Gả Xuân Quang - Đào Tô Tử

Chương 137

Trở về tẩm cung, Hoắc Tranh lấy cặp tượng đất nung của Châu Tân Nghi từ trong mật thất ra, xót xa v**t v*: "Nghi Nương, ta ước gì có nàng ở bên cạnh, cùng ta nuôi nấng đôi nam nữ này. Ta mệt mỏi quá rồi."

Sau cơn bão lớn, bầu trời u ám lại nhường chỗ cho khoảng không xanh thẳm, nắng vàng rực rỡ.

Hoắc Tranh cứ ngỡ Hoắc Lan Quân sẽ ngoan ngoãn thu mình lại. Nào ngờ nàng ta lại tiếp tục gây ra những tội ác tày trời, vướng vào những vụ án sai trái pháp luật, oan uổng người vô tội. Lần này, không biết có phải do Văn Thục và phe cánh của Tam hoàng t.ử đứng sau thao túng hay không, mà sự việc càng lúc càng vượt ngoài tầm kiểm soát, Hoắc Tranh đã không thể nào bao che được nữa.

Bất đắc dĩ, Hoắc Tranh đành phải hạ lệnh giam lỏng Hoắc Lan Quân vào ngục của Hoàng Thành Ty, đồng thời âm thầm phái thân tín bảo vệ nghiêm ngặt sự an toàn cho nàng ta.

Trở lại tẩm cung, ngài nhẹ nhàng v**t v* tờ hôn thú đã sờn cũ cất giấu trong mật thất.

Năm đó nghèo khó, chẳng có đủ tiền mua loại giấy tốt, đây là xấp giấy Tuyên Thành ngài đổi được từ việc giải câu đố chữ cho người ta.

Giấy đã ố vàng, vương mùi ẩm mốc đặc trưng của những đồ vật bị cất giữ quá lâu trong không gian kín.

Ngón tay Hoắc Tranh khẽ chạm vào cái tên Châu Tân Nghi.

"Nghi Nương, có phải ta đã phải gánh chịu quả báo cho việc bội ước không? Nhưng Ni Ni là đứa con gái duy nhất của chúng ta, dẫu nó có kiêu ngạo, ngỗ ngược đến đâu, ta cũng phải bảo vệ nó bằng mọi giá."

Lần này, ngài lại một lần nữa ra tay cứu Hoắc Lan Quân, đổ hết mọi bằng chứng phạm tội lên đầu một kẻ c.h.ế.t thay.

Ngày được thả ra, Hoắc Lan Quân đến điện khóc lóc tạ ơn: "Phụ hoàng, nhi thần ở trong ngục khổ sở lắm."

Khổ sở cái gì chứ? Ngày nào ngài chẳng ra lệnh dâng lên những mâm sơn hào hải vị, phái thân tín canh gác cẩn mật bảo vệ nàng ta. Nàng ta ở trong ngục vẫn thong dong uống rượu, thưởng nhạc, khổ sở cái nỗi gì?

Hoắc Tranh cảm thấy kiệt sức vô cùng. Ngài đã bước sang tuổi bốn mươi hai, không còn cái bầu nhiệt huyết, sục sôi của tuổi trẻ cường tráng nữa. Thậm chí cả hỉ nộ ái ố, ngài cũng chẳng thiết tha thể hiện.

Ngài chỉ nhạt giọng nói với Hoắc Lan Quân: "Đây là lần cuối cùng."

Và đó quả thực là lần cuối cùng.

Hoắc Lan Quân bỗng nhiên trúng độc nặng ngay trong tẩm cung của mình. Ám vệ vội vã đến báo tin nàng ta thổ huyết liên tục, e rằng đã hết hy vọng cứu chữa.

"Nô tài tuy đã điểm huyệt đạo cho Trưởng công chúa, cũng đã cử người đi gọi thái y, nhưng e rằng thái y đến nơi thì công chúa đã không qua khỏi." Ám vệ bẩm báo.

Hoắc Tranh ngã gục xuống ngai vàng. Nỗi bàng hoàng, đau xót trước sự việc xảy ra quá đỗi đột ngột cuối cùng cũng bị sự lạnh lùng, tàn nhẫn của một vị hoàng đế đè bẹp.

Ngài là Hoàng đế. Khi đối mặt với biến cố này, dù lòng có quặn thắt, ngài vẫn phải đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, tận dụng cơ hội để thu về lợi ích lớn nhất.

Ngài ra lệnh cho ám vệ: "Hãy dùng khinh công nhanh nhất, lập tức đưa công chúa vào Đông cung."

Lẽ ra ngài phải chạy đến nhìn mặt con gái lần cuối, lẽ ra phải ra lệnh cho thái y dốc toàn lực cứu chữa. Nhưng ngài đã không làm vậy.

Khoảnh khắc ấy, Hoắc Tranh không biết do mình quá mệt mỏi, hay do ngài cuối cùng cũng đã buông xuôi, tìm thấy sự giải thoát.

Hoắc Thừa Bang quá đỗi nhu nhược, nhân từ. Đứa con trai cả mà ngài dốc bao tâm huyết vun trồng lại chẳng thấy chút tiến bộ nào, thậm chí còn chẳng bằng một nửa sự độc ác của Tam hoàng t.ử Hoắc Vân Vinh. Nếu cái c.h.ế.t của Hoắc Lan Quân có thể thức tỉnh được Hoắc Thừa Bang, thì sự hy sinh đó mới thực sự có ý nghĩa.

