. Chu Kỳ quay lại hỏi:

– Nơi này là do Vương lang quân tìm kiếm phải không? Tiền trong túi là tài sản riêng của vợ anh phải không? Có vơi đi chút nào không? Lúc đi, cô ấy có mang theo tiền không?

– Là tôi lục tìm đấy ạ. – Vương Thập Nhị cúi đầu đáp. – Đó là tiền áp đáy rương* trong hồi môn của nhà tôi. Túi tiền tùy thân của nàng chỉ có chút đỉnh thôi, cũng chả được bao nhiêu cả.

*

Nguyên văn “压箱钱” (áp tương tiền): là một nghi thức cưới hỏi đặc biệt trong phong tục của Trung Quốc thời xưa. Sau khi nhà trai trao sính lễ và tiền hỏi cưới, nhà gái sẽ chuẩn bị một khoản tiền riêng, kín đáo đặt vào đáy rương đồ hồi môn của con gái. Thời xưa, các bà mẹ thường chuẩn bị khoản “tiền cứu mạng” này cho con gái mình, phòng khi gặp hoạn nạn hay phải sống đơn độc có cái mà dùng. Đến ngày thành hôn, cô dâu sẽ mang tiền áp đáy rương này bước vào nhà chồng. Bởi theo quan niệm truyền thống của Trung Quốc, đây là một dấu hiệu tốt lành, tượng trưng cho việc hai vợ chồng son đã có của ăn của để trước khi về chung một nhà (Tham khảo Baidu).

– Anh đã xem hộp trang sức chưa? Vợ anh có mang theo trang sức gì đáng giá không?

Vương Thập Nhị lắc đầu:

– Không có. Nhà tôi chỉ có hai cây trâm bạc ngày nào cũng cài, ngoài ra không còn gì khác cả.

Chu Kỳ gật đầu, đưa mắt nhìn khắp phòng thêm một lượt nữa rồi mới dẫn Trần Tiểu Lục ra ngoài.

Vương Thập Nhị lại hỏi:

– Quý nhân, nhà tôi mất tích, rốt cuộc là…

– Chớ vội, bọn ta sẽ tìm thử xem. Trước đó anh đã tới mấy ngôi chùa, đạo quán quanh đây hỏi thăm chưa?

Vương Thập Nhị cúi gằm mặt:

– Dạ chưa.

Sợ mất mặt sao? Chu Kỳ liếc gã đàn ông vạm vỡ rồi bước ra ngoài. Vừa ra khỏi cửa nhà họ Vương, Trần Tiểu Lục bèn lôi túi thơm ra ngửi lần nữa:

– Thứ này có gì lạ chứ?

– Cậu không ngửi thấy mùi đàn hương à?

Trần Tiểu Lục lại đưa lên mũi ngửi thử:

– Đúng là hơi có mùi đàn hương thật. Thì sao ạ?

Chu Kỳ lườm cậu:

– Uổng công hai năm nay giả làm đạo sĩ rồi. Cậu không biết Đạo gia không dùng đàn hương hả? Hòa thượng mới hay dùng mấy thứ này.

– Đâu có chị cả. Đám hoà thượng, đạo sĩ trên phố ở chợ Đông có câu nệ gì đâu ạ? Lúc họ làm lễ “mời Thần”, “tiễn Thánh”, trong lư hương đốt hương gì mà chẳng được. Em còn từng thấy họ mượn lư hương của nhau xài nữa là.

Chu Kỳ:

– … Học theo bọn họ làm gì? Trong Đạo kinh có chép rằng cấm đốt đàn hương, “kẻ nào làm trái, người nhà ba đời bị vạ lây, bản thân gặp tai ương, đạo sĩ làm phép bị giảm thọ ba năm*”, cậu chưa đọc đoạn này à?

*

Chú thích của tác giả: Đạo kinh mà Chu Kỳ nhắc tới là quyển “Thái Thượng hỗn động xích văn nữ thanh thiên luật”. Về việc đạo sĩ không được đốt đàn hương thì có nhiều giải thích khác nhau. Bộ truyện này là bối cảnh giả tưởng nên mọi người đừng soi kỹ quá nhé.

– … Chẳng phải mấy quyển Đạo kinh của chúng ta đều dùng để kê chân bàn với đựng vỏ hạt thông, hạt dẻ thôi sao? – Trần Tiểu Lục trợn mắt. – Chị cả, chị cứ đụng tới sách là ngủ gật. Hoá ra trước khi ngủ cũng ngấm được mấy chữ hả?

Chu Kỳ giơ tay gõ đầu cậu nhóc Trần Tiểu Lục:

– Chỉ có cậu là lắm mồm thôi! Về chép Đạo kinh cho chị!

