Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

Chương 4: Chương 4: Hề Sơn cuốn · Phong Đô

“Phong Đô, tây nam thành, quỷ tộc cư, Quan lại cai trị.”

–[ U Minh tập · Phong Đô ] Thục nhân soạn

Từ khi Hề Sơn quân từ trời về thì gặp vài tai nạn. Ở nhà hàng xóm của hàng xóm, Thúy Mông sơn quân đính hôn với trưởng nữ Thành Hoàng, vốn là chuyện vui, nàng uống mấy chầu chén rượu, về nhà đã xây xẩm mặt mày, không thể thi phép, đi đứng vẹo xiêu. Trời tối dần, cơn say chưa tan, không để ý nên vấp giày cỏ vào đá, té cái rầm, đầu sưng một cục máu. Nàng vất vả lắm mới về lại được núi, chưa uống được li trà thì có con cháu vào bẩm, nói dưới núi có người tới tặng quà, bảo là mừng nàng đính hôn. Hề Sơn quân nghe là biết có người ta tới lộn chỗ, chắc chắn là khách của tên Thúy Mông đi nhầm. Nàng vốn không để ý, chỉ giải thích nguyên nhân, đuổi đi là xong, vậy mà hầu nhi dưới chân núi lại nhăn mày nhăn mặt mang một cái hộp lớn về, thưa: “Quân phụ, cứ nói là biếu ngài, bảo không nhầm đâu. Con chưa kịp hỏi, người nọ đã đi.” Hề Sơn quân nhất thời ngạc nhiên, xem xét cái hộp kia rất lâu, thấy không có gì khác thường thì từ từ mở ra thử, thấy một con rắn độc sặc sỡ rất to, nằm chình ình bên trong, vừa thấy Hề Sơn quân, nó chợt ngẩng phắt đầu, cắn trán nàng một cái, ra chiêu rất tàn nhẫn, như có chút pháp lực, hòng muốn lấy mạng nàng, đoạt hết cả tu vi. Chốn ngoài giáo hóa, nhiều dã yêu sống, toàn ỷ mạnh h**p yếu, giành giật tu vi của những yêu khác vốn là chuyện bình thường ở chốn ấy. Xà này ở chỗ Thúy Mông Sơn quân quan sát Hề Sơn quân rất lâu, thấy nàng say lắm rồi, có thể thừa dịp tranh thủ nên mới lén biến làm người, đi tới tặng quà, rồi tự trốn vào hộp.

Hề Sơn quân lập tức tỉnh rượu ngay, tiêu diệt con rắn độc, thấy trên bàn có nến, ầm một tiếng nổ to, tiện tay ném một cái, dùng pháp lực thiêu nó tới cháy đen. Nhưng độc đã vào trán, nàng tìm tới chỗ của Tam Giác Vọng tuế, chưa kịp nói gì đã ngất đi. Khi vừa mới tỉnh dậy, lại nghe có mấy vị Sơn quân trước giờ không hòa thuận nay muốn tranh thủ cháy nhà hôi của, cấu kết thành đám, định tới trả thù, đang ở dưới núi cắm cờ, kêu gào ầm ĩ đòi nàng lấy cái chết tạ tội.

Phù Tô nghe chuyện này, cảm thấy cực kì kinh ngạc, chàng chưa từng ngờ rằng, nữ tử như Hề Sơn quân mà khả năng gây chuyện thị phi lại xuất chúng đến thế, lúc nàng đang yên lành, hù nam dọa nữ, vênh váo tự đắc, không ai dám tùy tiện đắc tội, thế nhưng chỉ nghe phong phanh nàng đang không khỏe, chưa tới cảnh cây đổ khỉ tan mà đã có người tới cửa đòi diệt cỏ tận gốc rồi, đúng là khiến người ta phải dở khóc dở cười.

Mặt mũi Hề Sơn quân lúc trắng lúc xanh, răng nghiến kèn kẹt. Phù Tô nói: “Sơn quân bảo trọng, để ta xuống núi, xem rõ ngọn ngành, có khi giải được.”

Thúy Nguyên, Tam nương cũng cuống quýt đi cùng, dưới núi đang la mắng ầm ĩ.

Trong đám đó, có một Sơn quân mang sừng bò nói: “Ông trời có mắt, lũ khỉ tạp nham Hề Sơn cũng có ngày hôm nay, có gan thì kêu con ranh khốn Hề Sơn quân kia đừng có trốn, đại chiến với ta một trận, thanh toán toàn bộ cho xong!”

Lũ khỉ ngoáy lỗ tai, làm bộ không nghe thấy. Phù Tô nghe thế bật cười, hành lễ hỏi: “Xin hỏi Sơn quân, thanh toán gì thế?”

‘Sừng bò’ quân gào toáng: “Dựa vào gì mà nhà các ngươi ăn tết tặng quà toàn bắt con cháu nhà ta ăn? Ba trăm năm nay đều không thay đổi, cứ nhè mà bắt nhà ta mà ăn là thế nào!”

“Có việc này à?” Phù Tô xoay người, tụi khỉ con mặt đỏ ửng, lúng túng nói: “Tại tụi con đói quá, nhà bọn họ nhiều thịt.”

Trong đám đó, Sơn quân sừng dê than thở khóc lóc, “Mẹ nó ăn xong còn chê tụi ta hôi! Hề Sơn quân ngươi là cái thứ thối tha không biết xấu hổ!”

Phù Tô đang định khuyên lơn thì Sơn quân mào gà cắn cái khăn tay nói: “Các ngươi có ai thảm bằng ta? Mỗi lần gặp ta thì hai mắt nàng ta sáng rực, muốn làm chuyện phi lễ với người ta, muốn lột đồ người ta Đồ lưu manh!”

Tiểu hầu tử Hai Nhăm nuốt nước miếng, miễn cưỡng nói: “Hồng Xương quân, không phải Quân phụ muốn phi lễ ngươi đâu.”

Hồng Xương quân dưới dạng con gà không kiềm được nước mắt, che miệng, thút thít nói: “Phi! Cái đồ lưu manh đó lần nào vuốt màu gà ta cũng nói: Tiểu gia cầm, mau lớn nhanh. Ai là gia cmn cầm chứ! Ai không cmn lớn chứ! Cao thì hay lắm à! Kiếp trước là người thì giỏi lắm chắc!”

Phù Tô nhìn trời, mỉm cười hỏi: “Các Sơn quân chịu vũ nhục như thế, Tô rất đồng cảm. Xin hỏi các vị Sơn quân, nay cần phải làm gì?”

Sừng bò quân nói: “Bắt nàng mỗi cuối năm đưa khỉ qua nhà ta làm xâu thịt nướng!”

Sừng dê quân nói: “Kêu cái đồ thối không biết xấu hổ công kích cá nhân phải xin lỗi ta! Xin lỗi công khai! Giải thích công khai! Nói với mọi người chúng ta không có hôi! Lũ khỉ mới hôi!”

Hồng xương quân làm tay hoa lan chỉ: “Bảo nàng ta chặt một cánh tay, chặt cái tay chỉ mào gà của ta đó, chặ đi! Trả lại thân thể băng thanh ngọc khiết không tì vết của ta lại đây!”

Phù Tô nói: “Khỉ trên Hề Sơn đều là tảng đá, đá không ăn được nên thế này hơi khó. Nếu muốn Hề Sơn quân giải thích thì cũng dễ thôi. Ta có thể viết một phong thư, thay mặt Hề Sơn quân xin lỗi các vị. Về phần chặt tay, tính nàng hay mang thù, nếu mất tay rồi, bây giờ người bị thương không tiện tranh cãi, nhỡ khi nàng khỏe lại rồi thì chẳng phải sẽ càng táo tợn ăn gà nhiều hơn à?”

Lúc này Thúy Nguyên đang âm thầm lên núi, bắt chước kể lại như thật, trên trán Hề Sơn quân có mang một cái đai ngọc trên trán, bây giờ tháo đai ra, thân hình rất nhanh, chỉ trong nháy mắt, đã xuống dưới núi, dẫm nát tảng đá lớn, vung góc áo bào, vành mắt đen thui, mày đầy tà khí, hừ lạnh nói: “Muốn đánh thì lên! Muốn mang khỉ của ta làm xâu thịt thì bước ra đây!”

Sừng bò quân ngạc nhiên, thấy nàng không giống bị thương, nhưng đã phóng lao rồi, không thể không tiến tới. Sợi dây trong tay áo Hề Sơn quân lập tức phóng ra, trói chặt Sừng bò quân, cười lạnh nói: “Xưa nay ta luôn giữ mặt mũi cho Vinh Thọ quân, nhưng không thể thừa nhận bắt con chúa trên núi Sơn quân là sai. Người phàm dưới núi bắt heo mổ bò nhiều thế kia, sao ngươi không bắt từng người để hỏi tội?”

Sừng bò quân giãy dụa, chửi bậy mấy câu, Hề Sơn quân cầm cục vải nhét vào miệng hắn, nói với mười sáu người khác: “Sườn mang chiên, chân để hầm, sừng làm dược liệu mang xuống núi đổi được hai cân rượu hạnh hoa, lòng bò mang đi nhắm rượu!”

Sừng bò quân choáng váng, Sừng dê quân thấy nàng ra tay ngang ngược, mắng thẳng: “Ngươi là đồ thối tha không biết xấu hổ! Coi chừng bị sét đánh!”

Hề Sơn quân quát lại: “Giết người mới bị sét đánh. Cá lớn nuốt cá bé, trừ khi giết người, chứ ta giết ai cũng là một chuyện rất bình thường!”

Sừng dê quân á khẩu không trả lời được, cứ ‘Ngươi ngươi ngươi…’ mà không nói nổi thành câu. Hề Sơn quân lại nở nụ cười, “Phúc Đức quân, ngươi có biết tại sao ta chỉ chọn thịt bò ăn không?”

Sừng dê quân không chắc chắn lắm: “Để giữ mặt mũi cho ta?”

Hề Sơn quân cười tủm tỉm, “Ta trước nay cao quý, quả không thể chịu khổ, không thích thứ hôi hám.”