Hoắc Tranh bước ra ngoài cửa điện. Gió đêm thổi tới mang theo cái lạnh thấu xương. Ánh trăng đêm nay hắt ra một thứ ánh sáng lạnh lẽo, vô tình.

Đứa con gái chung của ngài và Châu Tân Nghi đã qua đời.

Hoắc Tranh đứng lặng lẽ nhìn vầng trăng rất lâu.

Đã đi được nửa đời người, đến năm bốn mươi hai tuổi, ngài mới ngộ ra rằng bầu trời đêm ở vùng Kiềm Châu nghèo khó và chốn hoàng cung lộng lẫy uy nghi này thực chất vẫn chỉ là một.

Con gái của nàng đã c.h.ế.t, ngài đã không thể bảo vệ được đứa con gái của nàng.

Cả đời ngài mang tiếng là một vị minh quân nhân từ, nhưng lại chẳng thể kiến tạo nên một thời kỳ thái bình thịnh trị, cũng chẳng thể bảo vệ được những đứa con do chính mình sinh ra, lại còn nhẫn tâm phụ bạc người vợ tào khang.

Hoắc Tranh thầm nghĩ, sau khi băng hà, ngài có lẽ sẽ không thể lên thiên đàng gặp liệt tổ liệt tông, mà chắc chắn sẽ phải xuống mười tám tầng địa ngục để trả nghiệp cho những tội lỗi mình đã gây ra.

Tiếc thay, quả báo lại đến quá nhanh. Chẳng cần đợi đến lúc ngài nhắm mắt xuôi tay, Thái t.ử của ngài đã đột ngột qua đời, và cả cơ nghiệp giang sơn đã bị Thích Ngũ lang cướp mất.

Khi Hoắc Vân Chiêu hạ cổ độc ngài, khi Thích Việt dẫn theo thiên binh vạn mã ồ ạt xông vào hoàng thành, con cháu, quần thần của ngài đều thi nhau tháo chạy, bỏ mặc ngài trơ trọi trong chốn cung điện lạnh lẽo, vắng lặng, biến ngài thành một vị Thái thượng hoàng tàn phế.

Sự giày vò của cổ độc khiến cơ thể Hoắc Tranh đau đớn như bị xé nát. Dù Thích Việt đã tìm được một vị cao nhân trong chốn giang hồ để giải độc cho ngài, nhưng cơ thể suy nhược này vĩnh viễn không bao giờ có thể chống chọi lại được sự khắc nghiệt của thời tiết luân chuyển bốn mùa nữa.

Một mùa đông buốt giá ập đến, ngài đổ bệnh nặng. Trong lúc hôn mê, ngài cảm nhận được một đôi bàn tay dịu dàng đang ân cần chăm sóc mình.

Hoắc Tranh lúc này chỉ còn cử động được một nửa cơ thể. Ngài khó nhọc nắm lấy đôi bàn tay mềm mại ấy: "Nghi Nương..."

Nhưng khi gắng gượng mở mắt ra, khuôn mặt đập vào mắt ngài lại là Văn Thục.

Đôi mắt phượng của Văn Thục chất chứa đầy oán hận. Nàng ta bưng bát thuốc, mỉm cười gượng gạo: "Thái thượng hoàng, uống t.h.u.ố.c đi ạ."

Hoắc Tranh: "Ngươi... cút đi."

Hóa ra là Văn Thục. Nàng ta đã lấy ra đạo thánh chỉ phong hậu mà gia tộc họ Vương ở quận Kinh Nam đã bí mật cất giấu năm xưa, và được Thích Việt chấp thuận, chính thức được sắc phong làm Kế hậu của ngài.

Hoắc Tranh gắng sức dùng cánh tay còn cử động được hất đổ bát thuốc.

Văn Thục tắt hẳn nụ cười, giọng lạnh tanh: "Hoàng thượng à, thần thiếp gọi người một tiếng Hoàng thượng nữa nhé. Bởi nếu thần thiếp không gọi, thì người cũng chẳng bao giờ được nghe ai gọi như vậy nữa đâu."

"Thần thiếp hầu hạ người từ năm mười bốn tuổi, người đã từng dành cho thần thiếp một chút chân tình nào chưa? Người sủng ái Chung Thục phi đến vậy, thế mà ả ta lại mang theo Thập nhị hoàng t.ử bỏ trốn đến vương phủ ở quận Kinh Nam, ngay cả mặt người lần cuối cũng không thèm đến nhìn. Còn vị Thanh Tần mà người từng sủng ái lên tận mây xanh, nhờ tân hoàng đế đại xá mà được xuất cung. Giờ ả ta đã phát điên, suốt ngày la hét rằng Di An của ả chưa c.h.ế.t, và đòi xuất cung để đi tìm Di An."

Văn Thục cay đắng nói: "Hoàng thượng à, năm xưa người thực sự đã làm mất Di An sao? Đứa con thứ bảy của chúng ta vô cùng ngoan ngoãn, hiếu thảo. Vậy mà tại sao người lại nghe lời xúi giục của kẻ khác, chèn ép nó đủ đường, lại còn nhẫn tâm tống giam đứa con trai trưởng của chúng ta vào ngục?"

Hoắc Tranh nhắm nghiền mắt. Hiện tại ngài nói chuyện rất khó nhọc, và cũng chẳng muốn phí lời với người đàn bà độc ác này. Những chuyện mờ ám mà Văn Thục đã làm sau lưng ngài, đừng tưởng ngài không biết.