Nàng thầm nghĩ: “Cái đám nhóc này… điều hay thì không học, thói xấu thì bắt chước nhanh đáo để. Chỉ toàn học theo ta cái thói đọc sách ngủ gật, lười biếng bất tài thôi, sao không học ta đánh nhau, trèo tường, leo cây cho giỏi vào?”

Trần Tiểu Lục bĩu môi nhưng cuối cùng cũng đành ấm ức vâng dạ rồi lại hỏi:

– Thế ra đây là đồ của hoà thượng chứ không phải đạo sĩ cho à. Chắc là của vị hoà thượng tuấn tú đó phải không?

Chu Kỳ gật đầu:

– Có thể lắm. Hộp trang sức của Thương thị không được đậy kín, hở cả đầu trâm đồng ra ngoài. Vương Thập Nhị nói anh ta không hề mở hộp ra, anh ta chẳng việc gì phải nói dối chuyện vặt vãnh này cả, vậy chắc chắn là do Thương thị sơ ý. Một người vốn gọn gàng, sạch sẽ như Thương thị lại đậy hộp qua loa như thế… Thêm cả bộ đồ thay ra vắt trên sào kia nữa. Chị ta bảo chỉ ra cửa hóng gió rõ ràng là nói dối, e là vốn đã định ra ngoài để hẹn hò với tình lang.

– Chị ta bỏ trốn với tên hòa thượng kia à? – Trần Tiểu Lục vừa dứt lời đã tự lắc đầu. – Chị ta không mang tiền theo. E rằng Vương Thập Nhị cũng nghi ngờ vợ mình bỏ trốn với kẻ khác nên mới kiểm tra túi tiền.

Chu Kỳ đáp:

– Có bỏ trốn hay không, cứ tới đó xem xét rồi nói sau.

Chùa Tịnh Minh nằm ở ngoài rìa phía Tây Bắc của làng họ Vương, không lớn lắm, chỉ là một ngôi chùa làng hai gian thường gặp.

Thấy Chu Kỳ ăn mặc y phục của võ quan, người tiếp khách không dám qua loa mà đi mời ngay trụ trì ra tiếp đón. Trụ trì là một vị hoà thượng khoảng năm sáu mươi tuổi, tướng mạo chẳng có vẻ gì là cao tăng cả. Nếu cởi xuống áo cà sa, mặc lên y phục của người bình thường thì trông chẳng khác nào một ông lão bình dị hay gặp ngoài đường.

Chu Kỳ lên tiếng hỏi:

– Nghe nói năm trước quý tự có một sư thầy pháp danh Định Huệ mới tới phải không? Chẳng hay bổn quan có thể gặp ngài ấy một lát không?

Trụ trì hỏi:

– A di đà phật, Định Huệ đã rời chùa từ hôm rằm tháng Tám, tới giờ vẫn chưa thấy về.

– Nếu vậy phiền trụ trì dẫn bọn ta đến phòng của thầy ấy xem thử đi.

Trụ trì nào dám nói không bèn tự mình dẫn Chu Kỳ đến nơi ở của Định Huệ. Định Huệ ở dãy nhà ngang phía Tây ở sân sau. Trong sân có năm gian phòng, phòng của thầy ấy nằm ngay chính giữa ở phía Bắc.

Bước vào trong, gian phòng chỉ có một chiếc giường treo một tấm rèm màu xanh. Cạnh cửa sổ kê một chiếc bàn nhỏ. Trên bàn bày biện bút mực, mấy quyển sách kinh, chén trà, đèn nến. Dưới bàn là đệm hương bồ. Ngoài ra không còn vật gì khác nữa, trông hệt như một gian phòng của nhà sư hết sức bình thường.

Chu Kỳ vốn là chuyên gia lục soát. Nàng vén rèm giường lên, kéo một chiếc rương từ dưới gầm giường ra như đã biết hết mọi việc vậy.

Mở rương ra, ngoài mấy bộ áo quần, mũ mão của nhà sư ra, bên trong toàn là xiêm y xanh đỏ đủ màu của phụ nữ. Ở một góc rương có một tấm chứng nhận tu sĩ* và một túi tiền trông khá nặng. Khi mở ra xem, túi tiền có tới năm sáu vạn đồng. Cạnh đó còn có mấy chiếc túi gấm, chiếc thêu uyên ương nghịch nước, chiếc thêu bươm bướm vờn hoa. Những chiếc túi này đựng nhiều thứ lạ lùng như tóc, móng tay, riêng một chiếc thì đựng một đôi hoa tai.

*

Nguyên văn “度牒” (độ điệp): Giấy chứng nhận do nhà nước phong kiến Trung Quốc cấp cho tăng ni khi họ xuất gia.

– Hết chương 123 –