Sừng dê quân không thốt nổi nên lời, nghẹn đến hôn mê bất tỉnh. Mặt mày Sừng bò quân mới là kì lạ, thấy thịt mình ngon hơn thịt dê một bậc thì cũng vui, nhưng cảm thấy cũng thật đau lòng.

Gà quân bị dọa, rưng rưng nói: “Ta… Ta..”

Hề Sơn quân nhíu lông mày, hỏi dò, “Ngươi không phải gia cầm sao?”

Gà quân vừa chạy vừa khóc.

Bỗng Phù Tô ngạc nhiên hỏi, “Sơn quân, rốt cuộc là thịt người hay thịt bò ngon?”

“Đều không bằng quân.”

Trước đây từng xảy ra một vài chuyện, xảy ra rồi thôi, dù sao cũng là mầm họa không ai đoán ra được.

***

Lại nói, một ngày nọ, con khỉ con Hai Nhăm nhặt được một đứa trẻ mới sinh bên dòng suối, nó mang giỏ đi tới, khiến tất cả mọi người đều ngạc nhiên.

Nó nói muốn nuôi đứa bé này làm vợ, Hề Sơn quân mở cái chăn ra, là con trai, tinh thần Hai Nhăm sa sút suốt mấy ngày.

Môi đỏ hồng, mắt sáng trong, mũi nho nhỏ, tại sao lại là một bé trai cơ chứ?

Hề Sơn quân hơi lưỡng lự, bấm tay tính toán, hình như đứa bé này có chút lai lịch, trên người mang chút tiên khí nên giữ lại nuôi. Hai Nhăm ôm đứa bé không buông, Hề Sơn quân cứ lạnh lùng quan sát mấy ngày, thấy nó che chở chu toàn, dù sao cũng chẳng được mấy bữa nên cũng mặc kệ nó, bình thường cũng có Tam nương phụ chăm sóc.

Ban đầu tưởng nó chỉ là một đứa trẻ bình thường, ai ngờ đêm xuống, quanh người nó có một quầng sáng màu lam, tuy mỏng manh nhưng trong đêm lại càng rõ ràng.

Hề Sơn quân không biết lai lịch của đứa bé này, bế tới chỗ Vọng Tuế mộc, lão cây già vạn năm chỉ liếc mắt một cái thì liền nói: “Mau quăng nó đi, tai họa tai họa.”

Hề Sơn quân quay về căn phòng đá, móc một cái vỏ rùa trong tay áo tang, bói một quẻ, đúng là đại hung.

“Mau bỏ nó đi. Mấy năm qua Quân phụ con chưa từng bói sai bao giờ. Quăng nó đi, ta nhặt cho con một đứa đẹp hơn làm vợ.” Thúy Nguyên tỏ ra như chuyện sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn, nghiêm mặt với Hai Nhăm.

Hai Nhăm ôm đứa bé, lắc đầu.

Tam nương dụ dỗ: “Con ngoan, hồi trưa mẹ có nấu đồ ngon cho con ăn, mai đi chợ mua lê đông lạnh cho con ăn nhé, con nghe mẹ nè, quăng nó đi. Con thấy nó dễ thương vậy đó, nhưng mà không có hiểu gì đâu.”

Hai Nhăm rưng rưng, muốn rớt nước mắt nhưng nhịn xuống, quay đầu nhìn về phía Hề Sơn quân.

Trước nay Hề Sơn quân luôn thương nó, một năm trời, hơn nửa thời gian nó đều đi theo Hề Sơn quân, không thân cha mẹ bằng nàng. Bấy giờ khuôn mặt nhỏ nhắn như quả đào của nó mang vẻ cầu xin, Hề Sơn quân thấy Hề sơn vốn nghèo khó, mấy đứa nhỏ luôn rất hiểu chuyện, cũng tội nghiệp, trước giờ cũng chưa từng đòi hỏi gì quá đáng, nhìn đứa bé kia thật lâu mới nói: “Giữ đi, là họa thì không tránh khỏi.”

Hai Nhăm nín khóc mỉm cười, bế đứa bé rồi vái, “Quân phụ, con sẽ nuôi nó ngoan ngoãn, chờ ngày lớn sẽ thả xuống núi, nhất định không để gây họa cho nhà chúng ta đâu.”

Thúy Nguyên thở dài: “Trước đây Sơn quân ra tay khắc nghiệt, cớ sao lại chiều theo Hai Nhăm? Rõ ràng đứa bé mới sinh này cũng giống như Phù Tô, là một mầm họa, ta sợ Sơn quân nhất thời mềm lòng, hậu họa vô cùng. Ta đến chỗ A Niên hỏi thăm, tìm hiểu lai lịch nó, rồi sẽ xử lý.”

Tam nương không đồng ý: “Nay dưới nhân gian đang ôn dịch khắp nơi, những đại quốc Tề, Sở, Trịnh, Ngụy đều đóng thành trì, chàng xuống nhân gian lúc này thì không hợp lý lắm. Để mấy ngày nữa hẵng xuống núi.”

Thúy Nguyên phất áo bay bay, đã đi xa rồi, “Ta đi đường thủy, việc này chớ để trì hoãn thêm.”

Tam nương thấy hắn đã đi xa, khuyên không được nữa, chợt nhớ tới gì đó, quay đầu nói với Hề Sơn quân: “Từ khi công tử rời cung, Đại Chiêu ngày càng kém, khó thoát ngày hủ bại. Trần gian vậy, cũng đành thôi, nay cả tiên giới yêu quốc cũng lẫn lộn, đúng là thời buổi rối ren. Hai ngày trước, Mười Bảy ở chỗ Niên Thủy quân gửi thư tới, kể một chuyện. Thì ra, Đậu thần (*Đậu trong từ đậu mùa, ý chỉ thần quản dịch bệnh) và Thần Canh tiên (* tiên quản lý thời gian) đều nhìn trúng cao đồ của một thiên tôn. Vị cao đồ tiên nhân này xuống trần gian lịch luyện mấy trăm năm, vốn để tích lũy công đức phi phàm, sau này hồi thiên cung sẽ tăng thêm một phẩm cách, quản thêm một dãy núi sông, thế nên mấy đời đều là tướng gia ở trần thế. Vốn dĩ cứ yên ổn vậy là tốt rồi, nhưng Thần Canh tiên lại không chịu được cô đơn, lén xuống trần gian, đầu thai gặp tình lang. Mấy năm qua, người chấp chưởng giờ giấc đổi ngày đêm che sao là một tiên nữ thủ hạ của nàng ta, hai ngày trước khi có chuyện, một kẻ nặc danh đã tố giác thiên tôn kia dung túng đồ đệ dụ dỗ nữ tiên. Người cũng biết đó, hai vị thiên tôn… trước giờ không muốn để đối phương yên thân, chuyện vốn nhỏ, nay bị xé cho to.”

Hề Sơn quân ‘À’ một tiếng, cười nói: “E là Đậu thần làm gì đó phải không?”

Tam nương lắc đầu, cũng cười, “Chúng ta là yêu, dù tính tình hơi cố chấp một tí nhưng luôn tuân theo quy tắc, nay lại đến lượt các thần tiên phá hỏng thế đạo. Đậu thần vốn đã giao hẹn với Thần Canh tiên, khi cao đồ của Thiên tôn hạ giới, hai người họ không được ăn gian, tìm lí do đi xuống trần gian thăm người thương, tranh thủ vị tiên nhân kia là người phàm, đạo tâm không vững để câu dẫn. Nay Thần Canh tiên hạ giới một mình, sao Đậu Thần có thể không giận? Nàng ta đến chỗ Đạo tổ khóc lóc sướt mướt, mà người cũng biết rồi đó, tâm tư nàng ta mà loạn một cái là tụi trẻ con dưới hạ giới sẽ gặp bệnh đậu mùa ngay. Đạo tổ nhân từ, sai người xuống hạ giới tìm Thần Canh Tiên, ai dè lại tìm thấy tiên thân của nàng ta ở núi Cửu Nghi, nhưng lại không tìm được tung tích linh thể. Thần Canh Tiên quyết tâm không để chúng tiên phá hỏng nhân duyên của mình, hạ giới một cái liền ném bỏ tiên thân. Trần gian mênh mông, không ngửi thấy tiên khí của nàng thì sao tìm được?”

Hề Sơn quân híp mắt nói: “Tiên giới hiếm thấy ai si tình như vậy. Ôn dịch dưới nhân gian có liên quan đến việc này không?”

Tam nương nói: “Sao lại không. Đạo pháp Đạo tổ thâm hậu, có thể tìm được nhưng mà ngài tính toán xong, bảo trần gian nên có kiếp này, bỏ qua cho Thần Canh tiên. Đậu Thần chịu thiệt, bụng giận lắm, thầm oán Đạo tổ xử sự bất công, suy nghĩ rất lâu vẫn không thể nuốt trôi cục giận này, muốn lấy ti chức của mình để ép Thần Canh tiên ra mặt, vậy nên…”

“Vậy nên, nàng ta thả ôn dịch xuống trần gian, mười sáu phương ôn thần thì có một nửa đã hạ giới. Nhân gian gần trăm năm chưa gặp dịch, Đạo tổ sẽ không bắt tội, huống chi chỉ mới có một nửa trong mười sáu phương ôn dịch hạ giới, dù Đại Chiêu bị tổn hại nguyên khí nặng nề, nhưng cũng không tới mức diệt chủng. Chắc chắn Thần Canh tiên và vị Tướng gia nhân gian có cốt tiên linh căn sẽ biết, sẽ bất an, lúc đó có thể ép Thần Canh tiên xuất hiện, đúng là một hòn đá ném hai con chim, kế hay.”

Tam nương gật đầu, “Gần đây Niên Thủy Quân nhận được ý chỉ của thần, Đạo tổ muốn hắn thi pháp ở Xích Thủy và sông Trừng Giang, bảo vệ ngư dân, đều phòng nước bị nhiễm ôn độc. Mười Bảy viết thư báo chúng ta phải cẩn thận một chút, đề phòng ôn thần ghé qua.”