Ngài căm thù Văn Thục, căm thù các thế gia vọng tộc.

Nhưng người mà ngài căm hận nhất lại chính là bản thân ngài của hai mươi ba năm về trước.

Văn Thục còn lải nhải rất nhiều điều, nhưng Hoắc Tranh không buồn nghe nữa, cũng chẳng buồn đưa ra bất kỳ phản ứng nào.

Ngày hôm sau, Văn Thục lại tiếp tục đến chăm sóc ngài.

Hoắc Tranh vẫn tỏ thái độ phớt lờ, mặc dù lúc này một nửa cơ thể ngài đã không còn cảm giác.

Ngày qua ngày, Văn Thục dường như cũng bắt đầu thấy chán chường. Có lẽ nàng ta muốn trút toàn bộ nỗi hận thù chất chứa bấy lâu lên đầu ngài, bởi kết cục bi t.h.ả.m của nàng ta ngày hôm nay đều là do ngài ban tặng. Nhưng nàng ta sinh ra đã mang dòng m.á.u cao quý, là đệ nhất quý nữ của Thượng Kinh. Nền tảng giáo d.ụ.c không cho phép nàng ta trở thành một người phụ nữ ruồng bỏ trượng phu.

Trượng phu sao?

Hoắc Tranh chưa bao giờ coi mình là trượng phu của Văn Thục.

Ngài chỉ là trượng phu của duy nhất một người, đó là Châu Tân Nghi.

Vào một ngày nọ, Văn Thục bưng t.h.u.ố.c đến nhưng Hoắc Tranh vẫn kiên quyết không uống. Ngài chỉ tay về phía một cung nữ đang đứng gần đó: "Hầu hạ, trẫm, uống thuốc."

Đến tận bây giờ, ngài vẫn không chịu thay đổi cách xưng hô, vẫn nhất quyết xưng "Trẫm".

Cung nữ sợ hãi không dám bước tới, run rẩy đưa mắt cầu xin ý kiến của Văn Thục.

Văn Thục bật cười chua chát, tự tay bón t.h.u.ố.c đến tận miệng ngài: "Sao thế, Hoàng thượng muốn nạp thêm sủng phi à? Được thôi, thần thiếp sẽ lấy danh nghĩa chính thất để nạp thiếp cho ngài..."

Choang!

Hoắc Tranh lạnh lùng hất văng bát t.h.u.ố.c xuống đất.

Nước t.h.u.ố.c đen ngòm b.ắ.n tung tóe lên váy áo của Văn Thục, b.ắ.n cả lên mặt nàng ta. Nàng ta vừa sững sờ vừa tức giận, vội vàng giật lấy chiếc khăn tay từ tay cung nữ để lau những vệt t.h.u.ố.c đang chảy ròng rập trên mặt.

Hoắc Tranh nhếch mép, nở một nụ cười khẩy.

Đôi mắt phượng của Văn Thục mở to vì kinh ngạc. Nàng ta đã ba mươi sáu tuổi rồi, vậy mà khóe mắt vẫn đỏ hoe, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má.

Hoắc Tranh toét miệng cười, tiếng cười càng lúc càng lớn, càng lúc càng ngạo nghễ.

Văn Thục vung tay, giáng một cái tát trời giáng xuống khuôn mặt ngài.

"Bốp!"

Âm thanh chát chúa vang vọng khắp tẩm điện.

Kể từ đó, Văn Thục không bao giờ quay lại nữa.

Hoắc Tranh cuối cùng cũng được trả lại sự yên bình.

Người hầu hạ bên cạnh ngài lúc này là một thái giám trẻ tuổi tên Quý Thành. Chương Đức Sinh đã bị Thích Việt xử t.ử ngay từ khi hắn vừa mới đ.á.n.h chiếm hoàng cung. Những tâm phúc bên cạnh ngài ngày trước, nay chẳng còn một ai sống sót.

Nhưng điều đó không quan trọng. Chung Gia Nhu và Thích Việt lên ngôi hoàng đế nhưng lại quá đỗi nhân từ, không hề tận diệt hậu duệ của ngài. Sẽ có ngày, con cháu của ngài trỗi dậy, giành lại giang sơn của nhà họ Hoắc từ tay chúng.

Hoắc Tranh ra lệnh cho Quý Thành: "Đi sắc t.h.u.ố.c đi."

Ngài sẽ không bao giờ tìm đến cái c.h.ế.t. Cho dù chỉ là sống lay lắt qua ngày, ngài cũng phải cố gắng duy trì mạng sống này, để chờ đợi đến ngày được đoàn tụ cùng con cháu, phò tá chúng lên ngôi báu.

Ngày nào ngài còn sống, thì huyết mạch nhà họ Hoắc mới là chân chính, là chính thống.

...

Hoắc Tranh không để thời gian trôi đi một cách vô ích. Đêm đêm, ngài âm thầm tập luyện những phần cơ thể còn có thể cử động, mong muốn khôi phục lại sự dẻo dai. Ban ngày, ngài cố tình mắng nhiếc Chung Gia Nhu là kẻ bất hiếu, sai cung nhân đến gọi nàng ta đến gặp ngài.

Cô tiểu thư khuê các mà ngài từng hết mực kỳ vọng này, quả thực quá đỗi to gan lớn mật. Khoác trên mình bộ cổn phục uy nghi của bậc đế vương, chễm chệ ngồi trên ngai vàng của ngài, trở thành một Nữ đế hữu danh vô thực.

Chung Gia Nhu đứng uy nghi giữa điện của ngài. Dung mạo xinh đẹp kiều diễm, nhưng thần thái lại toát lên vẻ lười biếng, uể oải. Nàng lạnh nhạt nói: "Phụ hoàng, Di An đến thăm người đây. Di An vẫn còn quốc sự phải lo liệu, phụ hoàng cứ yên tâm an dưỡng nhé. Di An xin cáo lui."

Hoắc Tranh quả thực thường xuyên bày trò hành hạ nàng ta. Mục đích của ngài không phải là muốn nhìn thấy Chung Gia Nhu phải diễn trò đóng giả Di An để tỏ ra hiếu thuận. Ngài chỉ muốn thông qua sắc mặt, thái độ của nàng ta để ngầm dò xét tình hình thế sự ngoài kia.

Thần thái ung dung, tự tại của nàng ta chứng tỏ hai vợ chồng họ đã nắm vững quyền lực hoàng gia trong tay.

Một ngày nọ, Hoắc Tranh cất lời: "Đứng lại. Tẩm cung của trẫm... có một ngăn bí mật đằng sau bức tượng đầu chim hạc..." Vì di chứng của cổ độc, ngài nói chuyện vẫn còn rất khó khăn, đứt quãng.

Chung Gia Nhu khẽ thu lại vẻ mặt hờ hững, bình thản đáp: "Trẫm biết. Trong tẩm cung của người có một ngăn chứa bí mật, bên trong cất giấu vài món đồ cũ."

Sắc mặt Hoắc Tranh biến đổi dữ dội. Đáy mắt ngài lóe lên tia sáng lạnh lẽo, đầy vẻ uy áp và tàn nhẫn.

Chung Gia Nhu chỉ mỉm cười nhạt, sai cung nhân mang những món đồ cũ đó đến trước mặt ngài.

"Trẫm đã đọc tờ hôn thú rồi, quả là cảm động lòng người: 'Tôn trọng thê tử, cẩn thủ lời thề. Nếu vi phạm, giang sơn vĩnh viễn nghiêng ngả'." Chung Gia Nhu buông lời mỉa mai: "Có lẽ vì người đã bội ước, nên giang sơn này mới thực sự sụp đổ."

Nói xong, Chung Gia Nhu quay lưng bỏ đi.

Những kỷ vật của Châu Tân Nghi được bày ra nguyên vẹn trước mắt Hoắc Tranh.

Hoắc Tranh ôm chặt lấy cặp tượng đất nung. Cánh tay trái tê liệt vẫn chưa hồi phục, ngài dùng cánh tay phải cẩn thận che chở cặp tượng vào lòng.

"Nghi Nương, nhìn thấy kết cục ngày hôm nay, chắc hẳn trên trời cao nàng đang vui sướng lắm phải không?"

Khóe môi Hoắc Tranh vẽ lên một nụ cười đắng chát.

Ngày nào ngài cũng v**t v* cặp tượng này, nhưng tuyệt nhiên không dám hé mắt nhìn vào chiếc hộp đựng trâm gỗ đào của Châu Tân Nghi.

Những tháng ngày bị giam lỏng thật sự quá đỗi dằn vặt. Cơ thể mang di chứng của cổ độc khiến Hoắc Tranh trở nên vô cùng nhạy cảm với gió rét, rất dễ bị nhiễm phong hàn.

Bên ngoài, gió thu rít gào từng cơn, mưa bắt đầu nặng hạt, rả rích rơi.

Hoắc Tranh lên cơn sốt. Trong cơn mê man, ngài lờ mờ nhìn thấy bóng dáng Châu Tân Nghi đang bước về phía mình qua ánh đèn vàng vọt, mờ ảo.

Nàng ngồi xuống mép giường, đỡ ngài tựa vào vai mình: "Hoắc Tranh, sao chàng lại không chịu uống thuốc?"

"Nghi Nương?" Hoắc Tranh thẫn thờ nhìn nàng. Đúng là nàng rồi, chính là Châu Tân Nghi.

Chiếc cằm hơi tròn trịa, đôi mắt hiền hòa, sáng trong. Nụ cười nở trên đôi môi đỏ mọng, nhưng đã hằn lên những vết nứt nẻ, khô khốc.

Nước mắt lã chã rơi khỏi khóe mắt Hoắc Tranh. Ngài ôm chầm lấy nàng, gục đầu vào bờ vai gầy guộc ấy.

Bờ vai nàng tuy mỏng manh, bé nhỏ, nhưng từ trước đến nay vẫn luôn là chỗ dựa vững chãi nhất cho ngài.

"Nghi Nương, ta c.h.ế.t rồi sao? Ta cuối cùng cũng được gặp lại nàng rồi?"

Châu Tân Nghi chỉ mỉm cười, ân cần đút từng thìa t.h.u.ố.c cho ngài.

Đôi mắt Hoắc Tranh nhòe đi vì lệ. Ngài nhìn nàng chằm chằm, không dám chớp mắt dù chỉ một cái.

"Hoắc Tranh."

Nước mắt nóng hổi lăn dài trên sống mũi, che khuất tầm nhìn. Hoắc Tranh vội vàng chớp mắt để gạt đi những giọt lệ. Nhưng khi mở mắt ra lần nữa, ngài chỉ thấy ánh đèn leo lét, đung đưa. Tẩm điện trống không, lạnh lẽo, chẳng có một bóng người.