Hề Sơn quân nhìn ngày tuyết xám xịt, nói: “Những vị thần tôn đó hay nói, mạng người đã định từ trước, mạng yêu cũng đã định từ trước, tất cả đều được ghi vào sổ ở âm phủ, thế nhưng Đậu Thần hành động vậy, Đạo tổ không biết trước, âm phủ sao có thể đoán được? Đến lúc đó người chết rồi, họ phải bổ sung vào sổ, sau đó ra vẻ huyền bí, lại nói mọi giống loài đều là mệnh. Đạo thần quyền thế, muôn dân phước bạc, chẳng qua cũng như giun dế cỏ rác, há vì sao?”

Hai Ngăm ngã bệnh, trúng phong hàn, sốt rất cao.

Còn đứa bé kia thì trông đã lớn hơn một chút, môi đo đỏ, má trắng như phấn, nhìn đẹp đến kinh tâm động pháp, mang thêm vài phần dị tướng. Hề Sơn quân có lấy vỏ rùa ra bói mấy lần, hung tượng càng rõ. Nàng dựa vào bàn đá để nghỉ một chút. Nay đã tu đạo, ít khi mơ thấy gì, nếu có ngẫu nhiên gặp thì chắc chắn là trời cao đang gợi ý điều chi.

Ngày hôm đó, nàng đã mơ một giấc mơ rất cổ quái.

Thời tiết trong giấc mộng của Hề Sơn quân đang ấm áp. Đó là vào một đêm hè, nàng đứng trên bãi cỏ tươi tốt chưa từng ai đi qua, ở đó có một gốc đại thụ rất cao, chẳng thua gì Vọng Tuế, một đứa bé đang đứng dưới tàng cây.

Đứa bé đó vươn tay ra, đau đớn gọi: “Quân phụ, cứu ta, cứu ta!”

Hề Sơn quân để ý vẻ ngoài của đứa bé kia, không chỉ có mấy phần giống Thúy Nguyên mà còn giống cả Tam nương nữa, những thật sự là chưa gặp nó bao giờ. Nàng ngờ vực đi tới dưới tàng cây, thế nhưng vừa bước đến gần thì nghe thấy tiếng ù ù, cực kì ầm ĩ.

Nàng ngẩng đầu lên thì giật mình. Trên cây đại thụ có nhung nhúc lũ châu chấu đang làm tổ, tụi nó đang gặm đại thụ, đứa bé đau khổ khóc lóc, đưa tay ra nhưng không thể động đậy, nó nói: “Quân phụ, là ta.”

Hề Sơn quân lại bước thêm bước nữa, hình như lũ châu chấu trên cây cảm thấy động tĩnh, ngừng phát tiếng động, con mắt đen thùi nhìn trừng trừng Hề Sơn quân. Hề Sơn quân nhìn vào con ngươi đen kịt, nuốt nước miếng, thấy tê hết da đầu, thế nhưng chưa kịp trốn thì cả ngàn cả vạn con châu chấu đã kéo về phía nàng, đứa bé đối diện bỗng nở nụ cười quỷ dị, “Người không cứu ta, chỉ có thể như thế. Chúng ta, chết chung.”

Nháy mắt, đứa bé đó cao lên, ngoài châu chấu kéo đàn đàn thì mây trên trời cũng biến đổi thất thường, nàng nhìn nó biến thành một thiếu niên anh tuấn, rồi nháy mắt có cả nếp nhăn, tóc bạc, cong người, chống cây gậy, cuối cùng, sống lưng cong vòng, làn da chảy nhão đang cố bám víu, nó cúi thấp đầu, châu chấu đang g*m c*n Hề Sơn quân, rất lâu sau, nó ngẩng đầu lên, xương cốt cả người gần như sắp mục nát, gương mặt đó lại biến thành một người khác.

Hắn mỉm cười, nói một cách quỷ dị: “Quân phụ, ngươi nhìn ta một cái đi, đẹp không?”

Khuôn mặt đó, là… Phù Tô lúc trẻ.

Hề Sơn Quân hét lên một tiếng, giật mình tỉnh giấc từ trong mộng.

Mặt nàng đầy mồ hôi, hoảng hốt nhìn xung quanh, Phù Tô không ở trong căn phòng đá.

Hề Sơn quân đẩy cửa ra, gió quyết thổi vào áo, định đi tìm Phù Tô, xa xa, có một người mặc áo vàng đang mày ủ mặt chau, là Tam nương.

Vừa nhìn thấy Hề Sơn quân, chị như nhìn thấy nơi bám víu, ôm lấy nàng khóc lóc, “Không ổn rồi, Hai Nhăm không ổn rồi!”

Trái tim Hề Sơn quân đập mạnh, “Sao lại không ổn? Bệnh phong hàn bình thường, sao lại không ổn?”

Tam nương khóc lóc không nói nổi lên lời, chỉ lặp đi lặp lại, “Mau đi thăm nó đi, Sơn quân, người mau cứu nó đi, mau cứu nó đi!”

Trong cái nôi, trán đứa bé sơ sinh hiện lên một con rồng, trông như vừa uống máu, cứ cười khanh khách, tỏ ra rất thỏa mãn. Còn Hai Nhăm nằm trên giường, không có sức sống, màu lông xám xịt, khuôn mặt tiều tụy, móng vuốt nổi gân xanh.

Nó nhìn thấy Hề Sơn quân, tỏ ra rất vui mừng, ch** n**c mắt lã chã, yếu ớt nói: “Quân phụ.”

Mi tâm Hề Sơn quân nhíu sâu, mũi cũng cay cay, tới sát mép giường, dịu dàng hỏi thăm: “Con ngoan, con thấy thế nào rồi?”

Hai Nhăm khẽ gục gặc cái đầu nhỏ, vẫn cười như bình thường, nhưng không có sức sống. Phản ứng của nó chậm chạp, từ từ thưa: “Con thấy con sẽ khỏe ngay thôi. Con mới mơ thấy lê đông lạnh, được cắn một cái, ngon như trước đây con từng ăn, thật tuyệt vời.

Hai Nhăm mới sáu bảy tuổi, thứ ngon nhất được ăn cũng chỉ là mấy quả lê mà các Sơn quân khác mang tới Hề Sơn vào ngày tết. Hề Sơn quân nhịn tạm không ăn, nhưng sợ nó hư mất nên chôn lê trong tuyết để đông lạnh. Trước đây Hai Nhăm thường xuyên giật mình khóc đêm, lúc ngủ với nàng, nó vừa khóc thì nàng lại lấy một quả lê, cầm muỗng gỗ múc cho nó ăn, Hai Nhăm lập tức nín khóc, nước mắt rơm rớm nhìn quả lê, mắt sáng trưng. Nó cảm thấy đây là thứ trái cây ngọt lành nhất trên đời, hưng phấn hỏi: “Quân phụ, đây có phải là trái đào của Vương mẫu nương nương trong truyền thuyết không? Ăn ngon đến thế.”

Hề Sơn quân lại cười, vừa lau nước mắt cho nó, vừa kể câu chuyện ngày xưa, con khỉ con từ từ thiếp đi, một đêm say ngủ.

Nhớ lại chuyện ngày trước, nay thấy Hai Nhăm như đèn sắp tắt, trong lòng Hề Sơn quân cảm thấy đau thương, bắt mạch cho nó thì lại càng khó chịu hơn, gắng gượng cười bảo: “Ta đi mua lê đông lạnh cho con, khi nào con dậy rồi thì thích bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu.”

Nàng xoay người định bỏ đi, Hai Nhăm lại òa khóc, mắt vẫn còn tri giác, nó sợ hãi khóc than: “Quân phụ, người ôm con một cái được không? Từ khi con lớn lên thì người chỉ ôm đệ đệ thôi, lâu rồi không ôm con. Quân phụ, người đừng đi, con không cần lê, con không cần đào, con không muốn gì hết, xin người ôm con đi, con không muốn chết, con biết con không hiểu chuyện, trong nhà có đông anh em cháu chắt như thế, không ai được xin cha mẹ hay quân phụ yêu thương mình nhiều hơn, nhưng mà quân phụ ơi, người ôm con một cái đi, trước khi con chết người ôm con một cái đi, con có một mình hà, con sợ lắm.”

Hề Sơn quân chịu đựng một lúc, thở một hơi mới bình tĩnh nói: “Con ngoan ngoãn nghỉ ngơi, chớ suy nghĩ nhiều. Ta gọi mẫu thân mua lê cho con, ta cũng đi xin thuốc đây.”

Hai Nhăm ôm chăn, núp trong góc tường, nó nhìn Hề Sơn quân rời đi, ngừng ch** n**c mắt, cắn răng, sau đó không phát tiếng động nào nữa.

Đứa bé trong nôi, đôi mặt ban nãy hẳn còn ngây thơ, nay lại âm lãnh nhìn về phía Hai Nhăm.

Hề Sơn quân đi tới chỗ các Tiên y để xem bệnh cho Hai Nhăm, họ đều lắc đầu, bảo là đại nạn tới, dù thế nào cũng không thể khởi tử hồi sinh. Hề Sơn quân biết chuyện này có liên quan đến đứa bé kia, liền về chỗ Hai Nhăm mang đứa bé tới đích thân trông.

Trông nó mấy ngày cũng không nhìn thấy manh mối gì, nhưng mà từ khi rời khỏi Hai Nhăm, đứa bé trông cũng mất sinh khí, khuôn mặt nhỏ xíu tròn trịa nhanh chóng khô quắt, suốt mấy ngày sau, không biết sao tắt thở.

Hề Sơn quân không hiểu gì cả, nhưng rồi mấy ngày sau đó, Hai Nhăm lại tự dưng khỏe lại. Có điều hình như đứa bé này lại biến thành người khác, không thích nói chuyện tình yêu như thường ngày, nhìn Hề Sơn quân mà không tỏ ra thân thiết như ngày xưa.

Mọi người không kịp để ý tới chi tiết nhỏ này, thấy cuối cùng Hai Nhăm cũng bình an, ai cũng rất vui.

Hề Sơn quân cứ cảm thấy có gì không ổn, nàng mơ một giấc mộng quỷ dị như vậy, bói toán lại ra kết quả như thế, trong lòng cứ lo lắng. Thúy Nguyên vẫn chưa về, nàng đành phải lên tinh thần, để ý mọi lúc.

Được mấy ngày sau thì lại có chuyện vui, Tam nương phát hiện mình có thai. Hề Sơn quân bắt mạch tính thử, mới hơn một tháng, cùng khoảng thời gian đứa bé kia tới Hề Sơn quân.

Nàng như vừa ngộ ra gì đó, thường lơ đãng, mắt cứ trôi về phía cái bụng của Tam nương. Nàng biết bên trong chứa cái gì, có mỗi nàng hiểu.

Mộng đã được giải.

“Tam nương, bấy giờ đang bộn bề, không thể giữ đứa trẻ này được.” Hề Sơn quân cẩn thận quan sát thần sắc của Tam nương.

Nháy mắt khuôn mặt của Tam nương tái mét: “Người đang nói gì thế?”

Hề Sơn quân hỏi, “Tuy là con của ngươi, nhưng nếu là mầm họa, có giữ nữa không?”

Tam nương lảo đảo, chị lúc nào cũng nghe theo lời của Hề Sơn quân, gục đầu, mặt đỏ hoe, nuốt nước mắt, mãi lâu mới nói: “Đều nghe theo quân. Chỉ là… chỉ là A Nguyên đã biết, vậy sẽ làm to chuyện, không chịu làm huề, nếu người… Không, ta sẽ đem… đem cốt nhục trong bụng này vứt đi, người… người không cần nói cho chàng ta biết ta từng mang thai, tránh để chàng đau lòng.”

Hề Sơn quân nhìn chị khổ sở vậy rất lâu mới nở nụ cười, xoa xoa tóc mái của chị, dịu dàng nói: “Gạt ngươi thôi, cô nương ngốc. Đừng khóc nữa, khóc là mắt sưng vù, xấu lắm.”

Tam nương lại khóc, đập vào nàng: “Sao người lại lừa ta như vậy? Ta đau khổ muốn chết! Nữ sơn tặc này, cái thứ không da không mặt không tâm không can, bắt nạt công tử, còn bắt nạt cả ta! Chúng ta thiếu nợ người à?”

Hề Sơn quân nở nụ cười, mắt cong cong, “Chàng thiếu ta, nhưng ta thiếu ngươi.”

Nàng lại tiếp: “Hai ngày tới ta phải rời khỏi nhà một chút, không ở trên chúi nên cho ngươi chút pháp lực cầm cự, chờ Thúy Nguyên về thì để hắn bảo vệ thai cho ngươi.”

Hề Sơn quân chuyển cho cái bụng của Tam nương hơn nửa yêu khí, mặt lúc vàng lúc đỏ, lúc bình thường lúc đau đớn, xưa nay chưa từng chịu qua.

Cuối cùng, một tia sáng chói mắt quay trở về cơ thể Hề Sơn quân, Tam nương hơi ngạc nhiên, không hề biết pháp lực của Hề Sơn quân lại cao thâm đến thế, linh khí lúc nhận pháp lực lại mạnh như vậy.

Lồng ngực Hề Sơn quân hơi nghẽn, hình như trong miệng có gì nhưng cố nuốt lại. Nàng phủi mông bỏ đi, “Ta đi chuyến này, nhanh thì dăm ba ngày, lâu có khi nửa tháng.”

Tam nương chưa từng thấy nàng hoảng loạn như vậy, chưa kịp dặn dò gì đã không thấy bóng dáng.

***

Hề Sơn quân đến giữa sườn núi mới phát hiện Phù Tô vẫn luôn theo mình. Chàng yên lặng, thính giác của nàng hơi suy giảm nên nhất thời không nghe thấy, thế nên lúc quay đầu thì hơi giật mình.

Chàng công tử ấy vẫn luôn đi theo nàng, cách một đoạn không xa.

“Sơn quân hoảng loạn như thế, ấy vì chuyện gì?” Phù Tô nhìn nàng, lông mày nhàn nhạt.

Hề Sơn quân buồn bã nói: “Chàng theo dõi ta?”

Phù Tô nghi hoặc, hỏi: “Làm gì mà sợ người khác đi theo?”

Có gì đang xao động trong người Hề Sơn quân, nàng đè xuống, thần sắc hơi cổ quái, cười bảo: “Chàng mau về đi, nếu ta sử dụng pháp thuật thì chàng không theo được đâu. Nay dịch bệnh nổi lên tứ phía, chẳng có chỗ nào được thái bình, ta đã đặt kết giới ở Hề Sơn, nay chàng ngoan ngoãn đợi đi, ta đi mấy ngày rồi về.”

Hô hấp nàng dồn dập, tốc độ nói cũng nhanh. Xoay người định thi pháp, bỏ Phù Tô mà đi thì thiếu niên níu áo tang bảo: “Ta biết đứa trẻ kia là thứ gì.”

Hề Sơn quân giật mình, quay đầu nhìn Phù Tô, Phù Tô lại nói: “Ta từng đọc trong sách, mấy ngày trước đã sinh nghi, nay thấy Tam nương mang thai, ta cũng chỉ phỏng đoán, có lẽ có liên quan đến truyền thuyết thời Chính Nguyên.”

Phù Tô lấy ra một món dài dài trong tay áo lam ra, phần đầu nhô ra mặt gương cực mỏng. Thân khảm rất nhiều ngọc vỡ và đá xanh đỏ, dưới đá là vàng, dưới nắng mặt trời, cực kì chói mắt.

Chàng đưa nó sát lên hốc mắt trái, mặt gương hướng về phía chân núi, nheo mắt.

Hề Sơn quân đã trên núi này nhiều năm, chưa từng nhìn thấy thứ này, điều chỉnh hơi thở, hỏi: “Đây là gì?”

Phù Tô xoay ống đồng, lẩm bẩm: “Phương xa có chướng khí, nay thấy không rõ ràng, chỗ cách ba ngọn núi kia là gì? Ở đó có rất nhiều sóc đuôi dài và một nam tử bị mù, hắn đang ôm một con lợn rất mập.”

“Thúy Mông Sơn quân? Chàng thấy được à?” Hề Sơn quân nghi ngờ nhìn thứ dài dài trong tay Phù Tô chằm chằm, hơi giật mình.

Phù Tô cất nó lại: “Yêu thông minh mà. Nàng và ta không có gì khác nhau, sợ gì ta liên lụy nàng?”

Chàng lại nói: “Tương truyền thời Chính Nguyên là lúc vừa có người, trên Thần Châu từng xuất hiện ôn dịch, khi đó ôn thần hoành hành ngang ngược, dấu vết trải dài khắp mọi nơi. Trong [Chính Nguyên chí] còn từng ghi lại, có một nữ tử, dẫm lên vết chân của ôn thần Nhiếp Côn, về sau sinh con, trừ chỗ người này thì cả người lẫn vật đều bị nhiễm bệnh, người chết trước thường là người mẹ. Đứa bé Hai Nhăm nhặt được có lẽ là Ôn thần Nhiếp Côn. Hắn lĩnh mệnh hạ phàm, sinh ra trong nước, xuôi dòng tới Hề Sơn. Để lớn lên, Nhiếp Côn đã hấp thụ máu huyết Hai Nhăm, nhưng Hai Nhăm chỉ là một đứa bé, không thể giúp hắn tăng thêm bao nhiêu, vì thế tranh thủ Tam nương mang thai, thoát xác, chui tiên khí vào trong bụng chị ta, thừa dịp hấp thụ đạo hạnh Tam nương và Thúy Nguyên, hại hai vợ chồng họ, đến ngày ra đời chắc chắn sẽ mặc sức vùng vẫy, có thể thuận lợi hoàn thành sứ mạng trời cao.”

Hề Sơn quân nhìn chằm chằm vào ống đồng khảm ngọc và đá quý, không để ý lời Phù Tô nói, mỉm cười bảo: “Các tiên nhân làm gì cũng đều có suy tính, lúc bọn họ tùy hứng thì lũ yêu quái chúng ta không thể đối kháng trực tiếp, thuận theo cũng là bình thường, chàng thông minh như vậy, dù sao cũng là bằng chứng cho thấy trời xanh nhân từ, để cho Đại chiêu một đường sống.”

“Là nàng đã cho ta một đường sống.” Phù Tô lắc đầu, chỉ vào ống đồng thanh mảnh hỏi, “Thứ này tên là Thiên lý nhãn, nghe là món đồ tiên nhân để lại, phụ hoàng khảm nhiều thứ thế này lên, sau đó ban lại cho ta. Mỗi khi ta muốn biết thế giới bên ngoài trông như thế nào thì lấy nó lên xem. Lúc ông ấy chôn ta, cũng đặt cái thiên lí nhãn này bên cạnh gối ngọc trong quan tài.”

“Vì sao lần này cứ nhất định đòi xuống núi?”

Phù Tô nhìn khuôn mặt u ám của Hề Sơn quân, hỏi ngược, “Vì sao ban nãy nàng vẫn chưa ngã xuống? Rõ ràng đã tự dẫn linh thế Nhiếp Côn vào trong cơ thể của mình mà.”

Để giữ lại cái thai của Tam nương, nàng đã cưỡng chế giữ ôn thần.

Hề Sơn quân cười bảo: “Ta chưa tới giới hạn, sao lại ngã được.”

Phù Tô giơ thiên lý nhãn lên bầu trời màu cam, xoay ống đồng, nói: “Mặt trời sắp xuống núi rồi.”

Hề Sơn quân giữ tay Phù Tô, phát một tia pháp lực cuối cùng, tay áo gai nổi gió, “Trên thế gian này, nơi duy nhất có thể hóa giải lệ khí ôn thần là Thục quốc Phong Đô. Nếu chàng nguyện đến, ta cũng tùy chàng.”

***

Hề Sơn quân đã mất hết pháp lực, hai ngày sau, vẫn còn cách Phong Đô nửa ngày đường.

Miệng nàng muốn phun ra một ngụm máu tươi, nhìn qua Phù Tôm sợ chàng thấy mà bất an nên cố gắng nuốt vào. Nàng nói: “Chàng cõng ta, tránh đi đường cái. Ta sợ sắp không áp chế được ôn thần, đến lúc đó gieo họa cho người thường, để gã dựa vào thân xác người khác, lan truyền dịch bệnh, sẽ thành đại họa.”

Phù Tô gật đầu, thắt áo bào có hoa văn hình mây bên hông, cõng Hề Sơn quân lên, lúc này mới nhận ra nàng gầy yếu đến thảm thương, hầu như không thấy nặng chút nào.

Sắc trời từ từ tối dần, bọn họ đi nhanh trên con đường sáng trăng. Hề Sơn quân hơi mê man, nhưng không dám ngủ, miễn cưỡng cười bảo, “Công tử có biết hát không?”

Phù Tô lắc đầu, “Không biết. Mỗi khi cúng tế Xuân thần hằng năm, phụ hoàng sẽ giao cho ta nhiệm vụ giáo hóa, ta hát không hay, Nhị đệ, Tam đệ thường hát thay ta.”

Hề Sơn quân cong mắt, “Hát thử đi, chốn thôn quê không có ai nghe, không hay thì cũng có sao?”

Khuôn mặt Phù Tô thản nhiên, tóc đen dưới ngọc quan chầm chậm bay lên, mang theo một độ cong dịu dàng. Chàng rũ mắt xuống: “Nếu nàng mà cười, ta sẽ hất xuống ngay.”

Hề Sơn quân nằm trên lưng của thiếu niên, cố hết sức gật đầu thật mạnh.

Giọng Phù Tô nhẹ nhàng lành lạnh, nhưng mà lúc ngâm nga không câu nào đúng ngũ âm. Hề Sơn quân nghe xong, nhắm mắt, lúc lâu sau mới nắm chặt hai tay, mặt mũi đỏ bừng. Mặt Phù Tô sa sầm, nghiêm giọng nói: “Nàng thử cười đi?”

Hề Sơn quân cười ha hả, ôm gáy Phù Tô, bám chặt lưng chàng, như con sói đang hú một tràng dài, cứ hướng về ánh trăng trong trẻo, cười đến lưỡi trong họng cũng run lên, khí thế như cầu vồng.

Phù Tô ngẩn người, phát hiện sự uy h**p của mình không hiệu quả nhưng vẫn không buông tay mà nắm thật chặt, lúc sau mới bảo: “Còn nghịch nữa, ngã chết bây giờ.”

Hề Sơn quân chơi xấu cọ má Phù Tô. Nàng như một con thú nhỏ, thân thiết hỏi: “Tiểu tướng công, có ai từng nói với chàng rằng, thích chàng lắm?”

“Bọn họ hoặc sợ ta, hoặc coi thường ta, đa số đều không thích ta.”

Giọng nói của Hề Sơn quân bỗng vang vang, nàng nở nụ cười, “Ừ, bọn họ đúng rồi. Ta cũng không thích chàng, không… thích tiểu tướng công của ta!”

Khuôn mặt của Phù Tô biến hóa lạ thường, thản nhiên đảo mắt, chàng rất nghe lời thuận theo, “Ta cũng không thích nàng.”

***

Nếu hỏi quỷ Phong Đô ở đây có gì nhiều nhất, thì chắc chắn không phải quỷ mà lại là… quan tài. Phong Đô là chợ gỗ lớn nhất ở Bách quốc, đương nhiên cũng có loại quan tài tốt nhất. Cây lim, cây lê, cây thị, cây nhãn, nghĩ tới cái gì đều có cái đó. Khắc nào là đại bàng, chim hạc, sư tử đỏ, trăm con ngàn cháu, tiên nữ dâng hoa, đúng là… đa dạng quá chừng.

Hề Sơn quân mang cầm thiên lý nhãn của Phù Tô, đổi một cái quan tài bình thường nhất.

Sau đó, sau khi quan tài được mang đến Thiện nhân trang gần Thập vương điện nhất, cũng chính là nghĩa địa của những người chết tha hương không ai nhận xác.

Sau đó, Hề Sơn quân đi vào nằm, nhắm mắt, đóng quan tài.

Nàng dặn Phù Tô, để mượn quỷ khí Phong Đô làm tan lệ khí Ôn thần, tiễn hắn về chầu trời, trong vòng bảy bảy bốn chín ngày không được phép mở quan tài dưới mặt trời.

Tuyệt đối không thể.

Mặt mày nàng hung ác, biểu tình dữ tợn, đau đớn đến mức hù dọa Phù Tô, Phù Tô ngồi bên cạnh hơ lửa, nướng khoai lang.

Chàng đang nhớ cái thiên lý nhãn của mình.

Đồ quý không để lộ, đúng là một danh ngôn chí lý không đổi ngàn năm nay.

Chàng không thích yêu nữ, câu này là thật. Ai mà thích nàng chứ? Kẻ thấy quỷ e à.

Miệng ăn núi lở, được mấy ngày, Phù Tô đành phải ra ngoài kiếm ăn. Tuy là quỷ thành nhưng không biết tại sao mà tình hình bệnh dịch ở Phong Đô cũng nhẹ nhất Thục Quốc.

Mì dầu đỏ ở Phong Đô cực kì nổi tiếng, mặt canh màu đỏ, mì trong mềm dẻo, Phù Tô đứng trước quán hồi lâu mới thản nhiên hỏi: “Chủ quán, có tìm tiểu nhị không?”

Nếu hỏi tại sao một Thái tử cao cao tại thượng làm thế nào để tiếp cận nghề bếp hay thậm chí là làm mì thì chỉ có thể nói, chàng không có thiên phú ca hát, nhưng nấu ăn, cầm dao kéo mì lại rất lành nghề.

Cái gì cũng cần thiên phú. Chẳng hạn như khi chàng làm Thái tử thì bị người ta chôn sống bức cung, bị chúng thần khinh bỉ, nhưng khi chàng kéo sợi, nấu canh, lửa hừng hực thì mọi người lại khen giỏi lắm.

Có điều sang ngày thứ ba mươi, cả Phong Đô đều biết, có một tiểu ca đang tranh mối làm ăn với Diêm vương, ăn bánh canh của người đó còn hơn thắp mười cây nhang.

Lúa mì tuốt vỏ, bột mì bay bay phủ lên vớ đen, làm mờ cả mắt, suýt nữa Phù Tô đã quên, mình còn một vị hôn thê chưa tỉnh lại, đang ở trong quan tài.

Từ đây đến bốn mươi chín ngày, còn hơn nửa tháng nữa.

Mấy ngày qua, cả nước Thục Quốc đang giới nghiêm, rất ít người qua đường. Người ăn mì dầu đỏ cũng vắng hơn nhiều, chủ quán ngủ gà gật. Trên lông mày, lông mi của Phù Tô toàn là bột mì, tay vẫn còn cầm một cục mì trắng tròn dẻo quẹo.

Có một số chuyện chỉ xảy ra trong chớp mắt, mà có một số chuyện xảy ra trong chớp mắt thường biến thành bóng ma cả đời của một người.

Phù Tô là một bóng ma.

“Tiểu tử, cho mười tô mì.” Người mới tới thở một hơi khí lạnh, giọng nói rất quen thuộc.

Phù Tô ngẩng khuôn mặt đầy bột, nhìn thấy thiên tử điện hạ đang cải trang vi hành, cha của chàng.

Cả Thục quốc cũng có ôn dịch, vài vị Hoàng tử điện hạ không đủ tác dụng trấn an, thiên tử điện hạ cũng ngồi không yên.

Rốt cuộc, ông ấy cũng đã đến đây.

“Mười bát?” Phù Tô cúi đầu, tập trung nhào bột, cứ như đó không phải là một cục bột mà là một con nhím đầy gai.

Bệ hạ nhếch lông mày tỏ ra tự đắc, gật đầu.

Sau ngài chỉ có vài thị vệ và Tam hoàng tử được sủng ái nhất đi theo, Thành Cát.

Thị vệ điêu luyện chỉnh tề, Thành Cát tử y nhẹ nhàng.

Chủ quán đã tỉnh, thấy người tới bất phàm, ân cần đưa tay giúp Bệ hạ cởi cái áo choàng bằng chồn bạc. Phù Tô nhìn thấy cái áo choàng màu bạc kia, dày dặn mềm mại, lấp lánh dưới ánh nắng ngày đông, không có một chút tạp sắc.

Chàng xăn tay áo mỏng, thở một hơi lạnh, hai cánh tay thon dài bắt đầu cán mì.

“Đây là con ông chủ à?” Bệ hạ rất gần gũi và bình dị, trò chuyện cũng chủ quán, “Trông cũng khá đấy.”

Chủ quán cười, ông không có con cái, thấy Phù Tô ôn hòa hiểu chuyện, lại mồ côi nên ý định nhận nuôi, sau này có người dưỡng lão, ngầm thừa nhận, khom người cười bảo: “Chỉ có chút sức đó thôi, người nghèo hèn, không đáng nhắc tới, không đáng nhắc tới.”

Bệ hạ cũng cười. Khi ngài còn trẻ rất anh tuấn, đến tuổi trung niên có thêm vài nếp nhăn thì lại có phần uy nghiêm thần khí hơn, “Ngươi chỉ có một đứa con này à? Vậy chắc chắn thương nó lắm.”

Chủ quán khom lưng cười: “Kiếm sống ấy mà, nào có để ý thương hay không, không chết đói là được rồi. Còn quý nhân thì sao? Chắc quý nhân là người nhiều con nhiều phúc lắm.”

Bệ hạ nở nụ cười, Phù Tô giơ tay kéo cục mì thành một dải trên không trung, ngăn tầm mắt của Bệ hạ và mình. Chàng cúi đầu nhìn tay áo cũ nát dơ bẩn của mình, tay khựng lại.

Phù Tô hơi lạnh, nghiêng đầu hắt hơi vào không khí.

Bệ hạ trầm mặc, một lúc sau mới cười nói: “Ta có mười tám con trai, năm đứa con gái.”

Trước kia ngài thường bảo, ta có mười chín con trai năm đứa con gái, hai mươi lẻ tư, nghe như con chết (*tử – chết trùng âm với tư), một con số không may mắn.

Tử y Thành Cát nghe xong khẽ mỉm cười. Thiếu niên ấy trông đẹp lắm, lại rất cao sang, cười lên rất rực rỡ như đóa tường vi ở góc tường, kiêu ngạo, mang cảnh xuân tới cả phòng. Bề ngoài nó giống Bệ hạ nhất, ngài thương nó, thường nói trước chúng thần rằng: “Trong tất cả các con, duy mỗi Cát giống ta.”

Phù Tô bỏ mì vào nước sôi, nồi nước hầm xương nổi bong bóng sôi sùng sục, bong bóng nổi lên rồi nổ ra, hết đợt này đến đợt khác.

Chàng bổ củi quăng vào lò lửa đã cháy lâu, sau đó dùng hết sức thổi lửa.

Chủ quán rảnh rỗi trò chuyện: “Già thường hay nghe người ta nói, các quý nhân đi xa thường không mang trưởng tử theo, để đứa thừa tự ở trong nhà để tránh nhỡ đâu, không biết có thật không?”

Năm Tề Minh thứ bảy, kinh thành gặp động đất, thiên tử mang tất cả con cháu và phi tần rời đi, chỉ để lại một mình Thái tử và Hoàng hậu đang lên cơn suyễn trong cung Bình Cát. Năm Tề Minh thứ tám, tướng quân nước Ngụy – Ngô Triều mưu phản, Bệ hạ thuận theo ý dân ngự giá thân chinh, chỉ mang theo một đứa con tùy giá, đó chính là Thành Cát, con trai của quý phi Trịnh thị.

Công tử Phù Tô vẫn rất bình tĩnh, đây là nhiệm vụ trời xanh ban xuống. Cho dù phụ thân không gần gũi với chàng, nhưng từ xưa tới nay, chẳng phải luôn giáo dục Thái tử như vậy hay sao? Đích tử khác với những nhi tử khác, chuyện đích tử phải làm, những đứa con khác không cần làm, chuyện đích tử muốn làm, ngài không thích thì chàng không được làm.

Chàng thường xem hai chuyện tiêu biểu đó là nỗi khổ tâm muốn dạy dỗ của phụ thân dành cho mình, cũng là dấu hiệu cha coi trọng mình. Như nhau hết, các Thái tử khác cũng vậy mà. Tuy là từ sau thống nhất thì chưa có Thái tử nào có kết cuc tốt, người thì chết, kẻ bị phế, nhưng có ai dám bảo do phụ hoàng bọn họ không vì tình thế bắt buộc, không mong ngóng con mình được trưởng thành khỏe mạnh chứ, chẳng qua chỉ là bị hiện thực phũ phàng đánh bại mà thôi.

Cơ chế tự an ủi bản thân của Phù Tô luôn hoạt động rất tốt.

Chàng thiếu niên vừa cố gắng thổi lửa, vừa dỏng tai lắng nghe. Chàng hi vọng nghe phụ thân nói rằng, chuyện là vậy đó, trưởng tử phải có trách nhiệm của trưởng tử, tuy thích nó, thương nó lắm, nhưng mà đành phải nghiêm khắc vậy thôi.

Chàng cho rằng Bệ hạ sẽ nói như thế, chàng cảm thấy cha chàng là người như vậy.

Bệ hạ ngẩn người, vuốt cằm nói: “Tuy là nói như vậy, nhưng đã xa nhà mà còn không mang đứa mình thương theo, không biết nó nóng lạnh đói khát hay không, chẳng hay nó ăn ở đi lại thoải mái hay không thì trong lòng khó tránh lo lắng nhớ thương, xa nhà không thể yên tâm. Đứa bé này là trưởng tử của ta và thê tử đấy.”

Thành Cát cúi đầu nhìn Bệ hạ. Nó vẫn chỉ là một thằng bé mười lăm mười sáu tuổi, nhoẻn môi cười cong cong như hoa tường vi, “Phụ thân.”

Bệ hạ vỗ nhẹ lên tay nó, nhìn lửa trong lò bỗng bùng lên, ấm áp và sáng rực. Khói làm cay mắt, chàng thiếu niên nghèo hèn ngồi xổm cạnh lò lửa, cứ đưa mu bàn tay đen thùi che mắt.

Phù Tô bưng mười tô mì tới, cúi mắt đứng một bên. Mì trắng nước đỏ, rất hấp dẫn. Rõ ràng nhóm người này được giáo dưỡng học lễ nghi rất tốt, lúc ăn mì cũng nho nhã cực kì, không có tí dáng dấp của kẻ nơi phố chợ.

Chủ quán cung kính đứng hầu hạ bên cạnh, không dám hó hé. Nhất thời, cửa tiệm hơi yên tĩnh.

“Ăn ngon không?” Tất cả mọi người đều giật mình, nhưng mà giọng nói này khản đặc, rất thô, khiến người ta không thể lờ đI.

Bọn họ ngẩng đầu lên mới chú ý tới chàng trai làm mì, mặt đầy bột, người dơ bẩn, nhìn chẳng rõ mặt mày. Chủ quán cũng phát hoảng, ông cũng không biết tại sao mà nháy mắt giọng nói của Phù Tô lại thành ra như thế.

Trong tô mì của Bệ hạ còn non nửa, nếu như bình thường ngài ăn cơm thì thế cũng miễn cưỡng coi là vừa lòng rồi.

Bệ hạ vẫn không ngẩng đầu, chỉ nói: “Mì hơi cứng, nước canh chưa được lọc, còn cặn xương, nói vậy, mì của ngươi trong bếp nhà ta, chỉ được hạng mạt đẳng.”

Thành Cát thả đôi đũa trúc, người mặc áo bào tím, thong thả cười, tay cầm miếng ngọc song ngư, ném xuống chân Phù Tô, “Thưởng cho ngươi. Mặc dù không biết quy củ, ở nhà ta, đầu bếp thế là bị chặt đầu rồi, nhưng gần đây lão gia ăn không ngon miệng, ngươi có thể khiến ngài ăn được vài miếng thế, dù sao cũng có ân với ta.”

Chủ quán cầm miếng ngọc, dập đầu tạ ơn: “Kẻ hèn tạ ơn công tử.”

Đoàn người đã đi xa, Phù Tô bưng tô mì thiên tử ăn còn dư. Chàng đứng ở Thập vương điện, nhặt một cọng mì, mặt không đổi mà nuốt vào bụng, bột mì còn dính trên môi trên mặt từ từ rơi xuống, dưới nắng mặt trời khuôn mặt có chỗ sâu chỗ cạn, loang lổ đến giật mình, cũng như vị Tần Quảng vương đang ở trong tối kia, mang một cảm giác lạnh lẽo khiến người ta không rét mà run.

Đã ăn xong mì rồi thì húp nước canh. Chàng ngửa đầu, đổ hết nước canh dầu đỏ vào thẳng cổ họng.

Giải trừ cơn buốt giá.

Cô nương nhà bên thích chàng, mỗi lần chàng nấu mì xong, khi trả tiền có kèm một cành lúa mì vàng ươm để bày tỏ tình cảm. Chàng tích góp được rất nhiều lúa mì, sau đó dùng tay chà xát để giữ hạt lúa trong cái túi thủng, mỗi lần đói quá khó chịu sẽ ăn một chút. Phù Tô cầm nắm lúa thật lâu, nhớ mình phải quay lại nhưng mà bụng cứ quặn từng cơn, không thể đè cảm giác đói bụng xuống, nôn mửa liên tục.

Tô mì chàng vừa ăn xong nhanh chóng bị nôn ra, còn kèm cả một cục than đen dính máu.

Chàng biết Bệ hạ là người thế nào, chàng biết Bệ hạ chưa bao giờ là một người cha dịu dàng trong lòng mình, chàng biết Bệ hạ chỉ muốn giết mình cho yên tâm, chàng biết Bệ hạ nếu hay tin mình còn sống sẽ lo giận hận phiền, nhưng mà… chàng vẫn còn muốn sống.

Ban nãy là thế đó. Chàng cúi đầu, khoảnh khắc nghe Bệ hạ trả lời, thấy trong đầu trống rỗng, chỉ nhớ vào bếp nhặt một cục than nóng hổi, liều mạng nhét vào cổ họng. Chàng sợ cha sẽ nhận ra mình. Hồi bé mỗi lần đọc ‘Sách chiến quốc’, khi đến đoạn Dự Nhượng nuốt than hủy mặt, để thay đổi giọng nói, vợ cũng không nhận ra, ẩn dạng để báo thù, (*) thì cảm thấy nếu con người bị bức tới mức phải tổn thương bản thân, không còn dùng lí trí để giải quyết vấn đề thì cho dù ý chí có kiên định thế nào thì nhất định cũng sẽ thất bại.

(*) Nếu cần tìm hiểu, đọc kĩ thêm ở đây

Quả thật Dự Nhượng đã thất bại. Chàng sớm muộn cũng thua thôi.

Phù Tô không biết cổ họng mình còn ổn không, có lẽ giọng sẽ khàn khàn khó nghe cả đời. Nhưng đây cũng giống một lời thề, dẫu ràng bãi bể nương dâu, gương vỡ khó lành, mọi sự trên đời, cũng chỉ vì một câu hỏi không kiềm được mà thôi.

Trước Thập vương điện có một cái giếng, nghe bảo giếng có nước mà còn thông với hoàng tuyền, chỉ ý của quỷ thần thường truyền cho kẻ phàm qua nước giếng này. Nay trong giếng phun cột nước thật cao, giữa ban ngày, mắt Phù Tô giật mãi.

Dòng nước này bắn thẳng ào điện, Phù Tô dùng tay áo lam che mắt, hồi lâu sau nước vẫn không văng tới mặt chàng. Thiếu niên hơi ngẩng đầu lên, nước hóa thành bàn tay khổng lồ, dịu dàng vuốt tóc chàng.

“Công tử, trong quan tài buồn quá, hát một bài đi.” Giọng nói quen thuộc truyền tới từ chốn xa xăm.

Hề Sơn quân có trăm hình dạng. Khuôn mặt Phù Tô không hề thay đổi, dùng giọng nói khàn khàn khó nghe hát bài ‘Xuân tế’: “Bản tính đôn hậu, trời lộng gió xuân. Thiên nhân mượt mà, lại kính cốc vũ (*). Thần ơi có hay, cha hiền con nối.

(*) Cốc vũ (một trong 24 tiết trong một năm, vào khoảng 19, 20 hay 21 tháng tư)

“Chàng hát dở thật, dở hơn trước đây nữa.” Bàn tay kia im lặng một lát, che hai mắt chàng, “Ta biết mấy đứa bé trần gian hay khóc lắm, ta biết khi hiện thực không như giấc mơ, điều duy nhất chúng làm là khóc. Chàng là Thái tử, chàng có cốt khí, khuôn mặt cương thi của chàng, xem nè, giấu giỏi biết bao, chàng chưa từng khóc. Đúng rồi, cha chàng không thích chàng, ha ha, để ta nói chàng nghe một bí mật, cha ta cũng không thích ta, à không, không chỉ riêng cha ta, ca ca ta cũng không thích ta luôn, buồn cười không… ôi, chàng vẫn khóc rồi.”

Khuôn mặt kia vẫn không có chút biểu tình, nhưng nước mắt lại dâng trào trong lòng bàn tay.

Bàn tay kia thô lỗ che mắt thiếu niên, nước mắt càng rơi nhiều, hạt lúa rớt vương vãi. Nước của hoàng tuyền, à không, bàn tay vươn dài của Hề Sơn quân từ quan tài ở xa hung dữ nói: “Không được khóc, khóc là ta nuốt sống chàng bây giờ. Cha chàng không thích chàng thì có làm sao? Cha ta cũng không thích ta nè, chẳng phải ta cũng sống hơn ba trăm năm đó sao? Lũ con ông ấy chưa ai sống lâu như ta, rốt cuộc là dù có không thích ta thì người dâng hương cúng thịt cho ông ý cũng chỉ mỗi ta đây đấy thôi!”

Ruột gan Phù Tô như đứt từng khúc, thật sự là như đứt từng khúc, “Sơn quân có từng nuốt than nóng, đứng nói chuyện đến đau lưng chưa?”

“Câm mồm.” Cái tay kia trượt xuống, hình như hơi xấu hổ nhưng rồi sau đó cũng từ từ chui vào bụng thiếu niên. Phù Tô cảm thấy lửa đốt trong bụng đã được dập, còn cái tay kia thì cứ chê bai, không kiên nhẫn hỏi: “Ta ăn cái thứ đó làm gì? Còn đau không? Không được đau nữa, đau nữa là ăn chàng đây!”

Không nghe lời là ăn chàng đấy!

Bốn năm ngày sau, cổ họng Phù Tô đã khỏe hơn, sau khi chủ quán biết nhóm người kia là thiên tử và Tam hoàng tử cải trang, hối hận đến mức đấm ngực dậm chân, nếu được lưu lại cái biển ‘Mì đệ nhất thiên hạ’ thì lo gì không thành một đại lão giới làm mì.

Nghe bảo thiên tử và Tam hoàng tử mỗi người một ngả, thiên tử tuần tra rồi về cung, Tam hoàng tử đi Bình quốc.

Lại mấy ngày trôi qua, nghe bảo Tam hoàng tử không lên đường đến Bình quốc mà ở lại Phong Đô. Còn hai ngày nữa là hết bảy bảy bốn chín ngày thì toàn thành Phong Đô bị giới nghiêm.

Phù Tô cứ cảm thấy không ổn, chàng tranh thủ buổi tối rời khỏi cửa tiệm, chờ Hề Sơn quân mở quan tài ở Thiện nhân trang.

Ngày hôm sau, quả thật chủ quan tiệm mì bị thị vệ mang đi. Tất cả dân cư ở gần Thập vương điện đều bị đào sâu ba thước để điều tra, ai cũng hoảng sợ, tất cả mọi người, kể cả quận thủ đều đang đoán Tam điện hạ cao cao tại thượng đang muốn tìm ai.

Phù Tô biết Thành Cất đang tìm mình, chỉ là chàng thấy khó hiểu, đã giấu mặt, nuốt than đổi giọng, khoanh tay cung kính vậy rồi, rốt cuộc vì sao mà lộ chân tướng?

Vào buổi sáng cuối cùng ngày thứ bốn mươi chín, mặt trời chói lòa.

Phù Tô đang đợi mặt trời lặn. Đợi mặt trời xuống núi rồi, vị hôn thê của chàng sẽ dẫn chàng rời khỏi nơi đây. Không ai có thể bì kịp pháp lực của yêu, không ai có thể bắt được chàng.

Đây là lý do duy nhất chàng không thể rời bỏ yêu nữ này, cũng là lý do duy nhất để chàng chịu đựng mọi điều về nàng.

Chuyện liên quan đến tính mạng, chuyện liên quan đến đường sống.

Cũng chẳng biết từ khi nào mà sống còn trở thành chuyện quan trọng nhất trên đời. Chàng từng không sợ chết, nhưng sau lần chết đi sống lại, mới biết rằng mình sợ chết bét bao.

Lúc trời ngả về tây, Phù Tô bắt đầu giãn lông mày, phía ngoài Thiện nhân trang cực kì ầm ĩ, như có quan binh quát tháo hỏi đường.

Phù Tô nheo mắt nhìn mặt trời, giọng nói của đám người kia càng lúc càng gần. Mặt trời đang nhuộm màu Đông hải. Cần thêm nửa nén hương.

Phù Tô mở quan tài, khuôn mặt Hề Sơn quân vẫn điềm tĩnh, trông như đã chết rồi. Chàng che hết ánh sáng mặt trời bên ngoài, sau đó nằm trong quan tài, dán vào người nàng từng tấc một, đầu, tay, thân thể, hơi thở. Chàng cao hơn nàng, chân vừa khéo kẹp được đôi chân Hề Sơn quân.

Cho dù ai tới mở ra thì chỉ thấy một cái xác nam đang úp mặt, không ai thấy Hề Sơn quân dưới người chàng.

Quan lại Đại Chiêu ra lệnh, người chết vì dịch thì phải úp mặt xuống dưới, không được nhìn thấy mặt trời, tránh thi thể thối nát quá nhanh, không kịp chôn cất thì lại sinh ra dịch độc.

“Điện hạ, chỉ còn Thiện nhân trang là chưa tra xét!” Phù Tô vẫn chưa nhắm mắt, chàng ở trong quan tài đóng kín mà vẫn nghe thấy rất rõ.

“Điện hạ, ở đây có người chết vì dịch chưa mai táng, không nên xem xét!”

Tử y Thành Cát ngửi mùi trong không khí, cười bảo: “Đại huynh, mau ra đây. Thần đệ… ngửi thấy rồi. Trời sinh ca ca có mang mùi hương, mỗi khi đến ngày đông, mùi hương ở Bình cát điện sẽ khác những nơi khác. Từ nhỏ đến lớn, đệ luôn ghi nhớ… mùi của Thái tử điện hạ đấy. Mùi hương thật dễ chịu, các ngươi có ngửi thấy không?”

Mọi người ngửi thử, trừ mùi xác thối thì chẳng ngửi được gì. Trong đó, có một người kiên trì thưa: “Điện hạ, ở đây không nên ở lâu! Nay tình hình dịch bệnh đang nghiêm trọng như vậy, điện hạ quý thể kim an, xã tắc Đại Chiêu sau này đều phải nương nhờ vào điện hạ!”

Thành Cát làm như mắt điếc tai ngơ, khóe môi lộ sắc hoa tường vi, mỉm cười nói: “Đại ca, từ khi huynh giết cậu trẻ, ta vẫn luôn chờ huynh xuất hiện, tiếc thay huynh vẫn mãi không tới, hại thần đệ cô đơn quá. Huynh cứ mãi không đến, thần đệ phải tới đây.”

Hắn giơ cánh tay trong tay áo tím, sắc mặt lạnh tanh, lớn tiếng hô: “Mở quan tài.”

Mặt Phù Tô lạnh băng, nhưng lòng bàn tay hơi rỉ mồ hôi. Chàng nắm chặt hai tay của Hề Sơn quân, nhắm mắt, nín thở.

Từng cái quan tài bị mở nắp, phát tiếng rầm rầm. Mọi người đều k** r*n từng hồi, như chán ghét cực kì, không chịu nổi mùi hôi thối. Bọn họ đều đánh trống lui quân, Thành Cát bước từng bước thong thả thanh tao, nhìn những cái đầu đã rữa nát, cười nói: “Tiếp tục.”

Nó lại hít một hơi thật sâu, nói: “Ca ca, từ khi huynh đi rồi, không ai giảng bài cho thần đệ, không ai cùng thần đệ đàn thất huyền cầm, cùng thần đệ đánh cờ vây, thần đệ, thật sự,… thật sự rất cô đơn.”

Có giọt mồ hơi trên mặt Phù Tô rơi xuống mặt Hề Sơn quân.

Trong khoảnh khắc quan tài bị mở ra, Hề Sơn quân đột nhiên mở mắt, nhanh chóng xoay mình. Nàng nhìn Phù Tô nhăn mặt nhíu mày đến xoắn cả lông mày, nhẹ nhàng chạm vào môi Phù Tô, sau đó khẽ cười.

Vẫn là… một đứa trẻ chưa trải đời.

Xinh đẹp như vậy, khiến… người ta muốn phá hủy đến thế.

Người trên đời không thích chàng, họ chỉ muốn nuốt chàng vào bụng, không để chừa chút xương cốt.

Áo tang của nàng rộng thùng thình, mái tóc vàng khô rối lộn xộn, như một trò ảo thuật kì quái, nháy mắt chàng không bị người khác trông thấy nữa.

Ầm ầm, tro bụi bay đầy trong không khí.

Trời tối đen.

Mặt trời là dương, thế gian chìm vào âm, rơi vào bóng tối mịt mù không có gió thổi.

“Hồi bẩm điện hạ, đây là một xác bị dịch rất nặng, điện hạ mau lùi về sau!” Thị vệ nhanh chóng lấy tay áo bịt mũi.

Trong bóng đêm, khuôn mặt của Thành Cát âm trầm, nó nhìn xung quanh, trong từng cái quan tài kia, không cái nào có chưa Phù Tô.

Hơi thở của Phù Tô từ từ nhạt dần, mùi xác chết nồng đệm bay tới từ bốn phương tám hướng xung quanh, Thiện nhân trang tĩnh mịch mà mục nát, trong bóng tối, khiến người ta khó chịu, khó thể đặt chân.

Một lúc lâu sau, khi da đầu mọi người run lên, Thành Cát cười mà rằng: “Thái tử điện hạ, trời sinh điềm đạm, nhất định rất khó hiểu, vì sao tại lúc huynh khổ sở, thần đệ muốn huynh không thể không chết. Nhưng mà, có đôi khi, giữa sống hay chết, cách biệt quá lớn.”

“Thái tử, thần đệ đi trước một bước. Dù huynh thích làm rùa đen rúc đầu, đệ không thể không tôn kính quân huynh, hôm nay, đành thôi vậy. Chúng ta… ngày sau sẽ gặp lại. Ta hy vọng ngày nào đó, Thái tử sẽ không như chó nhà có tang, bưng tô mì, nghèo hèn nhục nhã. Phụ hoàng có thấy, nhưng… không thèm nhìn một cái.”

Tất cả mọi người đều rời đi, bỏ nơi này yên tĩnh trở lại.

Phù Tô mở mắt, Hề Sơn quân dời môi, nghiêng mặt, cười bảo: “Tiểu tướng công, chàng lại thoát một kiếp nữa rồi.”

Phù Tô nhìn về chân trời, trăng đã lên, chàng đưa hai tay ra, đặt lên khuôn mặt đang cười tủm tỉm của Hề Sơn quân, trên trán rịn giọt mồ hôi, nhưng chỉ mực hôn lên đôi môi nàng, nói: “Ta đã nói với nàng ta là một kẻ tiểu nhân có thù tất báo chưa?”

Hề Sơn quân cười không nói. Nàng hơi chống đối môi của Phù Tô, ngửa ra sau. Ban nãy vì muốn hút hơi thở nên bất đắc dĩ mới hôn chàng thôi.

Chàng lại giữ chặt đầu Hề Sơn quân, vừa hôn nàng vừa lạnh lùng hỏi: “Ta có từng nói với nàng, thật ra ta là một kẻ vì sống mà có thể không từ bất cứ thủ đoạn, lợi dụng tất cả mọi người chưa?”

Cả người chàng không còn chút sức lực, co giật. Chàng rất sợ hãi. Chàng suýt nữa là chết, nhưng trước khi chết vẫn tin rằng, chỉ cần Hề Sơn quân không chết, chàng sẽ không chết.

May là trời tối, mặt trời xuống núi. Hề Sơn quân có lúc ác độc, khi lại xuẩn ngốc. Chàng chết thì có khi có cơ hội xoay chuyển, nàng mà chết, tất cả đều kết thúc.

Giọng chàng khản đặc, nhưng lại dịu dàng hỏi nàng, cứ như sợ mình dọa nàng, cũng như để trấn an bản thân, “Nàng làm gì để tin ta? Ta có giống người tốt không?”

Nàng đã từng nói, hôn nàng sẽ thọ hơn. Phù Tô cứ hôn nàng suốt, không có tí sắc dục, chàng không thở được vì nỗi bi ai và vô sỉ của mình, chỉ biết tìm kiếm hơi thở từ một người đơn thuần và vô sỉ hơn.

Hề Sơn quân hừ một tiếng, “Ta thật sự, không thích công tử Phù Tô.”

Giọng Phù Tô khàn lắm, chàng cười một cái, cảm thấy đây là một câu nói thật buồn cười, nhưng khuôn mặt càng lãnh đạm hơn, “Có ai thích nàng đâu, Sơn quân?”

Hề Sơn quân trả quan tài, chuộc lại thiên lý nhãn của Phù Tô.

Bọn họ về Hề Sơn, trên đường ngửi thấy mùi ôn dịch cũng từ từ biến mất. Mọi người cảm tạ ân đức thiên tử, ngài đã bất chấp hiểm nguy đi tới dân gian, thế nên ôn dịch cũng bị nhân đức của ngài cảm hóa.

Đúng là một vị quân nhân đức hiếm có.

Thúy Nguyên trở về từ chỗ Niên thủy quân, kể một câu chuyện khác. Vì một trong Thập lục ôn thần Nhiếp Côn thích nước, sinh ra từ nước, hễ ôn độc xuống nước sông sẽ lan truyền rất nhanh. Đạo tổ không nỡ nhìn sinh linh đồ thán, ra mật lệnh cho Niên thủy quân, hễ Nhiếp Côn xuống nước là lập tức trục xuất. Có lợi hại thế nào, Đạo tổ đã suy xét, không ai có thể thấu. Niên thủy quân muốn đề phòng mọi sự nên đã phong ấn hai con sông lớn là Xích Thủy và Trừng Giang, nhờ thế mà hai mươi quốc gia còn lại vẫn chưa bị nhiễm dịch. Nhiếp Côn sống nhờ sông không có chốn dung thân, lại không muốn quay về vô ích nên từ sông ngân hà mà hạ phàm gian, nhập vào thân một đứa trẻ sơ sinh trôi trên dòng suối nhỏ, tranh thủ nuôi pháp lực, hòng để dịch lan tràn ở nhân gian. Cũng cần biết, hắn vốn là một thiên nhân không có nhiều pháp lực, chỉ biết hút linh khí từ kí chủ mới có thể từ từ tàn sát nhân gian.

Phong Đô là quỷ thành, nơi chúng quỷ tập trung. Chỉ có ở đây mới có thể dùng ác hóa ác, để lũ quỷ từ từ nuốt hết pháp lực của Nhiếp Công, sau bảy bảy bốn chín ngày phải luân hồi, lúc đó hắn không thể tiếp tục ở nhân gian, phải tự trở về thiên giới.

Hề Sơn quân nằm trong quan tài, vì quan tài thuần âm, có thể giúp linh hồn xác chết liên thông với cõi âm. Nhờ thế mà sau khi hợp quan thì Nhiếp Côn mới bị đưa vào cõi âm, bị lũ quỷ cắn nuốt. Hề Sơn quân mang yêu thân, còn là kí chủ nên không có tí trở ngại gì.

“Ngươi có thấy Thập điện Diêm la không?” Thúy Nguyên cười hỏi, “Ta nghe bảo bọn họ ai cũng uy phong lẫm liệt, nhất là Thái sơn vương, rất có khí thế.”

Hề Sơn quân lắc đầu, bảo: “Xuống âm phủ, gió lớn mù mịt, ta hoàn toàn không mở mắt ra nổi. Nhưng có thanh niên tốt, dù giọng lạnh như băng, lại rất là nhiệt tình, nhìn ra gốc gác ta, dắt tới chỗ Mạnh Bà, để lũ quỷ vãng lai, hút hết khí Nhiếp Côn. Lũ quỷ kia rất sợ, sợ hắn đến sốt vó, Mạnh Bà cũng kính cẩn. Trước khi hắn rời đi, thoát khỏi thân thể ta, trở về với nhân thế. Thấy thân phận bất phầm, không ngờ là thần tôn.”

***

Tất cả lớn nhỏ trên Hề Sơn đều được ăn mì của Phù Tô, trước nay tụi nó đều cảm thấy Phù Tô là một thư sinh không làm được gì, tuy có một vị hôn thê hung hãn ghê gớm là Hề Sơn quân, nhưng vẫn cảm thấy thiếu cái gì đó. Chàng từ trên trời giáng xuống, tiến vào cuộc sống của bọn họ, nhưng lại khiến chúng cảm thấy như một hình nhân giấy, người trong trẻo như bức thủy mặc, thế nhưng cử chỉ lại lạnh nhạt khiến người khác phải phiền lòng. Thế nhưng nhờ tô mì dầu đỏ, thư sinh cũng có tác dụng, nhìn tô mì, lũ khỉ Thúy gia hút sồn sột, ai cũng thích chàng thiếu niên này rồi.

Nước canh ngọt lành, mì trơn mượt mà.

Một thiếu niên đáng yêu hơn trước.

Cảm giác cao quý không với tới được chỉ là ảo giác, rõ ràng chỉ là một thiếu niên dễ thương với đôi mắt đen láy, thích ngẩn người, hay đọc sách, hiểu lễ nghi thôi mà.

Tựa như dáng vẻ trong quan tài ngày đó chỉ là ảo giác, vì tìm đường sống, Phù Tô vẫn bình tĩnh lặng lẽ lấy lòng Hề Sơn quân. Chàng mang tô mì đầu tiên cho Hề Sơn quân, cười thản nhiên, dịu dàng và ôn nhu. Hề Sơn quân uể oải ngẩng đầu nhìn chàng một cái, “Hư tình giả ý.”

Khuôn mặt Phù Tô rõ là rất lạnh, rất thờ ơ, nhưng tích tụ ôn nhu, như ánh trăng sáng trong, rất đẹp. Chàng múc một muỗng canh, hờ hũng nói: “Ta có thể hư tình giả ý cả đời, nàng không phải buồn đâu.”

Hề Sơn quân húp ‘soạt’ một ngụm, nuốt xuống, chép miệng bảo: “Chả có vị gì.”

Thế nhưng vẫn ăn hết tô mì đó.

Phù Tô nhìn nàng ăn tô mì, vậy mà cũng ra mấy phần giáo dưỡng của thế gia, thế nhưng thứ khiến chàng dễ dàng nhận ra là vẻ bướng bỉnh của một đứa con nít phố chợ và sự ngang ngược bá đạo từ trong ra ngoài.

Hề Sơn quân lấy tay áo chùi miệng, chầm chậm nói, “Cục cưng à, chúng ta không thể tiếp tục như vậy mãi. Con đường sống này, chàng sống thêm một vạn năm hay sống thêm một ngày cũng có khác gì nhau? Người ta nói vợ hiền thê giúp chồng, ta thấy mình cũng khá là hiền lành đức hạnh, sẽ có ngày chàng được công thành danh toại, không cần cảm ơn, chỉ cần cười với ta một cái là được. À, đúng rồi, đó là hư tình giả ý như chàng nói. Ta rất thích.”