"Nghi Nương?" Hoắc Tranh thảng thốt gào lên.

"Choang..."

Bức tượng đất nung của Châu Tân Nghi tuột khỏi tay ngài, rơi xuống mép giường, vỡ tan tành thành từng mảnh nhỏ.

"Nghi Nương!" Hoắc Tranh nhoài nửa người ra khỏi giường, nhưng cánh tay với tuyệt vọng cũng không thể với tới những mảnh vỡ dưới sàn.

Ngài dùng hết sức bình sinh đạp chân, lăn vòng từ trên giường xuống, đè lên đám mảnh vỡ.

Những mảnh đất nung lại một lần nữa vang lên những tiếng rạn nứt giòn giã, bị ngài đè nát vụn dưới thân.

"Châu Tân Nghi, nàng đừng trừng phạt ta theo cách này!"

Hoắc Tranh cố sức lăn người, nhặt nhạnh từng mảnh vỡ nhỏ bé.

Những mảnh vỡ này được nặn từ đất sét vàng. Một mặt được tô vẽ màu sắc sặc sỡ, mặt kia vẫn là lớp đất vàng nguyên sơ. Vô cùng thô kệch, rẻ tiền, sần sùi lồi lõm. Vậy mà nó lại là bảo vật quý giá nhất của Châu Tân Nghi.

Giờ đây, chúng đã vỡ vụn trong căn cung điện hoa lệ này.

Chủ nhân của nó đã phải chịu cảnh nghèo khó suốt một đời, dành cả thanh xuân để cưu mang một thiếu niên bữa đói bữa no. Nàng dùng thân hình gầy yếu của mình làm điểm tựa cho ngài khôn lớn, dốc hết từng đồng xu cắc bạc và mọi sức lực để nuôi dưỡng ngài trở thành một đấng nam nhi đại trượng phu.

Vậy mà, người chồng do chính tay nàng che chở ấy, sau khi khoác lên mình bộ long bào, bước l*n đ*nh cao quyền lực, hưởng trọn vinh hoa phú quý, lại để nàng lặng lẽ mục nát giữa đất trời, hóa thành một nắm đất vàng vô tri vô giác.

Hoắc Tranh nhặt nhạnh từng mảnh vỡ. Bàn tay phải vốn đã không còn linh hoạt của ngài cứ run lên bần bật. Ngài cố gắng lau đi những vệt m.á.u dính trên đó.

Máu từ ngón tay rỉ ra, hòa cùng nước mắt nơi khóe mi, nhuốm đỏ những mảnh đất nung vô hồn.

...

Biết chuyện này, Chung Gia Nhu đã đến nhìn ngài một cái. Hoắc Tranh không thèm đoái hoài, ngồi tựa vào ghế, cẩn thận dùng nhựa cây để dán lại từng mảnh vỡ.

Chung Gia Nhu quay người bước đi. Nhưng hôm sau, nàng lại sai cung nhân mang đến một bức tượng mới toanh. Chắc hẳn nàng đã nhìn thấy bức tượng của ngài, và dựa vào trí nhớ để mô phỏng lại. Bức tượng mới này rất giống với bức tượng của Châu Tân Nghi, nhưng đáng tiếc, nó lại không phải là thứ mà Châu Tân Nghi yêu thích.

Hoắc Tranh kéo lê cái cơ thể khó nhọc, ngồi lì ròng rã suốt một tháng trời, tỉ mỉ chắp vá từng mảnh vỡ nhỏ xíu.

Bé gái bằng đất nung tươi cười rạng rỡ, ngây thơ trong sáng. Mặc dù trên thân đầy rẫy những vết xước, vết sẹo chắp vá, nhưng đôi mắt vẫn cong cong cười tươi rói.

Ánh mắt Hoắc Tranh trở nên thâm trầm, lạnh lẽo, tĩnh lặng như một mặt hồ c.h.ế.t.

Hai mươi ba năm trước, làm sao ngài có thể tàn nhẫn hạ lệnh ban cái c.h.ế.t cho Châu Tân Nghi cơ chứ?

Cái năm ngài trở về kinh thành từ vùng thôn quê nghèo khó bần hàn, bước l*n đ*nh cao của ngai vàng, mọi thứ đến quá đỗi vội vã. Ngài chỉ mải mê tận hưởng quyền lực vô song, mà quên mất rằng người đã nâng đỡ ngài lên vị trí ấy, thực chất chính là người vợ tào khang của mình.

Năm Thừa Bình thứ hai mươi sáu... Ồ, ngài nhớ nhầm rồi, năm nay là năm Khải Gia thứ năm.

Năm Khải Gia thứ năm, hoàng đế phế bỏ quốc hiệu Đại Chu, đổi tên nước thành Đại Thịnh, lập nên một triều đại hoàn toàn mới.

Đại Chu đã chính thức khép lại trang sử huy hoàng kéo dài suốt hai trăm tám mươi mốt năm.

Hoắc Tranh trở thành vị vua mất nước.

Chung Gia Nhu và Thích Việt vẫn để ngài sống trong cung điện của vị Thái thượng hoàng, nơi vừa xa hoa vừa hẻo lánh này.

Tiếng chuông ngân vang báo hiệu một triều đại mới được thành lập vang dội khắp hoàng cung. Hoắc Tranh tức giận đến mức hai mắt nổ đom đóm, hận không thể xông ra ngoài băm vằm, lăng trì đôi vợ chồng soán ngôi đoạt vị kia cho hả giận.

Nhưng ngài làm gì có quyền lực trong tay. Ngài không còn là vị Thừa Bình Đế nắm quyền sinh sát trong tay ngày xưa nữa.

Sống mà còn đau khổ hơn cả cái c.h.ế.t.

Nhưng Hoắc Tranh sẽ không dễ dàng tìm đến cái c.h.ế.t. Ngài vẫn còn con cháu nối dõi trên cõi đời này. Ngài không tin những hậu duệ của nhà họ Hoắc, sinh ra trong gia đình hoàng tộc, lại có thể cam tâm nhẫn nhịn nhìn một kẻ xuất thân từ đồng ruộng cướp ngôi đoạt vị.

Ngài phải chờ đợi. Chờ đợi đến ngày con cháu nhà họ Hoắc giành lại giang sơn Đại Chu. Cho dù ngài có già yếu, bệnh tật quấn thân, ngài vẫn sẽ kiên trì chờ đợi!

Chỉ cần ngài còn sống một ngày, thì hậu duệ của ngài vẫn còn cơ hội!

Ngài tuyệt đối không cam tâm mang danh vị vua mất nước xuống suối vàng đối mặt với liệt tổ liệt tông!

...

Hoắc Tranh chờ đợi ngày đó đến mòn mỏi, xuân qua thu lại, đông tàn tuyết rơi.

Ngài vẫn hay lớn tiếng quát tháo, c.h.ử.i bới Chung Gia Nhu là kẻ bất hiếu, đòi nàng ta phải đến gặp ngài. Nhưng đáng tiếc, giờ đây Chung Gia Nhu đã chẳng còn bận tâm đến ngài nữa.

Văn Thục cũng sống ngay gần đó, cùng bị giam lỏng trong Nam cung hẻo lánh này, nhưng nàng ta chưa từng bước chân đến thăm ngài.

Thái hậu của ngài thì được an bài ở tẩm cung cũ. Nghe Quý Thành kể lại, Thái hậu sống trong cảnh sung túc, quần áo thức ăn không thiếu thốn thứ gì, lại còn đối xử rất tốt với Hoàng thượng và Đại vương.

Ánh mắt Hoắc Tranh hằn lên sự căm phẫn. Người mẹ của ngài quả là biết thức thời, vì muốn được sống yên ổn mà vứt bỏ cả lòng tự tôn của hoàng gia.

Ngài sống lầm lũi qua ngày trong cung điện lạnh lẽo này. Cơ thể ngài đã dần hồi phục cảm giác, có thể tự đi lại được, tuy bước đi rất chậm chạp. Nhưng ngài vẫn cảm thấy may mắn vì không còn cần đến sự dìu dắt của cung nhân nữa.

Dịp Tết Nguyên Đán, bên ngoài cung điện vang rền tiếng pháo hoa nổ đì đùng.

Hoắc Tranh chắp tay đứng lặng lẽ trước cửa điện. Xuyên qua bờ vai của tên cấm quân đang canh gác, ngài đưa mắt nhìn lên bầu trời đêm rực rỡ pháo hoa. Hàng vạn tia sáng chói lọi thắp sáng cả một giang sơn rộng lớn, xa xăm.

Gió đêm lạnh lẽo thổi qua ánh mắt ngài. Cơn gió ở Kiềm Châu còn buốt giá hơn đêm nay rất nhiều. Chỉ có cơn gió ở thôn Khê Thủy là mang theo chút dịu dàng, ấm áp, bởi nơi đó có tình yêu thương của Châu Tân Nghi.

Năm đó, trên khu chợ của huyện lỵ, ngài đã cùng Châu Tân Nghi đi xem một lễ hội đèn lồng náo nhiệt.

Chỉ là một huyện lỵ hẻo lánh, đường phố cũng chẳng lấy gì làm sầm uất. Vậy mà Châu Tân Nghi lại vui mừng đến mức nhớ mãi không quên. Giữa dòng người chen lấn xô đẩy, nàng siết c.h.ặ.t t.a.y ngài hỏi: "Kinh thành có nhộn nhịp, phồn hoa thế này không?"

Hoắc Tranh đan chặt những ngón tay mình vào tay nàng, mỉm cười đáp lời.

Châu Tân Nghi lại hỏi: "Kinh thành có lệnh cấm đi lại ban đêm không? Lễ hội đèn lồng ở đó có hoành tráng hơn ở đây không?"

Hoắc Tranh nói với nàng rằng kinh thành vô cùng rộng lớn. Ngoài mười dặm đường phố sầm uất, còn có những lễ hội đèn lồng và những màn pháo hoa rực rỡ, tráng lệ hơn thế này gấp trăm ngàn lần.

Giờ đây, pháo hoa đang nở rộ trên bầu trời, ngài đã được chiêm ngưỡng trọn vẹn sự phồn hoa của kinh thành.

Thế nhưng Châu Tân Nghi thì chưa bao giờ có cơ hội đó.

...

Thời gian cứ thế ngày qua ngày, năm lại qua năm.

Hoắc Tranh không đợi được ngày con cháu của ngài dấy binh đoạt lại quyền lực. Nhưng không sao, ngài vẫn sẽ tiếp tục chờ đợi, chờ đến c.h.ế.t. Dù có phải vắt kiệt sức lực của một tấm thân đầy bệnh tật, ngài vẫn sẽ kiên định bám trụ.

Đến năm thứ ba kể từ khi triều đại mới được thành lập, Chung Gia Nhu đến thăm ngài. Nàng kể rằng triều đại Đại Thịnh đang trong thời kỳ thái bình thịnh trị, văn hóa nghệ thuật phát triển rực rỡ, rất nhiều nhân tài nữ giới đã được tuyển chọn thông qua khoa cử.

Hoắc Tranh cười khẩy trong bụng. Nàng ta coi việc trị quốc bình thiên hạ là trò đùa trẻ con do tên phu quân nhà quê của nàng ta bày ra để cưng chiều nàng ta sao? Việc nữ nhân tham gia vào chính sự đâu có dễ dàng như vậy.

Hoắc Tranh cứ chờ đợi. Ngài quyết tâm phải chờ cho đến cái ngày đôi phu thê kia tự tay hủy hoại cái cơ ngơi giang sơn này.

Lại một mùa thu nữa đến.

Bên ngoài đại điện bỗng vang lên tiếng chuông ngân vang báo hiệu tân hoàng đế đăng cơ.

Hoắc Tranh mừng rỡ khôn xiết. Đôi phu thê kia băng hà rồi sao?

Nhưng ngẫm lại thì không đúng. Đây là tiếng chuông báo hiệu tân hoàng đế lên ngôi, chứ không phải là tiếng chuông báo tang.

Đến tận buổi trưa, ngài mới nghe Quý Thành báo lại: "Thái thượng hoàng đã truyền ngôi lại cho tân hoàng, và cùng Đại vương điện hạ đi ngao du sơn thủy rồi ạ."

Haha, đôi phu thê kia đúng là ngồi vững trên ngai vàng rồi. Mới có ba năm ngắn ngủi mà đã dám bỏ mặc triều chính để đi ngao du? Ngài không tin. Giang sơn thiên hạ này là của nhà họ Hoắc!

Ngài nhất định phải cố gắng gượng sống tiếp. Dù cho tóc có bạc trắng đi chăng nữa, ngài vẫn phải đợi cho đến khi con cháu của ngài giành lại ngai vàng!

Cơn gió thu năm nay lạnh buốt thấu xương, rít gào luồn qua khe cửa sổ.

Hoắc Tranh tự tay đóng chặt cửa sổ lại, dự định đi ngủ sớm.

Đây là một đêm bình yên như bao đêm khác. Ngài cũng chỉ vô tình lướt qua chiếc gương đồng, nhưng lại giật mình đứng khựng lại.

Ngài đăm đăm nhìn vào người trong gương.

Người đàn ông bốn mươi tám tuổi, xương mày vẫn giữ được nét cứng cỏi, sắc bén. Không còn lớp mặt nạ của một vị minh quân nhân từ, chỉ còn lại sự lạnh lùng, tàn nhẫn ăn sâu vào trong xương tủy. Nhưng ngài không còn trẻ nữa.

Ngài thực sự đã già rồi.

Dưới cằm ngài lún phún những sợi râu ria xanh mờ. Đôi mắt ngài u buồn, trĩu nặng như buổi hoàng hôn le lói. Đường nét khuôn mặt vẫn anh tuấn, nhưng nơi khóe mắt đã hằn lên những nếp nhăn của thời gian.

Hoắc Tranh sững sờ nhìn vào trong gương, từng bước, từng bước chậm rãi tiến lại gần chiếc gương đồng.

Đó là ngài sao? Là Hoắc Tranh sao?

Tại sao thường ngày ngài vẫn luôn lầm tưởng mình mới chỉ là một chàng thiếu niên mười lăm tuổi? Ngài rõ ràng ngày nào cũng nhớ đến hình ảnh Châu Tân Nghi ở độ tuổi hai mươi bảy cơ mà.

Thời gian như ngừng trôi ngay khoảnh khắc này. Hoắc Tranh đứng bất động, nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu trong gương.

Ánh nến leo lét, bóng hình trong gương cũng run rẩy, chao đảo.

Ngài đưa tay lên v**t v* mái tóc hai bên thái dương. Là những sợi tóc bạc trắng.

Tấm thân cao gầy đứng lặng im hồi lâu.

Hoắc Tranh cứng đờ người quay lưng lại. Ngài đã già rồi, ngài thực sự đã già rồi.

Châu Tân Nghi chỉ mới ba mươi ba tuổi, ngài đã lớn hơn nàng mười lăm tuổi rồi.

Liệu nàng có nhận ra ngài nữa không?

Trong cung điện tĩnh mịch, không một tiếng động. Giữa sự tĩnh lặng trầm mặc ấy, Hoắc Tranh thay một bộ cẩm bào trông trẻ trung hơn một chút, rồi mở toang cửa điện.

Cấm quân vẫn như những bức tượng sắt chặn đứng đường ngài.

"Trẫm muốn đến ngự hoa viên một chuyến."

Cấm quân không nhúc nhích nửa bước.

Hoắc Tranh: "Ta muốn đến ngự hoa viên một chuyến, các ngươi cứ đi theo giám sát ta là được."

Ngài không có quyền được bước chân ra khỏi cung điện này. Bao nhiêu năm nay vẫn vậy, cấm quân vẫn canh gác nghiêm ngặt, không lùi nửa bước.

Hoắc Tranh im lặng một lúc: "Các ngươi có thể giúp ta xem thử những khóm cúc Dao Đài Ngọc Lộ trong ngự hoa viên đã nở hoa chưa? Nếu có, ta muốn xin một khóm. Đa tạ."

Không lâu sau, khóm cúc Dao Đài Ngọc Lộ được cấm quân mang đến. Bọn họ nói đã bẩm báo với hoàng thượng, và được hoàng thượng ân chuẩn.

Hoắc Tranh ôm khóm cúc nở rộ trắng muốt, rực rỡ vào lòng. Trước khi khép cửa điện, ngài ngẩng cao đầu nhìn lên bầu trời đêm.

Phía trên cung khuyết, gió nhẹ hiu hiu thổi, vầng trăng rằm tròn vành vạnh, sáng vằng vặc.

Khóe môi ngài khẽ cong lên một nụ cười, rồi quay người bước vào trong điện.

Ngài mở hộp đựng những di vật của Châu Tân Nghi ra, nhẹ nhàng v**t v* chiếc trâm gỗ đào, rồi lại nâng niu chiếc gương đồng nhỏ xíu mà nàng từng vô cùng yêu thích. Khi đó không có đủ tiền, ngài chỉ mua được một chiếc gương đồng bình thường nhất, mặt sau thậm chí còn không có lấy một hoa văn trang trí. Chính Châu Tân Nghi đã dùng d.a.o khắc lởm chởm lên đó hình ảnh một cây cải thảo to đùng và hai con gà vịt.

Hoắc Tranh mỉm cười, lại tiếp tục v**t v* bức tượng đất nung của nàng.

Bức tượng vỡ nát chằng chịt những vết nứt chắp vá, giống hệt như mối duyên vợ chồng của bọn họ, tan nát, chia lìa.

Ngài mở tờ hôn thú ra, ánh mắt chất chứa sự dịu dàng, đau khổ và đầy tiếc nuối.

"Nghi Nương, Châu Tân Nghi, ta đến tìm nàng đây."

Hoắc Tranh cởi bỏ nút áo, đứng trước gương nhìn thẳng vào vị trí trái tim đang đập nhịp nhàng của mình.

Nơi đó vẫn còn lưu lại một vết sẹo mờ nhạt. Đó là vết tích của một cái dằm gỗ đ.â.m rất sâu vào năm xưa. Cái dằm đó cắm sâu vào tim ngài suốt nửa năm trời, lúc nào cũng nhói đau âm ỉ. Chàng thiếu niên mười lăm tuổi ấy đã quen với nỗi đau, ngài cứ ngỡ mình sẽ phải chịu đựng sự đau đớn âm ỉ đó suốt phần đời còn lại.

Chính Châu Tân Nghi đã lấy cái dằm đó ra khỏi tim ngài, giúp ngài không còn phải chịu đựng những cơn đau nhói ấy nữa.

Hoắc Tranh nhắm thẳng vào trái tim mình, giơ cao chiếc trâm gỗ đào và đ.â.m mạnh xuống.

Ngài đã dùng hết toàn bộ sức lực của mình.

Đến lúc này, ngài mới thấu hiểu Châu Tân Nghi năm đó đã phải dùng bao nhiêu sức lực để làm việc này.

Ngài ngã vật xuống sàn nhà, đ.á.n.h đổ cả chân nến. Ngọn lửa bén vào vạt áo ngài bốc cháy phừng phừng.

Máu từ khóe miệng trào ra, ngọn lửa cũng lan rộng khắp cơ thể, cơn đau nhức nhối lan tỏa đến từng tế bào.

Hơi thở Hoắc Tranh yếu ớt dần, ngài khó nhọc giơ tay lau đi vết m.á.u vương trên khóe môi.

Ngài ôm chặt lấy bức tượng đất nung của Châu Tân Nghi, ôm chặt cả khóm cúc Dao Đài Ngọc Lộ vào lòng.

Người vợ hiền thảo của ngài chưa từng được ngắm nhìn hoa cúc nở, cuối cùng ngài cũng đã mang được nó đến cho nàng.

"Châu Tân Nghi, ta chỉ già đi một chút xíu thôi, nàng đừng có không nhận ra ta nhé."

Trong biển lửa hừng hực, màn đêm dường như được thắp sáng bởi hàng ngàn, hàng vạn ngọn đèn lồng lấp lánh như trong lễ hội ở một huyện lỵ nghèo nàn, xa xôi năm nào. Một vầng trăng rằm tròn vành vạnh treo lơ lửng giữa bầu trời.

Châu Tân Nghi nở nụ cười rạng rỡ, tươi tắn như ánh mặt trời, đang mỉm cười nhìn ngài ngay trước mắt. Nhưng trên búi tóc hình trôn ốc của nàng lại không hề cài chiếc trâm hoa đào do chính tay ngài đẽo gọt.

Hoắc Tranh có phần hoảng loạn, cố gắng nhích từng chút một nhìn xuống chiếc trâm đang cắm ngập trong tim mình, rồi dùng chút sức tàn cuối cùng để rút nó ra.

Ngài muốn đưa nó cho nàng, nhưng Châu Tân Nghi đã quay lưng bước đi.

Tà váy vải xanh thô bềnh bồng trong gió, nàng đã quay bước rời đi. Bóng dáng ấy cứ xa dần, xa dần, rồi tan biến mãi mãi vào cõi hư vô.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn