“Bức họa sinh kẻ trộm, nữ tặc độ tuổi xuân, hại tính mạng vương tử. Năm Bính Dần, mùng mười tháng tám, giờ âm.”
–[ Sơ lược tình sự · Tông thất ] Nguyệt Sơn Nhân
Ba trăm lẻ ba năm trước, Thái tổ định hôn cho Chiêu Thái tông khi đó mới là người kế vị, Mẫn công tử, chọn con gái Thái Úy làm vợ. Công tử cứ thấp thỏm, không biết xấu đẹp hiền ác ra sao, lập kế bao lần mà chẳng được, bất đắc dĩ mới quyết định tối trời lén tới phủ Thái úy. Đáng tiếc trong đêm mù sương, vào nhầm khuê phòng biểu tiểu thư phủ Thái Úy, nhìn thấy bức họa của tiểu thư mà mất hết thần hồn. Vị tiểu thư ấy, ngày sau trở thành Thái tông Hoàng hậu.
Bảy mươi năm trước, trưởng nữ của Lý Tông, Thanh Thành điện hạ trốn sau bụi hoa ở hoa viên, khi ấy nàng vừa mười tám, đã đến tuổi kết hôn, đang chờ Hoàng phụ tổ chức một bữa Quỳnh lâm yến (*). Trạng Nguyên đã tới, là một tiểu thần đồng mới mười lăm; Bảng nhãn có mặt, trông không đến nỗi nhưng lại quá gầy; Thám Hoa đến sau, tài hoa hơn người nhưng có vẻ yếu đuối; nhóm tiến sĩ đỗ hàng hai cũng lục tục có mặt, người không già thì lại thiếu lễ độ. Tiểu điện hạ trốn sau bụi tường vi, cảm thấy rất phiền não. Một bữa tiệc, các vị cứ ba hoa, trái tim công chúa như cỏ đầu tường (**), ngả nghiêng lung tung. Chỉ ngờ là, cả buổi vị trạng nguyên nhỏ tuổi kia cả buổi chỉ ăn mỗi cá và miếng bánh, duỗi bàn tay như ngọc mài vào trong hồ nước xanh, không hề ngẩng đầu lên. Tiệc tan, cuối cùng nàng nghĩ Thám Hoa tốt hơn hẳn, định viết vào giấy hoa tiên, phái cung nhân trình cho Hoàng phụ. Chẳng may người cha Hoàng đế của nàng đã uống say tí bỉ, tự ví mình như hoa mẫu đơn vàng trong bụi tử vi, yêu cầu họa sư vẽ một bức ‘Bách hiền đồ’ (***). Họa sĩ mời Trạng nguyên gia ngẩng đầu lên, cậu bé bỏ thức ăn cho cá xuống, từ từ ngẩng lên, khẽ nở nụ cười. Đứa trẻ ấy trở thành Đại Chiêu đệ nhất hiền tướng, Thanh Thành thành Đại Chiêu đệ nhất gái ế. Trọn bảy mươi năm.
(*) Quỳnh lâm yến – bữa tiệc triều đình tổ chức cho các thí sinh đã đậu cao trong kì thi.
(**) Cỏ đầu tường – ý chỉ người không có chủ kiến, gió chiều nào theo chiều nấy như cỏ.
(***) Tranh vẽ trăm kẻ hiền tài.
Năm mươi năm trước, hai nước Tề và Sở trở măt, nhà vợ của Tạ hầu là Tề vương cùng vị hôn thê của y là Tề quận chúa đều chết trong tay Sở vương. Hầu mang tử sĩ, đi ám sát Vương, nhưng trúng mai phục. Có một vũ cơ, mặt mũi xấu xí, cản thay một kiếm, Tạ Hầu bị thương, phải đi lẩn trốn, sau đánh tây Đột Quyết, lập được công to, phong làm thượng hầu. Thắng lợi trở về, qua phường nô lệ, trước sạp treo tranh, bán nữ đầy tớ, trông tầm thường thấp hèn, nhưng khiến Hầu ngừng chân. Hóa ra nàng vũ cơ, đã từng cứu mạng hắn, nay bị nhốt trong lồng, trầm mặc không lên tiếng. Dùng ngàn lạng vàng, Tạ Hầu mua cơ. Kế tiếp, bao chuyện đã xảy ra, Tề đại phu liều mình, Hầu tìm được Quận chúa, đã tránh được một kiếp, thế là cũng đưa về. Lập Quận chúa thành Tạ Hầu phi, đưa cơ làm trắc. Hầu phi mất sớm.
Bấm tay tính toán, hoàng thất Đại Chiêu, dù trai hay gái, đều mang tình si. Trùng hợp lại là, những chuyện ngày đó, lại có liên quan, tới một bức họa.
Năm đó, Tề Minh năm thứ mười, sau khi Thái tử mất vào mùa xuân, lúc trời vừa sang thu, mạng Mục vương thế tử cũng đang ngàn cân treo sợi tóc.
Nói thì chỉ vài chữ, nhưng đều có nguyên nhân, mà những nguyên nhân ấy, là cả câu chuyện dài.
Lại nói, = nối liền nghìn dặm với dãy núi Thúy Mông của Hề Sơn chính là đất phong của Mục Vương. Mục vương là em trai cùng mẹ với Kim thượng (*từ chỉ Hoàng đế), cùng Mục vương phi xấu xí sinh được tổng cộng ba gái một trai. Ngày hai người con gái xuất giá, vì vẻ ngoài xấu xí, được Thái hậu phong từ Quận chúa thành Công chúa, cho rất nhiều của hồi môn, mới chặn được miệng đám phò mã. Con trai duy nhất là vương tử được Thái hậu yêu thương nhất, tên Thành Giác. Nghe bảo hồi Thái tử còn sống thì chỉ có chàng mới được nhận nhiều yêu thương ngang với hắn, chứ những Hoàng tử khác, cho dù là Tam Hoàng tử và Tiểu Hoàng tử Quý phi sinh ra cũng phải đứng sang một bên.
Vì sao lại thế? Nhắc tới đây, không thể không nói tới chuyện về Thái tông. Cao tổ năm đó chỉ có một người con gái, bèn nhận một đứa cháu trai có chung dòng máu ở chi thứ làm con thừa tự, cho kế thừa đất nước, sau này chính là Mẫn Ngôn đại đế. Mẫn Ngôn cưới mỹ nhân nức tiếng kinh đô năm đó, đẻ mấy người con trai thì người này có tiên khí hơn người kia. Truyền qua mười mấy đời, đến thời Triết tông, các hoàng tử lại càng có cái dung nhan bất phàm đến mức dường như bất cứ lúc nào cũng có thể bay thẳng lên chín tầng mây. Bức chân dung Thái tông truyền tới đời Triết tông, vậy mà bọn họ chẳng con ai giống được nửa phần. Vào năm mới, dân chúng bình thường thích treo ảnh bệ hạ các triều để tránh tai ương, kết quả càng nhìn càng thấy kì cục, hình như hoàng thất có bê bối, xì xà xì xào, truyền đi khắp chốn. Mỗi khi tết về, toàn bộ hoàng thất quý tộc cảm thấy như mây xanh đầy đầu, như bị tát vào mặt.
Thái hậu hiện tại xuất thân nhà võ tướng, có mắt thẩm mỹ từ nhỏ, trước nay vốn không thích bộ dạng của các con cháu. Con trai và con dâu đều không kém, nhưng lại chẳng đổi được truyền thống gia đình. Đến khi đứa con gái xấu xí của Thái thường khanh (*ý chỉ Mục vương phi) mang bầu lần thứ tư, Thái hậu nương nương đang mặt ủ mày chau, chờ nội thị vào báo tin vui ‘Vương phi vừa sinh cho người một đứa cháu gái xấu xí’. Nhưng khi vừa quay sang, lại là một đứa bé trai, mà trên tất thảy, quan trọng hơn hết, thằng nhỏ này không hề xấu!
Mà quan trọng nhất là, trông nó khá giống một người. Mọi người trong hoàng thất nhìn tiểu vương tử, cảm thấy giống như một người làm quan cả họ được nhờ, bọn họ chịu ô danh nhiều năm, cuối cùng cũng có thể rửa sạch được rồi.
Mục vương thế tử, trông rất xinh đẹp, cực kì bá đạo. Mười mấy tuổi, chưa trổ mã, hàng mày đó, cặp mắt kia như hận không thể bay lên trời, trông giống y Thái tông lúc nhỏ như đúc. Theo lời bình của sử quan năm xưa – ‘Trán rộng má dày, lông mày hếch cao, mắt có thuần uy, nhìn gần liền biết, đó là thiên tư, không dám nhìn thẳng’, lại có đất dụng võ.
Từ đó về sau, Thái hậu coi hắn là tâm can đã giúp giải cứu cho mọi người khỏi nguy nan, không còn nhìn thấy ai khác nữa. Mục vương thế tử – Thành Giác, bốn tuổi đã chuyển từ Mục Địa vào kinh học hành, cùng đèn sách với các Hoàng tử khác trong Bách tử các. Ngoại trừ Thái tử thi thoảng xuất hiện trong buổi giảng kinh thì những đãi ngộ của hắn là độc nhất. Năm nay, từ khi Thái tử chết bất đắc kì tử, Bệ hạ luôn đau buồn, Mục vương xin cáo bệnh, gọi Thành Giác về đất phong chăm sóc, bá phụ (*chỉ Bệ hạ) không nói lời nào, chỉ phất tay, cho phép ngay.
Thành Giác về nước, nhưng lại nhập ma.
Thiếu niên này, đang độ rực rỡ nhất. Hắn từng yêu cung nữ Hồng Châu, cùng từng gửi thơ tình qua lại với khuê nữ nhà Trung lang tướng gia Uất Trì, còn ngủ với con gái của Đệ Nhị hầu – Hướng Oanh Oanh, vốn được dạy dỗ nghiêm khắc nhất; còn từng ngồi đối diện với ca cơ đệ nhất thiên hạ Thôi Tố Tố mà vẫn không hề rối loạn.
Thế nhưng, ngày hắn trở về nước, lại cưới một bức họa.
Dùng kiệu hoa đỏ yêu dị, trống trống kèn kèn, trăm dặm hồng trang, bên trong trống rỗng, tân nương không tay, cũng chẳng có chân. Nàng không biết nói, càng chả biết cười.
Đây chỉ là một bức họa, một bức họa làm từ chất liệu mềm mại ấm áp hơn cả da dẻ thiếu nữ.
Thiếu niên duỗi ngón tay từ trong tay áo đỏ, khuôn mặt gầy gò đến mức khô quắc, cặp mắt trợn tròn, kéo ống trục trên bức họa bằng lụa, tranh mở ra như mái tóc huyền bung xõa, miếng lụa cứ lắc lư trước mặt thiếu niên.
Trong tranh có người, đang cười nhàn nhạt.
Thành Giác trầm mặc. Một hồi sau, đôi môi khô khốc của chàng thiếu niên phun một ngụm máu tươi. Hắn cầm bức họa, ngửa đầu nhìn trời xanh rất lâu, tiếng đàn sáo đã ngừng từ thuở nào, Mục vương và Vương phi bắt đầu than khóc. Hắn nghe thấy âm thanh của họ, cố gắng giãy dụa, nhưng không thể trả lời được nữa – thì ra cái chết là thế này.
***
Hề Sơn quân thu hoạch quýt xong, phụng chỉ tới chân trời tắm sao thì thấy một tiểu ca mặc áo đỏ thẫm ngồi bên cạnh tòa Ngũ đế, không biết là Sơn quân ở đâu tới, lang bạt thê lương, như ruồi mất đầu bay tới bay lui trong mây.
“Anh trai, ở đâu tới thế, không quen hả?” Hề Sơn quân tử tế bắt chuyện. Cũng tại nàng lười quá, cứ dây dưa để cuối cùng mới lau rửa cho sao xong, mà chưa làm xong thì không được hạ phàm. Mấy ngày trời chân không chạm đất, thật tình là cũng sợ lắm chứ bộ, nay thấy một tên có vẻ dễ dụ, lại còn có vẻ là người mới, không lợi dụng tí đỉnh thì sao mà chịu được?
Tảo y tiểu ca (*) đang nhắm mắt, có vẻ mất kiên nhẫn, đẩy mặt Hề Sơn quân ra, chỉ phun một chữ: “Cút.”
(*) Nguyên gốc: Tảo y tiểu ca – tiểu ca mặc áo màu đỏ như mận chín. – vì màu áo là một chi tiết quan trọng để ẩn dụ ai với ai nên mình sẽ cố gắng để nguyên
Hề Sơn quân lập tức nằm xuống, lăn qua lăn lại trên mây, sau đó chai mặt lăn (*) tới trước mặt tiểu ca áo đỏ, hờn mát: “Vậy được chưa, anh trai? Không muốn hợp tác à, anh trai.”
(*) Cút và lăn trong tiếng Trung đều dùng một chữ 滚.
Tảo y tiểu ca sa sầm, thở dài, ngồi trên một ngôi sao không sáng lắm. Ngôi sao nhỏ mới hé mắt, chưa ngủ đẫy giấc, khẽ rên hừ hừ thoải mái, sắc mặt cậu thiếu niên như cầu vồng bảy màu thật khó diễn tả.
Cậu nhìn xung quanh, con sông nho nhỏ trong mắt vừa dừng lại, trở nên vắng lặng. Cậu im lặng một một lát, mái tóc dài xanh đen, như con công đang xòe đuôi, như núi cao xanh thẳm, rũ xuống mây trắng dày.
Hề Sơn quân chán chường vẫy khăn, hát ư ử rồi đi lau sao tiếp. Năm nay nàng phụ trách ba ngàn một trăm hai mươi ba ngôi sao của Bắc bộ thất tú (*), mọi thứ đều không có gì khác thường, mà vị Sơn quân phụ trách hai trong Tam viên (**) là Thái vi và Tử vi lại cứ than khổ, nói rằng trong Bắc cực có năm vị thì có hết bốn vị lờ mờ không sáng, Thái tử tọa gần như không nhìn rõ. Trong Tứ phụ thì có ba sao lau không sạch, chẳng biết bị dính cái gì. Đây đều là dị tượng từ năm ngoái, vốn cũng đã chuẩn bị tâm lý sẵn rồi, thế mà năm nay Ngũ đế tọa năm nay cũng không để người ta bớt lo. Bắc đế nhất mạch gây biến động rất lớn, đáng ra phải sáng rực rỡ, là một ngôi sao cực kì kiêu ngạo, gần như át được Hoàng tọa, thế mà bây giờ cũng từ từ tối màu, héo úa, khiến các vị Sơn quân cứ phải suy đoán không biết rốt cuộc trần gian đang xảy ra chuyện gì.
(*) Nhị thập bát Tú (Túc) gồm có 28 chòm sao nằm ở 4 vùng trời được đặt tên theo tên động vật. Bốn vùng trời được chia theo 2 trục Đông-Tây, và Nam-Bắc. Hướng Đông (tả) là Thanh Long (青龍), hướng Tây (hữu) là Bạch Hổ (白虎), hướng Nam (hạ) là Chu Tước (朱雀) và hướng Bắc (thượng) là Huyền Vũ (玄武). Mỗi vùng trời có thất túc, tức 7 chòm sao; 4 (vùng) lần 7 (túc) = Nhị Thập Bát Tú là do mặt trăng xoay chung quanh mặt trời một vòng là 27.3 ngày. Vì thế, mỗi một ngày trong tháng âm lịch cứ thế mà tiến vào một trong nhị thập bát tú.
(**) Viên nghĩa là bức tường vây, Tử Vi, Thái Vi và Thiên Thị đều có các chòm sao vây lại. Tú là tòa nhà lớn. Như vậy nói đến Tú là chỉ nói đến 28 chòm mà thôi. Các chòm sao trong tiếng Hán gọi là Tiểu tinh quan hoặc Tinh tọa. Nhưng có một số ngôi sao đứng riêng mà không được xếp vào chòm nào cả. – Đọc thêm về Tam Viên ở đây
“Mới một năm chứ mấy, sao thiên tượng lại ra thế này? Xui quá!” Mọi người đều rỉ tai nhau, đây đều là những ngôi sao đại diện cho nhân mạch bá tánh, bây giờ không sáng nữa, thấy mà sốt ruột, nhưng dù sao thì cũng không phải là chuyện mà những người có pháp lực yếu như bọn họ có thể cứu vãn nổi.
Hề Sơn quân làm việc suốt ba ngày ba đêm, cuối cùng không chịu nổi nữa, xé một đám mây rồi đánh một giấc. Đến khi nàng thức dậy, đấm bóp xương khớp mỏi nhừ thì tảo y tiểu ca cuối cùng cũng mở miệng, mắt lóe sáng như sói.
“Ta tới để tìm người.”
“Tìm ai?”
“Tìm kẻ thù thứ một trăm của ta.”
Lúc thiếu niên nói hai chữ ‘kẻ thù’ thì không mang theo thù hận, cũng chả phẫn nộ mà giọng nói hoàn toàn mang vẻ mỏi mệt.
Hề Sơn quân cười hì hì hỏi: “Vì sao là thứ một trăm, chín mươi chín người trước đâu, ngươi ăn rồi hả?”
Môi thiếu niên rất đỏ, lông mày gần như hất thẳng tới chín tầng trời, hắn đáp, có phần gắt gỏng, “Chết rồi, chết hết rồi. Ta tìm hơn mấy chục đời, dùng từng mũi tên, giết hết rồi.”
Trên bàn tay thon thon mềm mãi của cậu thiếu niên có một vết chai rất rõ, ắt là một cao thủ dùng cung.
Hề Sơn quân đứng dậy, đỡ đầu, cong mắt nói: “Nói nghe xem.”
Trông cậu thiếu niên như đã bị sông sao núi mây lạnh lẽo vô tận nơi đây dồn ép đến kiệt sức, suy nghĩ cũng không còn rõ ràng nữa, thi thoảng còn mang theo những câu từ mơ hồ không rõ, cậu nói: “Ta đã đến rất nhiều nơi xa lạ, không, cũng không xa lạ gì, đó là phong ấp (*) của ta. Thế nhưng chả có nơi nào có thị vệ của ta hết, nghi trượng của ta, những người đi bên cạnh không biết ta là ai, không ai gọi ta là điện hạ, ta cũng không quen họ.”
(*) Ấp (huyện, thành thị) được phong thưởng cho.
“Lại thêm một tiểu điện hạ nữa.” Hề Sơn quân nhìn cậu đầy thâm ý, “Gần đây điện hạ nhiều như thóc lép dưới rây.”
“Ta nhìn thấy một người áo mũ chỉnh tề, vừa nhìn rõ bộ dạng thì liền biết đó là kẻ thù của mình. Trước đây ta chưa từng gặp hắn lần nào, nhưng mà khoảnh khắc đó không tự chủ được mà giương cung. Hai tay ta nóng lên, giết đỏ cả mắt nhưng vẫn chưa tận hứng, như nghiện mất rồi, hưng phấn tìm từng kẻ thù. Có vài tên là con cháu thế tộc bề thế, kẻ là nhạc công, vu y, nông dân. Bọn chúng chết không oan đâu chút nào đâu. Kiếp trước chắc chắn chúng từng vô số lần dồn ta vào chỗ chết. Ta giết hết bọn chúng, để bọn chúng chết mà không chảy được máu, đến mức ba hồn bảy vía đều tan nát, không thể tới kiếp này hại ta. Ta sống nhiều năm như vậy, lần đầu tiên cảm thấy vui như thế, càng mong giết nhiều người hơn, ngửi mùi máu tanh hơn. Báo được thù sảng khoái lắm, dù rằng cũng không biết rốt cuộc thù hận giữa chúng ta thế nào.”
Hề Sơn quân chậc lưỡi thương tiếc: “Tiểu ca à, phí quá đi mất. Chín mươi chín miếng thịt người lận đó, kho, hầm hay là nướng đều được. Đến núi bọn ta thì có thể ăn được những mấy ngày.”
Hai má thiếu niên trắng nõn co rúm, cặp mắt lạnh lẽo như phủ sương, không biết vì sao chớp mắt, mắt trái tuôn lệ. Cậu nói: “Ta biết ta không còn là ta nữa, ta chết rồi, đã sớm rời xa thể xác của mình từ lâu. Kẻ thù ta dùng tên bắn chết đều là những người tình cờ gặp ở kiếp trước sau khi chết. Ta báo thù cho kiếp trước của mình, nhưng không biết có phải vì mỗi người vừa chết phải trải qua hay không – chính là phải chấm dứt hận cũ ở kiếp trước kiếp này thì mới có thể đi tiếp. Thế nhưng ta không thấy con đường phía trước của mình, sau khi giết hết chín mươi chín người, khi kh*** c*m tới cực hạn thì tất cả những khoảnh khắc thống khổ của những người đó trước khi chết lại dội thẳng vào trong đầu ta. Ta không thể chịu đựng nỗi những đau thương đó, mở mắt ra thì đã tới đây.”
Hề Sơn quân an ủi: “Ngươi đã chịu xong tội của mình rồi, nghe nói vậy đại khái là sắp thành tiên rồi đấy. Ngươi giúp ta lau chùi năm trăm ngôi sao đi, ta sẽ rủ lòng thương xót ném mông quý của điện hạ lên trên. Ba mươi ba tầng trời chụp được mông điện hạ là thành Tiên quân được rồi, nếu Điện hạ rớt xuống đất thì chờ năm sau ta tới, ném lại lần nữa.”
“Không, không phải như thế, ta còn một kẻ thù nữa, ta tự biết rõ mà.”
“Ngươi biết thế nào.”
“Trên đầu ngươi có lục quang, xanh biếc, giống như mầm đậu non đầu xuân.”
“Đầu má ngươi mới có lục quang, đầu ông bô ngươi mới có lục quang ấy! Ơ kìa kìa, ngươi sờ mó gì sau lưng đó? Ngươi moi cung tiễn ở đâu ra thế? Ngươi ngươi ngươi… ngươi muốn làm gì?”
“Ngươi có thể đồng ý lúc ta bắn ngươi, miệng không kêu đau, trong lòng cũng không kêu đau được không?” Dưới ánh sáng mờ mờ giữa sông ngân hà, gương mặt thiếu niên nửa sáng nửa tối, mang theo bóng ma quỷ dị, giọng nói đầy bi xót, như những tiểu tình nhân tí ta tíu tít khi cậu còn sống: “Đừng kêu đau, nếu ngươi đau, ta cũng sẽ đau, rất đau.”
Hề Sơn quân chạy trối chết, trên sông ngân không thi triển pháp lực né tránh được, cái nỏ liên hoàn ở phía sau bổ tới sắc lạnh như búa Hình Thiên (*), “Ngươi đùa à? Tại sao vì một thằng nhãi như ngươi mà ông đây không được khóc không được đau? Ngươi đừng bắn búi tóc của ta, ta ghét nhất là bị chạm vào bùi tóc đó, không được bắn ba phát liên tiếp! Ông đây đã gây ra ghiệp gì, tướng công của ta ơi, ta có thể ăn có thể chạy biết cười biết giả ngu, có hai công dụng vừa làm đồ ăn vừa làm ấm giường, chưa được cắn miếng nào đã vô phúc hưởng rồi!”
(*) Hình Thiên là một trong thập đại ma thần thượng cổ theo Sơn Hải Kinh.
Bánh bao trên đầu Hề Sơn quân đã bị xiên mấy mũi tên, lúc sắp thành con nhím tới nơi thì địa tiên ở Sơ vân quan xem thiên tượng – Tử kim tán nhân – nhìn thấy, tiên nhân đằng vân mà tới, dùng phất trần trắng để hóa giải tên khí, ngạc nhiên siết cánh tay của tảo y thiếu niên nói: “Sao điện hạ tới đi tới đây?”
Hề Sơn quân nhìn mũi tên vàng được bọc trong mây, chưa kịp tỉnh hồn, giơ áo tang lau mồ hôi trên trán, thở hổn hà hổn hển, ngẩng đầu thấy Tử kim tán nhân chế trụ mạch của thiếu niên một cách dễ dàng, cao giọng chất vấn: “Ai đang lén lút ở đâu, dám mượn thân chân long làm chuyện xấu! Hoang đường đến thế là cùng, hắn là người mà ngươi có thể làm hại được à? Hút tuổi thọ, hại âm phúc hắn, các ngươi sẽ chịu số mệnh gì?”
Tuổi thọ? Âm phúc? Chân long?
Hề Sơn quân vừa sợ vừa giận, đảo tròng mắt, khi bình tĩnh thì phủi bớt mây khí dính trên tay khi hoảng hốt chạy trốn ban nãy, thật thà hỏi: “Xin hỏi tiên gia, vị công tử này mang thân chân long thật sao?”
Nếu mang thân chân long thì chính là người trời xanh chọn để đứng đầu trần gian.
Đạo hạnh Tử kim tán nhân rất cao thâm, nhận ra cân lượng của Hề Sơn quân, nhìn l*n đ*nh đầu của nàng, trả lời không đúng trọng tâm: “Sơn quân lắm thủ đoạn, giỏi mánh khóe, tu vi chỉ có ba trăm năm ngắn ngủi mà có vạn năm pháp lực.”
Hề Sơn quân nở nụ cười, thong thả đáp: “Nhờ cơ duyên cả đấy. Hôm nay đa tạ ơn cứu mạng của tiên nhân, chỉ là có chút nghi hoặc không hiểu nổi. Tiên nhân đã tu tiêu dao đạo, không nhận hai mươi tư tiên phủ hạt, để ý mấy người rảnh rỗi làm gì? Có điều tiểu ca trước mặt ta là chân long thì tại sao bây giờ hồn lạc sông ngân thế này?”
Tử kim tán nhân giơ lan hoa thủ, niệm một câu quyết thì có bốn phương sĩ xuất hiện, mỗi người cầm dây thừng vàng, giữ bốn góc cung vàng của tảo y thiếu niên. Hắn nhìn Hề Sơn quân, giọng mang đầy ý khinh miệt, “Ta biết Sơn quân nghe thấy ta nói vậy thì trong lòng thầm ghen ghét, chua như đào xanh, có điều vị tiểu phu quân của ngươi cũng không phải chân long thân, đành vô duyên với đế vị mà thôi.”
Hề Sơn quân nhếch sâu khóe môi: “ Sao tiên nhân lại biết tiểu phu quân của ta lại vô duyên với Đế vị chứ?”
Xương lông mày của Tử kim tán nhân cao vút, dằn cảm giác chán ghét hỏi: “Yêu tà tiểu nhân, gây sóng gió mấy năm trời, chưa trừ bỏ ngươi cũng vì lòng nhân của Thiên tôn, có thêm tiên quân ở sau cầu xin cho ngươi mà thôi! Nhưng ngươi vẫn ngu xuẩn không thôi, không nhìn ra tiểu điện hạ trước mặt mang mệnh đế vương yêu dân kính trời đời đời kiếp kiếp, đã tu luyện đời đời sao? Hắn đã được định sẵn là đế vương đời đời kiếp kiếp, hoàn toàn khác với tiểu phu quân của ngươi!”
Hề Sơn quân siết chặt tay trái, mặt vẫn nở nụ cười như trước, “Tiên quân đang nhắc nhở ta, chớ uổng phí tâm cơ à.”
Tử kim tán nhân tỏ ra bí hiểm, giữa mây khói, lông mày càng nhướn cao, trông như lũ lang sói, hắn cười ha hả như cảm thấy Hề Sơn quân thật nực cười, kéo tảo y thiếu niên bay đi xa, chỉ để lại một câu nói văng vẳng: “Ngươi sai rồi, ta muốn nói với Sơn quân rằng, Chiêu Thái tử chưa từng có mệnh Hoàng đế. Hắn vô phúc, không có mệnh này đâu.”
Lại qua mấy ngày sau, Hề Sơn quân làm việc mệt mỏi, ngồi an vị trên tầng mây, nhìn lên bầu trời xa xôi không trăng cũng chẳng có sao, chỉ một màu đen kịt. Ngôi sao nhỏ bên cạnh nàng khe khẽ hỏi: “Hề Sơn, mệnh là gì?”
Hề Sơn quân cầm cái khăn bẩn bẩn lau người cho nó, mãi lâu sau mới thở ra một hơi, dịu dàng nói: “Là thứ mà mặc cho ngươi không còn chút hi vọng được khởi tử hoàn sinh, ngày đêm khóc lóc trong tuyệt vọng thì vẫn không có cách nào giành nó được. Không có là không có, rồi thứ đó đê tiện hèn hạ dụ dỗ ngươi, quay lưng về phía ngươi mà cười hả hê, nó và kẻ có tư cách có được nó cùng vui sướng, cùng chia sẻ bí mật, cùng xem trò vui, nhìn, sau đó đi nói với những người khác, Ồ, nhìn cái thằng ngốc đó kìa, cũng muốn lấy được ta lắm chứ đâu.”
Từ sau miếng khăn lau, ngôi sao nhỏ dè đặt ló ra đôi mắt như đỗ đen, ngây thơ khờ dại hỏi: “Đạo sĩ kia nói phu quân của ngài không có mệnh kia! Ngươi đừng phí sức nữa, đi tìm ca ca của mình đi!”
Những ngôi sao nhỏ khác cũng gật đầu đồng ý, ngây thơ hỏi: “Hề Sơn, ngươi tìm được ca ca chưa? Ngươi nói hắn trốn trong thân thể chúng ta, ngươi tìm lâu như vậy, đã tìm được chưa?”
Hề Sơn quân phủi hơi sướng trên áo choàng, dùng dậy, tiếng rít gào xuyên qua màng nhĩ của từng ngôi sao –
Ca ca, đi ra!
Ca ca, anh mau ra đây!
Em biết anh ở đây.
Đừng trốn ở đây không lên tiếng nữa!
Đi ra đi ra đi ra đây!
Ta lau ba triệu ngôi sao rồi, còn ba mươi triệu ngôi sao nữa chưa lau.
Ta chờ ba trăm năm rồi, còn ba ngàn năm không chờ nổi.
Vườn trời này rộng như vậy, giấu được ca ca rồi.
***
Phù Tô ở nhân gian đang dạy Hai Nhăm, Hai Sáu viết chữ trên đá bằng than, thấy trên trời giáng hai tia sáng. Tụi khỉ con ngơ ngác nhìn tia sáng giáng xuống một cây quýt trong rừng, chạy tới tìm thì chỉ thấy hai cái hố to, trên miệng hố chỉ có vỏn vẹn một quyển sách. Trừ nó ra thì chẳng còn gì hết.
Phù Tô mở sách ra, không có chữ gì cả.
Ban đêm chàng đốt đèn, lật qua lật lại xem những điển tích cũ trong sách, thấy hơi chán, liền nhớ tới quyển sách không chữ nhặt được ban sáng, soi dưới nến mờ mờ ảo ảo, chàng nhắm mắt rồi mở ra thì lại thấy từng hàng chữ sáng lên. Cảm thấy hứng thú, chàng đọc theo, thì ra là câu chuyện về tài tử giai nhân, nhưng chỉ chốc sau, hai mắt cay xè, không thức nổi, cứ vậy mà gục xuống bàn đá, thiếp đi trong mê man.
Chàng như bước vào sách, có một giấc mơ thú vị.
Như Phù Tô và đường đệ Thành Giác đều được Hoàng tổ mẫu sáng tạo gọi là ‘Phượng hoàng nhi’ và ‘Minh châu nhi’, công tử ở nhánh chi ở lão trạch như chàng và nhị công tử nhà Thái úy cùng nổi danh một thời.
Không nói rõ đời này có họ gì, những câu chuyện đơn giản như vậy thì không rõ ràng, quê quán nơi đâu, khí hậu ẩm thấp, sản xuất gì cũng chẳng nói kĩ, úp úp mở mở, luôn có ý đại khái, tên hiệu từ đâu, lúc ra đời có chuyện gì đặc biệt, tướng mạo nổi bật ra sao, gấu áo dính phải bao nhiêu phong lưu mà lại nói như ở một quê bình thường, giống cải trắng thích chọn gì thì chọn. Đúng là khiến người ta phải dở khóc dở cười. Phù Tô không biết vì sao mình lại có giấc mộng này, trở thành công tử của một trong những dòng tộc hiển hách, tên hiệu là ‘Mẫn Ngôn’, tướng mạo rất nổi bật, chẳng biết hơi thở có như lan, người đọc sách có tin hay không, nhưng cả nam lẫn nữ nhìn thấy chàng đều trở nên si dại.
Mẫn Ngôn và công tử nhà Thái Úy trong sách nổi danh vậy đấy, đúng như hiền danh. Ba tuổi thuộc ‘Hiếu kinh’, năm tuổi lấy mật gấu, từ khi được mẫu thân sinh ra đã như luôn nóng lòng phát sáng rực rỡ, tỏa hương khắp trời, mỹ đức như thái dương soi tỏa đất trời. Còn nhị lang nhà Thái úy lại mang ác danh, người ngoài nhìn thấy là như hoàng liên nép trên bạc hà, bình thường tươi mát sáng bóng, nhưng vừa l**m một cái thì không khiến ngươi phải khốn khổ đêm đêm, đổ mồ hôi cả ngày, nhất định không buông tha. Cuộc đời cứ thế, một người muốn để lại tiếng thơm muôn đời, kẻ không thoát cái danh gian thần trong sử sách nghìn năm. Hai người vốn chẳng dính líu gì nhau, ngoại trừ từng đanh thép tranh cãi ngay triều đường, ngươi cào ta một lần, ta sẽ cấu lại một cái, là kẻ thù không liên quan gì nhau cả đời, nhưng vì một chiếu thư của thiên tử mà nồi cháo hai nhà rối ren, Mẫn Ngôn và Nhị lang Kiều công tử của nhà Thái Úy sắp thành thông gia.
Thiên tử Bệ hạ cảm thấy Mẫn Ngôn và em gái của Kiều công tử, Kiều Thực, rất xứng đôi, không kiềm được kích động, run tay viết chiếu thư này ban xuống, các khanh gia có dị nghị gì không? Có dị nghị thì có thể đập đầu vào cột phun máu chết tươi tại trận, Quả nhân thề sẽ bảo vệ quyền dâng tấu của các người, nhưng cả đời Quả nhân cũng được hưởng quyền là không cần tiếp nhận ý kiến của các ngươi.
Cả triều câm như hến, Kiều nhị công tử từ từ nở nụ cười, cuốn tay áo, chàng công tử như bạc hà thong thả rời đi. Mẫn Ngôn công tử lại thở dài một tiếng đinh hương như cô nương, ai oán nhìn cái áo choàng đỏ ủ rũ sau lưng, sao không có ai đi đập đầu vào cột đi, để cho Phù Tô được nhìn thấy kì quan dùng máu can gián như trong lịch sử như thế nào?
Hình như tiểu công tử đang phải chịu áp lực từ trong nhà, cả người đều mang khí tức không hề tầm thường. Phù Tô trốn trong cái vỏ nóng nực này, nhớ lại câu chuyện trong sách, đáng ra lúc này chàng phải ở trên cầu anh vũ, không sớm không muộn, không nhanh không chậm, không kiêu không gấp, phong thái nhẹ nhàng, gặp được một cô nương vô cùng xinh đẹp, vô cùng đáng ngưỡng mộ. Vì cô nương này, sau đó Mẫn Ngôn công tử đã nhất quyết hủy hôn với Kiều Thực.
Ngày hôm đó, cũng như trong truyện, đám thủ hạ dưới trướng như bị trúng tà, cứ một mực kéo Mẫn Ngôn lên cầu, mặt hồ lăn tăn nước hồ trong leo lẻo quá là đúng dịp, các cô nương lui tới trên cầu, nhìn thấy công tử mặt ngọc dáng liễu, mông cong chân dài không khỏi háo hức. Phù Tô là một thiếu niên mù mặt người, không nhận ra cô nương khiến Mẫn Ngôn rung động đến muốn sống muốn chết ở đâu rồi, nhưng theo như câu chuyện, chàng thiếu niên trầm mặc u sầu lại dịu dàng nhìn các cô nương xung quanh, nhìn bọn họ đang vội vội vàng vàng bước qua, xem thử rốt cuộc ai mới có tư chất làm ‘nữ chính’ nhất.
“Phụt!” Có một tia máu phun như suối, bắn đầy trời.
Nắng sáng rất đẹp, ngày xuân trong lành, bốn bề ngát xanh.
Ngực Phù Tô hơi nhói, cởi cái khuy áo trên cổ, vòi suối nhỏ kia lại phun rộng hơn một vòng, chàng xoay người, cứ tưởng mình sẽ nhìn thấy ‘nữ chính’ mang mùi đinh hương, ai ngờ phía trước chỉ có một tiểu cô nương cao có một mẩu đang phun máu mũi, ngơ ngác nhìn chàng.
Rõ ràng cô nương này không phải là một tiểu mỹ nhân tuyệt sắc, vì nàng đang máu me đầy mặt, vì trên đầu có một lục quang khiến người khác bực bội – lục quang mà chỉ có chàng mới nhìn thấy. Phù Tô cảm thấy nóng ran, khẽ nuốt nước bọt, đầu óc rối mù, nhưng lại cầm thứ lạnh băng đang giắt trong thắt lưng.
Lúc này có tiếng vó nhựa phi từ xa tới, sáng sớm thanh sảng, tựa như sẽ không bao giờ xuất hiện một thiếu niên chỉnh tề sạch sẽ đến vậy nữa, dưới thái dương trên cao, chỉ chớp mắt một cái thì chàng ta đã tới.
Phù Tô rút bội kiếm lạnh băng, trái tim sục sôi của chàng đang rất đau khổ, phong ma đang thúc giục chàng g**t ch*t tiểu cô nương một mẩu th* t*c phun máu mũi, giây phút trước còn ngơ ngác nhìn chàng, thì mặt mày một mẩu đầy máu ngờ vực xoay người, nói với thiếu niên đang thúc ngựa ở đầu cầu anh vũ bên kia: “Ca ca đừng qua đây, ca ca mà qua là ta… ta sẽ nhảy xuống lập tức!”
Nước dưới cầu trong lắm, sóng đánh dập dìu, muốn dìm chết một mẩu cũng không áp lực gì.
Trong mắt thiếu niên đầy ý cười, chậm rãi thúc ngựa tới, hơi khom người, thong thả cúi đầu dịu dàng nói: “Ta chắc chắn sẽ bắt em về, nên đứa con nít như em đừng do dự nữa, mau nhảy xuống đi.”
Một mẩu lấy tay áo lụa trắng quẹt máu mũi, lùi một bước về phía Mẫn Ngôn, mặt như gặp đại địch: “Ta sẽ nhảy thật đó, ca ca đừng có mà không tin ta, ta là một cô nương có tiền đồ đàng hoàng, xưa nay nói gì là làm đó!”
Trên cây cầu anh vũ cong cong, một trái một phải, hai mỹ nam đang đứng, thanh tú duyên dáng như tranh, vậy mà ở giữa lại có một mẩu, nhảy cà tưng cà tưng, làm hỏng mất phong cảnh.
Phù Tô đè cảm giác muốn làm thịt một mẩu xuống, bạc hà công tử ở trên lưng ngựa cười run người như hoa mẫu đơn, chàng ta cũng nghiêm túc đáp lại: “Ta biết trước nay em luôn là người có tiền đồ, vậy mau nhảy xuống đi. Em chết rồi, ta sẽ xin Bệ hạ ban chỉ, phong em làm Quỷ quận chúa.”
Một mẩu đơ người, một lúc sau lại quỳ cái rầm trước ngựa, nước mắt nước mũi tèm lem, cực kì ồn ào: “Đại lão, em sai rồi! Đại lão, em chỉ muốn ăn hoành thánh nhân tôm thịt nên mới chạy tới đây! Đại lão! Ca ca tha cho ta đi, đừng ép chết ta, đại lão! Thanh danh của ca ca đã bê bối như vậy rồi, nếu còn ép chết em ruột thì còn gì mà nói nữa, đại lão!”
Thiếu niên thong thả nhảy xuống ngựa, tay cầm roi nhắm vào trán của một mẩu, cười nói: “Đừng ép ta đá em xuống, đã làm sai thì phải chịu phạt. Huống chi là ta hết lòng hết mực dạy em phải biết giữ chữ tín, nói được làm được. Mấy đứa nhỏ thay đổi thất thường hay lật lọng là khiến người lớn ghét nhất, không học được thì xứng đáng ở dưới nước cả đời. Khi nào hiểu rồi mới được đi lên.”
Một mẩu kiềm hai giọt nước mắt ngân ngấn, xoay người nhìn Phù Tô, lanh lảnh hỏi: “Phu quân tương lai, bao giờ chàng qua đưa em về? Thiếp không chịu nổi ngược đãi nữa, trăm vuốt cào tim, sống không bằng chết!”
Phù Tô sửng sốt, bàn tay thon dài của chàng đo thử vóc người của một mẩu, chỉ đứng đến thắt lưng chàng. Chàng nhận ra một mẩu trước mắt mình là vị hôn thê của Mẫn Ngôn, Kiều Thực, chỉ là không biết Bệ hạ đương triều cảm thấy đây là mối lương duyên thế nào mà một mẩu lại đau khổ mà rằng: “Người ta thường nói, chớ coi thường thiếu niên nghèo, thật ra câu sau còn là, đừng khinh khi thiếu nữ thấp, đến khi ta cao rồi thì làm gì tới lượt chàng tới cưới nữa. Tuy rằng vóc dáng không cao là chỗ khuyết điểm rất lớn trong người ta, nhưng mà cha ta cao, mẹ ta cũng rất cao, sau này ta chắc chắn cũng rất cao. Thiếu niên như chàng phải biết đủ, thiếu niên như chàng hẳn phải hiểu rằng, năm nay ta mới mười ba tuổi, mỗi ngày ta đều uống hai cân sữa trâu. Nói hết rồi đó, ta làm người luôn hàm súc dịu dàng, chàng cứ từ từ mà suy nghĩ đi.”
Nói xong, thấy coi cái chết tựa lông hồng, nhảy từ trên cầu xuống, bùm một tiếng, bọt nước bắn lên ba tấc. Chàng thiếu niên cao quý như đang nghĩ ở đâu, ở trên cao nhìn xuống, thong dong nở nụ cười. Chỉ chút câu từ đó thôi cũng biết đây là cặp huynh muội ruột thịt, Phù Tô và đám thuộc hạ sợ ngây người.
Thiên tử Bệ hạ nói, Kiều Thực và Mẫn Ngôn là tuyệt phối, chắc chỉ giới tính.
Phù Tô làm Mẫn Ngôn, từ từ cảm nhận được sự tinh tế trong đó. Trước khi chàng thể hiện tài năng thì trong triều hiện do Kiều Nhị lang nhà Thái úy làm chủ, đương nhiên, vết sạn của quyển truyện tầm thường này cho thấy, trước nay chưa từng có thiếu niên nào chưa cập quan mà đã thao túng triều đình, hơn nữa số người vào nội các thì đều râu dài chấm đất, lông mày chữ xuyên (川), nếu không ăn nói cẩn thận thì cũng sẽ giả vờ câm điếc mặt mày vô hại, cũng là để lão Hoàng đế lơ là, quăng cho danh hiệu ‘Trung thần ngay thẳng’ hoặc ‘Thế ngoại sơn nhân’; cái này gọi là sự hấp dẫn của chính trị, là nghệ thuật hành vi. Có điều sự tồn tại của Kiều Nhị lang quá là không ra gì, thiếu niên không chức, hừ một tiếng cười một cái là khiến cả sảnh đường chật ních lo lắng không yên, Thiên tử lại không giận, để mặc chàng như vậy, còn cha chàng – lão Kiều Thái úy lại như con rùa rút đầu, ngày ngày mặc bổ tử (*) hình hạc trắng chẳng thèm quan tâm, nuôi mấy con rùa trong áo choàng rộng, hễ Phù Tô vào triều chán thì sẽ đưa mắt nhìn qua mấy lần, đều thấy mới lạ, mai được đánh bóng, óng ánh đáng yêu.
(*) Bổ tử – một miếng vải dệt trước ngực hoặc sau lưng của quan lại.
Từ thiếu thời, khả năng tướng thuật của Kiều thái úy đã vang danh thiên hạ, được làm Hiếu liêm (*), sau này nhất thời một bước lên mây, thời chiến tranh nhờ sử dụng chiêm tinh thuật mà mấy lần lập được đại công, chiếm một vị trí đầu tiên bên cạnh Tân đế. Có vài người trong ba mươi sáu công thần không phục, nhưng tin đồn rằng Kiều thái úy tinh thông tướng thuật cũng biết làm phép hại người, sau đó ai mà gây phiên phức với ông ta thì đều chết bất đắc kì tử, nên mọi người đều ngoan ngoãn đè bất mãn trong lòng xuống, phòng ngừa gặp tai họa. Vị Thái úy này là một ‘tướng gia’ chân chân chính chính, cả đời như trăng, bầu bạn quân vương. Thế nhưng con trai thứ hai của Kiều Thái úy lại không kế thừa tướng thuật của cha mình, cũng chả học được mấy phần khiêm tốn cẩn thận, ngoài ra thì thiếu niên rực rỡ này quả thật giống như cha mình năm đó, xao động tâm hồn thiếu nữ, nhập sâu vào xương tủy người ta.
(*) Hiếu Liêm là một kì thi thời Hán vũ đế, dùng để tuyển chọn quan viên. Hiếu là hiếu thảo, Liêm là liêm chính.
Kiều Thái úy còn có ba đứa con gái, đều là truyền kì. Một người từ nhỏ đã ít tóc, một người gặp ai cũng cười, còn một người kì lạ nhất, từ bé đến giờ chưa cao quá ba tấc (*). Đại cô nương ít tóc không thích giàu sang không mê tình ái, từ đến lớn đã tự cao tự đại, khi mười lăm tuổi không nói tiếng nào liền xuất gia, trước khi đi chỉ nói: “Hễ là con người, đều phải theo sự ngang ngược của thiên ý. Ta không vào hồng trần, đời này sẽ bất tuân.” Cạo đầu tu hành, từ nhỏ đã có mệnh làm ni. Nhị cô nương gặp ai cũng cười là một cô gái xinh đẹp, chỗ nào cũng tốt, chỉ có một chỗ không tốt là không thích mặc đồ đẹp xa hoa, mỗi lần dùng tơ lụa cả người ngứa ngáy đau nhức khó chịu, mười ngón tay đụng tới sẽ bị chảy máu đầm đìa, đến khi mức muốn tự gãi đến rách da chảy máu khiến đám a hoàn vú nuôi chỉ dám đưa nàng áo vải trâm gỗ. Tầm mười ba tuổi, trước phủ Thái úy bố thí cơm cháo, có tên ăn mày tới xin, Nhị cô nương có lòng thiện, tự bới một chén, hai người nhìn nhau, sóng đánh nhộn nhạo, xin chén cơm được tặng kèm thiên kim tiểu thư. Ngay tối hôm đó, Nhị nương bỏ trốn cùng tên khất cái, trốn khỏi Bách quốc, đến nay vẫn không có tung tích.
(*) Ba tấc = 1 mét
Cả triều đình trêu cười nói cha con Kiều thị làm ác, con gái trong nhà đều có mệnh số như thế, không phải cô độc cả đời thì cũng nghèo hèn bần tiện. Cả đám nhìn chằm chằm vào Tam cô nương. Nàng áp lực áp lực ghê lắm, ngày đêm sầu não, sầu não thì ăn không ngon, mà ăn không ngon, thì… không cao nổi. Một mẩu bị mọi người chế nhạo, là chuyện cười lớn nhất của phủ Thái úy. Còn phe Mẫn Ngôn nói tới là vui mừng vô hạn, nhìn Kiều nhị trắng trẻo không tì vết, như cao sơn lưu thủy, ngay cả thủ đoạn giết kẻ thù chính trị cũng đều cao minh, nói cười sang sảng, hoàn mỹ đến độ khiến người ta chùn bước, vậy mà tiểu muội này lại do chàng ta đích thân dạy dỗ, một tay nuôi nấng lại trở thành một điểm đen trên trán, một mẩu này xuất hiện giống như kéo Kiều nhị cùng xám xịt theo.
Trước đây chỉ biết thiếu niên chưa nhận quan này có thủ đoạn, nhưng không biết thủ đoạn của chàng ta lại là thế này. Sau này Tam cô nương Kiều Thực sẽ gả cho đối thủ lớn nhất của Kiều nhị, biến vết nhơ lớn nhất của mình thành vết nhơ lớn nhất của kẻ địch, như một cuộc thi đấu không công bằng, Kiều công tử kéo Mẫn Ngôn đang bất động thanh sắc về đường đua.
Phù Tô là người ngoài, xem cuộc vui thấy thú vị không kể hết. Nếu chàng là nữ tử thì chắc chắn cũng thích một thiếu niên như Kiều nhị, vừa âm hiểm ngoan độc vừa như gió mát lướt qua. Cứ thấy Kiều nhị rất quen thuộc, thêm cả những chuyện xấu mà chàng ta làm thì bản thân cũng thấy vui.
Dù sao đây chỉ là một câu chuyện xưa, giấc mộng kê vàng (*). Phù Tô thấy hứng thú, khi kết giao với Kiều nhị cảm thấy con người này sắc sảo thâm sâu, hành động âm hiểm, nhưng dù sao có thể cùng chàng ta suy nghĩ tới một chỗ, không thể nào khiến người ta ghét được.
(*) Câu chuyện “Hoàng lương nhất mộng” (giấc mộng kê vàng) bắt nguồn từ truyện “Chẩm trung ký” c*̉a Trầm Ký Tế đời Đường. Chuyện kể rằng, có một chàng thư sinh nghèo họ Lư. Một hôm, nhân chuyến đi chơi, anh vào nghỉ trong một quán trọ. Lúc chủ quán trọ bắc nấu một nồi kê vàng, thì chàng trai lên giường đi ngủ. Trong giấc ngủ, chàng trai mộng thấy mình lấy vợ và sinh con, sự nghiệp thuận buồm xuôi gió, tận hưởng vinh hoa phú quý, và cuộc sống sung sướng, thoải mái ấy kéo dài cho đến lúc già chết. Nhưng khi tỉnh dậy, kê vàng vẫn còn chưa chín. Sự gợi ý c*̉a câu chuyện này là: Đời người như giấc mộng, tất cả sang hèn, giàu nghèo, đều như mộng, như huyễn.
Như trong truyện kể, Mẫn Ngôn gặp một giai nhân họ Quy ở trên cầu anh vũ, từ đó cả đời tranh đấu, chuyển hướng, g**t ch*t Kiều Thực thấp bé, hung ác, xấu xí, cuốn sách mới đến đoạn kết để trống. Nhưng vì sự xuất hiện của một mẩu hôm đó mà sau đó không thấy Quy cô nương xuất hiện nữa.
Nhưng mùa xuân tháng tư, một mẩu lại xuất hiện.
Mẫn Ngôn và Kiều Nhị lang đều giữ bổn phận, cẩn thận làm kẻ địch trên triều, lúc không có ai thì lui tới thăm viếng. Trong những lần gặp gỡ ít ỏi đó, có gặp lại một mẩu lần hai.
Trong phủ Kiều Thái úy có một hồ nước rất to, trong hồ nước trồng một bãi hoa sen lớn, nhìn từ xa, lá ngửa lên trời, hoa đỏ hương thơm, khi bước tới gần, xanh điểm trên đỏ, rong tảo đong đưa.
Phù Tô đã nghe về hồ sen này, nhưng mà lúc thiếu niên mộc mạc trong trẻo kia từ trong bãi sen đỏ bước ra, chàng hiếm hoi nở nụ cười. Tạo vật trên đời này thật thần kì, cho dù trên đời có bao nhiêu thứ tầm thường, cũng không thể tìm ra thần tiên cốt do sơn thủy nặn ra thế này. Cũng chỉ có trong truyện mới dám làm xằng như thế.
Trước hồ nước có một cây táo, lá xanh biếc như mực, cây táo xanh dày đặc, che kín bầu trời, vẫn chưa tới mùa đậu trái.
Kiều nhị đi qua hành lang, lúc tới tàng cây thì ngẩng đầu nheo mắt, như đang nhìn cái gì đó. Mẫn Ngôn đứng từ xa nhìn, hơi ngạc nhiên, vì chàng nhìn thấy trong mắt Kiều nhị sắc lạnh như băng, xưa nay con ngươi mang đầy ý cười trong trẻo, lần tiên lại mang theo cảm xúc khiến người ngoài không thể nắm bắt. Có lẽ, những lúc chàng ta khiến người ngoài không nhìn thấu thì mới cảm thấy chân thật.
Kiều nhị đảo mắt, thấy chàng từ xa tới, gọi một tiếng đầy chân thành, thân thiết và điềm đạm.
Mẫn Ngôn huynh.
“Mẫn Ngôn huynh, huynh từ cố đô Hàm Dương tới đây mà ta lại chưa ngày nào mời huynh tới hàn xá, nghĩ kĩ cảm thấy thật hổ thẹn. Chỉ biết trách do công vụ phiền phức, cản trở hai chúng ta nói chuyện cùng nhau. Hôm nay ta đã chuẩn bị rượu nhạt trong thủy tạ, dành riêng để bồi tội.”
Kiều nhị nói năng cẩn trọng, Mẫn Ngôn cầm thiếp mời bụi vàng trên tay, cảm thấy mình đã được nể mặt lắm, thụ sủng nhược kinh. Chỉ hận trên triều hôm nay chưa từng đưa chân đá Đại ti nông ở sau, để ông ta gân cổ mắng Kiều nhị hưởng lương khơi khơi không lo làm việc ảnh hưởng quốc gia. Nay tới nhà gặp gỡ, thấy người ta chân thành như vậy, chàng rất chột dạ.
Phù Tô ở trong xác Mẫn Ngôn cũng bất đắc dĩ, nếu không làm theo câu chuyện thì tình hình này, e là giấc mộng này sẽ vĩnh viễn không thức giấc. Tuy có vài chỗ tốt, như là trong truyện sẽ uống ngàn chén không say, nên thanh danh Mẫn Ngôn công tử có tửu lượng rất tốt được truyền ra. Nhưng chỗ xấu cũng không ít, là dù thịt thà đầy bàn nhưng ăn gì cũng chả có mùi vị, như nhai sáp.
Bây giờ chàng đồng ý lời mời đến phủ cũng vì biết những chuyện về sau. Gia nhân Quy thị trong truyện chính là bà con xa trong phủ Thái Úy, từ nhỏ không nơi nương tựa, ở nhờ phủ, lặng lẽ giản dị sống qua ngày. Phù Tô nghĩ muốn có cuộc gặp gỡ như thiên lôi địa hỏa, giữa tài tử giai nhân, anh hùng người đẹp thì phải có người làm trung gian, may sao Kiều nhị lại gửi thiếp mời.
Thế nên, trên bàn rượu, Phù Tô trong vỏ bọc Mẫn Ngôn mấy lần đưa mắt nhìn quanh, chàng suy nghĩ làm sao để nhìn thấy Quy thị, nhưng thiếu niên đối diện cứ nhẹ nhàng như tiên, khôn ngoan tới mức nào, muốn nói mấy lời khách sáo nhất thời cũng không dễ dàng gì. Hai người cùng uống không dưới ba bình, Phù Tô xin cáo lỗi, rời khỏi thủy tạ đi nhà xí. Bọn hầu cung kính theo sát, chàng chỉ đành đạp cái thùng chất thải, trèo tường lén bỏ đi.
Trong sách nói Quy thị ở trong vườn hải đường, Mẫn Ngôn từng tranh thủ tối trời lén tới thăm giai nhân cho đỡ tương tư. Trong tình cảm thắm thiết đó, Phù Tô nhớ hai người nước mắt lã chã, vì mỗi lần gặp là thành kiếp (*), cả hai đều kể cho nhau nỗi khổ tương tư. Trời sinh Mẫn Ngôn biết cách bày tỏ tình cảm, lúc đó đã quay về phía thiếu nữ ở khuê phòng trong tối mà nói: “Ta chỉ muốn nhìn nàng một lần. Ta sợ không được nhìn thấy nàng nữa.” Đây là câu nói sâu sắc nhất mà Phù Tô từng nghe, cứ nhớ lại thì thấy nổi da gà cả người.
(*) Theo Câu Xá Luận, có bốn trạng thái hay bốn kiếp, mỗi kiếp gồm 20 tiểu kiếp qua các thời kỳ thành, trụ, hoại, không. Mình nghĩ câu này nghĩa là chỉ một lần gặp đã thành kiếp nạn/duyên kiếp
Ban ngày từ chỗ thùng thải, chàng đi dạo một vòng thôi mà đã bị khu vườn to này làm nản chí, tìm không thấy người, cả vườn cây cối xanh um hoa trái hiếm lạ; chẳng gặp được người, xa xa thấy hai ba con heo lười, nằm ườn cùng công đực sơn dương. Cái vườn tao nhã như thế mà lại nuôi mấy con súc vật thế này, thảo nào lúc Trưởng sử lén uống rượu mắng Kiều Nhị lang quái dị, chỉ thích làm bạn với lũ súc vật, bây giờ mới thấy chắc cũng có lí do. Chỉ là khi nhớ lại sách, tối om om vậy mà Mẫn Ngôn vẫn mò tới được khuê phòng, run rẩy cả người vì thiếu nữ chỉ mới gặp qua một lần, hai mắt đẫm lệ, vậy mà còn không nhận sai, có bị heo cào không?
Có quỷ mới biết.
Chàng đứng cây đại thụ, hơi choáng váng, bỗng bị mấy quả táo xanh chưa chín đập đầu, ngẩng lên thì chỉ thấy một màu xanh phỉ thúy, không có gì hết, Phù Tô còn nghĩ Nhị công tử thật kì lạ, trong vườn cái gì cũng có, thậm chí còn nuôi cả khỉ, còn nghịch ngợm trêu chọc người. Đang nghĩ thì lại có hai hạt táo rơi vô đầu, tìm xem đó là con khỉ không hiểu chuyện nào đây!
Chàng lại nhìn lên, thân hình nho nhỏ không kịp trốn đó đã bị bại lộ. Ồ, một mẩu
Lùn thì lùn thật, nhưng lại khéo léo ôm cây, cột tóc hai bên, trông như cái trống bỏi.
“Tam cô nương có muối đi xuống không?” Phù Tô khẽ nở nụ cười, nhìn đám mây xanh lục trên đầu một mẩu mà đè cảm giác xúc động muốn rút kiếm giết người, dịu dàng hỏi.
Một mẩu lau nước mắt, bắt chước lũ đàn ông phố chợ, chắp tay nói: “Cám ơn Tướng công công tử trượng nghĩa, vì ta nghịch ngợm bị ca ca phạt, nên mới ở đây! Chàng cứ đi đi, ta cứ ngồi trên này!”
Phù Tô vẫn bình thản, đáp lễ: “Vậy không làm phiền Tam cô nương nữa, ta tự ngồi nghỉ dưới tàng cây này, nàng cũng đừng nghịch nữa, ném táo vào đầu ta.”
Một mẩu hái quả táo còn xanh và lá thảy xuống áo thiếu niên, ngập ngừng hỏi: “Thế này hả?”
Phù Tô cũng chả bực, mặt không biến sắc mà gật đầu, nhưng cũng hiểu vì sao ca ca lại phạt nàng một cách kì lạ như thế. Quả đúng là… không phải một đứa nhỏ dễ thương tí nào. Cái gì cũng không hiểu nhưng lại giả vờ rất lõi đời.
Một mẩu ngớ ngẩn suy nghĩ một lát, sau đó nhìn bàn tay nhỏ xíu đầy bụi, như nói với thiếu niên mà cũng như đang tự bảo chính bản thân mình: “Cái này để nhớ kĩ rằng, lúc mày lấy lòng thì có khi người khác không có thích đâu, lần sau phải đổi cách.”
Phù Tô hỏi: “Cái này mà khó à? Ta ném đồ về phía nàng, nàng có thích không?”
Một mẩu ngờ vực một chốc, trả lời: “Xin tướng công công tử vui lòng chỉ giáo, Thực rất vui. Chỉ là ta cũng không biết nữa. Hồi nhỏ đầu bếp ném cơm vào mặt ta, ta rất vui vì không phải chịu đói khát nữa; Nhưng khi mẫu thân ném đồ vào ta, ta lại rất lo, lo mẹ tức giận khó chịu. Vậy xem như là thích hay không thích?”
Phù Tô thở dài, nhặt quả táo ném xẹt qua bên cạnh cô bé ở trên cây, thản nhiên hỏi: “Thế này thì sao?”
Cô bé Kiều Thực rất hưng phấn, thoăn thoắt trèo xuống như khỉ con, trước mặt Phù Tô tối sầm, đây là lần thứ hai chàng và Kiều Thực so tài.
Đứa bé kia nhảy bổ lên người chàng, bám vào bộ đồ diễn lạnh lẽo màu đỏ thẫm, mang theo sự mềm mãi cố hữu chỉ có ở trẻ con mà chôn vào cổ chàng, “Ta thích chàng ném vào ta, chàng nhìn cũng thích ta, vậy thì tốt. Chàng thật lòng thích ta, ta cũng rất rất thích chàng, thế thì vừa đẹp.”
***
Phù Tô tính thử, mình đã ở trong này hơn hai tháng rồi nhưng vẫn không có dấu hiệu sắp rời đi nào. Mỗi lần thức dậy thì vẫn còn ở trong sách như cũ. Mỗi người trên triều còn hoạt bát hơn cả người thật, có Ngự sử căng thẳng mỗi ngày khi dâng tấu chương cho văn võ cả triều, thi thoảng cũng say tí bỉ trong tửu lâu rồi ôm tham quan nhà ai khóc lóc, ngày xưa chúng ta từng là bạn thân tri kỉ, tại sao bây giờ ngươi lại thành ra thế này; cũng có lũ tì nữ con ở tiện tịch chỉ toàn lo gom góp tiền bạc để chờ ngày bỏ đi; không chỉ có những tiểu thư chuẩn bị gả cho nhà bên cạnh mà còn là tiểu tử sát vách cao năm thước hai (*), nghe bảo rất tuấn tú, có đại danh là Cẩu thừa thải. Viết câu chuyện không có tí nghiêm túc nào thế này, mỗi người đều có khởi thừa chuyển hợp, nhân vật hơi giả khiến một người luôn bình thản phong nhã như Phù Tô không khỏi cảm thấy trong lòng như đàn đứt dây, chàng thà về lại nghe Hề Sơn chửi khỉ còn hơn.
(*) Năm thước hai thốn khoảng 1m57.
Mẫn Ngôn có khoảng ba ngàn môn khách trong tay, cũng có vài tên cướp gà trộm chó. Cho bọn họ đi tìm tung tích Quy thị thì lại rất ít thông tin, tìm sâu hơn thì cứ như phủ Thái Úy chưa từng giúp đỡ một thân thích nào như vậy. Mọi người bên cạnh chàng đều như đang sống thật sự, chỉ là ‘nữ chính’ như Cửu thiên huyền nữ hạ phàm trong truyện nhắc tới thì không thấy đâu.
Nàng đi đâu rồi nhỉ? Mẫn Ngôn không cùng gặp cùng quen cùng thân (*tương ngộ tương tri tương thân) với nàng trong vườn hoa ở phủ Thái úy, Kiều Nhị lang sẽ không vì nàng mà cử binh chinh phạt ba mươi ba chư hầu phương Bắc để rồi bỏ mình, Mẫn Ngôn càng không vì Kiều Nhị lang bỏ mạng mà ngang nhiên vứt bỏ Kiều Thực để cưới nàng. Giả sử cặp đôi anh hùng mỹ nhân này không thành thì kịch bản này sẽ kết thúc thế nào đây?
Màn đêm trong kinh thành đẹp lạ thường, lúc này chưa hầu Bách quốc vẫn chưa chia năm sẻ bảy, cũng không xảy ra thảm trạng con cháu thành gia tàn sát lẫn nhau, càng không có cảnh thiên tử mắt điếc tai ngơ trước cảnh thiên hạ như phụ thân chàng, dạo bước dưới ánh trăng, thiên hạ thống nhất tứ hải thái bình làm say lòng người.
Chàng cùng Tứ công tử Tần lang nhà Tư Đồ uống rượu mới về, hơi ngà ngà nên nhìn thế giới này càng cảm thấy chân thực, đến cả uống rượu cũng say. Tần lang say lắm, làm đại lễ với Mẫn Ngôn, hắn là một gã đáng tin trong Mẫn đảng, loạng choạng cười ha hả nói: “Ta biết công tử Mẫn đại độ, cũng biết Kiều Nhị lang độc ác. Đại độ thế nào mới dung được một người vợ lùn như vậy, độc địa mức nào mới mưu tính để gả được đứa em lùn?”
Ánh trăng như cái bánh củ năng để nguội, trắng và sạch sẽ. Phù Tô giật mình, khẽ nở nụ cười, bộ tảo y tung bay theo gió trong bóng đêm sắc lạnh. Chàng nói: “Kẻ đại độ kẻ độc ác à. Mỗi người trong trời đất đều có mệnh riêng, người cao quý không ai trèo tới được, kẻ đê tiện mặc người khác dẫm đạp lung tung. Sao nàng lại muốn mình thấp như vậy, sao ngờ rằng em gái lùn tủn của Nhị lang lại muốn trở thành vợ của ta? Từ nhỏ ngươi đã có thể được chọn làm người đại độ hay độc ác à, chẳng lẽ trưởng thành như vậy không phải dính dáng tới cha mẹ, sư trưởng ư, cũng không liên quan gì tới tường trong vườn nhà Tư Đồ cao thế nào ư? Người đời đều là phàm nhân, phàm nhân đều rất vất vả.”
Có tiếng vang giòn giã, trong ngõ nhỏ xa xa, ở cái bàn cũ kĩ bẩn thỉu, nước canh trong tô sứ trắng vương vãi đầy trên đất, một mẩu nho nhỏ còn chả cao hơn cái bàn, tóc mái được chụp lại trong cái mũ đầu hổ thật dày, hai tay ôm chén đang đông cứng ở đó. Phù Tô nhìn thấy một mẩu, hơi sửng sốt.
Chàng thong thả bước tới, giọng nói trầm thấp khom người hỏi: “Vì sao Tam cô nương lại ở đây? Nàng lại chạy trốn à? Nhị lang phạt bắt nàng nhảy xuống cầu trèo lên cây mà sao vẫn không thay đổi?”
Bãi bùn trên đất đầy hoành thánh nhân tôm thịt trắng tròn, vốn là một món ngon hạng nhất bây giờ chán chường nằm trong bùn. Chàng thiếu niên bước tới gần đứa bé, mão quan bằng san hô đỏ, gò má như ngọc trắng ửng hồng vì hơi rượu, lông mi dài ơi là dài. Một mẩu đứng ngơ ngác một lúc, sau đó ngồi xổm xuống đất nhặt miếng hoành thánh bỏ tõm vào trong miệng, nhai một cách vô cảm. Chàng thiếu niên cau mày vì bẩn, bắt cằm muốn nàng phải nhổ ra. Thế nhưng nàng lại mím chặt môi, giống như con chim non bị bỏ đói đã lâu, hoảng loạn nuốt xuống, một lúc sau lại khóc mà nói: “Ta trốn trong nước lâu vậy là vì đợi hoành thánh ngoài phủ Thái úy, nằm sấp trên cây hai canh giờ cũng vì hoành thánh ngoài phủ Thái úy, nhưng mà hoành thánh bọn họ ăn không ngon, ngoài phủ Thái úy cũng không vui, nhưng mà… đến khi ta gả cho chàng sẽ dù muốn ăn hoành thánh dở tệ của ngoài phủ Thái úy, nhưng cũng không thể được ăn nữa rồi.”
Phù Tô vỗ nhẹ lên cái mũ đầu hổ bằng nhung của bé gái, mắt không tự chủ mà cong theo, hỏi: “Vì sao?”
Một mẩu nức nở nói: “Tướng công công tử, chàng thế này nên không thích một người vợ lùn tủn. Như ca ca ta có một đứa em gái lùn, ca ca sợ mất mặt nên giấu ta trong phủ Thái úy mười ba năm. Còn chàng thì sao, chàng cưới ta xong có phải sẽ giấu ta ở đâu đó trong ba mươi năm nữa không? Nhi ca nói, chỉ cần ta gả cho chàng trai tốt nhất trên đời, thì dù cho tướng công đưa ta tới chân trời góc bể nào chăng nữa, xem hoa hồng trên vách núi, ngắm ngọc trắng dưới đáy biển, cùng sống trọn đời với núi cao sông dài, sẽ không bao giờ quản ta cả. Ta sợ ta gả cho chàng rồi thì dù nhảy sông hay trèo cây cũng không giải quyết được gì.”
Chàng cúi đầu giơ vạt áo dài mảu đỏ, ra hiệu cho Tần lang ở sau, người nọ ở sau lưng ợ hơi rượu, xiêu xiêu vẹo vẹo để thằng hầu đỡ rồi rời đi.
Trời lạnh, Phù Tô ôm đứa trẻ giơ cao, đưa ra trước mặt, mỉm cười dịu dàng. Chàng lạnh nhạt hỏi: “Nếu đã vậy, sao không thỏa mãn tâm nguyện của ta, kiêu hãnh mà cao lớn lên? Làm ta thích nàng, thích đến mức đánh giặc uống rượu đọc sách đánh đàn cũng chẳng nỡ rời, đó mới là trọn đời với núi cao sông dài.”
Mắt mũi một mẩu đỏ ửng, nhìn chẳng thấy dễ thương chút xíu nào, thảm đến mức không nỡ nhìn. Nàng giơ ba ngón tay, thật thà nói: “Tuy nhìn con nít vậy nhưng mà ta đã mười ba tuổi rồi! Một là, mức độ khó khăn của việc cao lên còn sâu hơn biển, hai là, nam nữ thụ thụ bất thân.”
Phù Tô khẽ nở nụ cười, đặt một mẩu xuống, gọi chủ quán làm hai tô hoành thanh, húp miếng nước canh, thở hơi say và khí lạnh ra, ngẩng đầu lên thì thấy khuôn mặt nhỏ nhỏ thon thon như trăng non, tay trái ôm mép bát, má trái dán vào thành bát, mặt mũi nhòe nhoẹt nước mắt mà ngủ thiếp đi.
Né lũ nha đầu vú nuôi, tránh tầng tầng lũ thị vệ, không biết nên leo tường hay chui lỗ chó, ăn một chén hoành thánh tôm thịt ở thế giới sống động chưa từng hay biết, với nàng, hôm nay là một ngày phải nơm nớp lo sợ quá mức.
Thiếu niên mặc tảo y đỏ thẫm cõng một mẩu đội mũ hổ, nhìn thế nào cũng thấy hơi buồn cười. Hơn nữa chàng còn xăn tay áo, lộ ra cánh tay trắng bóc, trông chẳng liên quan gì tới vẻ văn nhã dịu dàng chút nào.
Trước phủ Thái úy có treo mấy cái lồng đèn bát giác màu da cam, cây trúc cao cao, chớp nháy lúc sáng lúc tối.
Chàng cõng Kiều Thực thong thả đi tới, hô hấp của cô bé rất sâu và tuần tự bên cạnh lỗ tai chàng, mang theo hơi ấm. Kì lạ thật, hôm nay chàng không hề có tí kích động muốn giết nàng chút nào.
Đám nô tì kia vừa thấy chàng đều luống cuống, thiếu nữ thanh y chải tóc kiểu hai búi (*song kế) đi đầu phản ứng đầu tiên, quỳ rạp xuống đất. Mấy đứa nô tì đi sau cũng lập tức quỳ theo.
Thanh y thiếu nữ để lộ một phần cổ và nửa gương mặt xinh đẹp rực rỡ, bình tĩnh dập đầu thưa: “Nô xin thỉnh an Mẫn công tử, công tử thiên tuế.”
Phù Tô cảm thấy cổ mình căng cứng, cảm giác muốn giết người mỗi khi nhìn thấy Kiều Thực lại xuất hiện, bấy giờ cái mũ đầu hổ nho nhỏ gục xuống cằm chàng. Chàng cố kiềm chế, thiếu nữ mặc áo xanh lại vừa quỳ vừa đưa bàn tay thon thả như ngọc không tì vết, dịu dàng nói: “Nữ nhi lấy danh tiết làm trọng, xin… công tử Mẫn đưa Tam cô nương trả cho nô.”
Phù Tô nhìn cô gái chăm chú, nheo mắt nói: “Ngươi là Quy thị?”
Hình như thiếu nữ không nghe thấy, thấp giọng nói: “Hôm nay Nhị lang nổi cơn thịnh nộ, đánh chết mười nô tì trong nhà, nếu người ở chỗ này, sợ rằng hai chân A Thực sắp gặp tai ương, sao công tử không nhanh chóng rời ngay đi?”
Phù Tô nằm cằm thiếu nữ, lạnh nhạt hỏi: “Cô hỏi ngươi, có phải Quy thị?”
Thanh y thiếu nữ không nói, hồi sau mím chặt môi, quật cường không chịu ngẩng đầu.
Sách cũ kia tâng bốc Quy thị là mỹ nhân đệ nhất thiên hạ.
Phù Tô cảm thấy choáng váng, khi tỉnh lại thì đã ở trong căn phòng đá ở Hề Sơn. Hai Nhăm, Hai Sáu cuộn mình ngủ say bên cạnh chàng, nhễu nước miếng ra ba nghìn thước.
Chàng đã mơ một giấc mơ rất chân thật.
Mười Bảy được nghỉ mấy ngày, mang vài tin ở nhân gian tới thì Phù Tô mới biết đường đệ Thành Giác của mình đang hấp hối, đoàn sứ thần được phái đi đến các nước khác phát tang đều đang chờ trong cung Mục vương để chờ lệnh. Phượng nghi của tổ mẫu Tuyên Thái hậu đừng lại ở cung Hàm Ninh, cứ như đang đau buồn quá độ vì hai đứa cháu Phượng hoàng và Minh châu lần lượt gặp bất trắc, thậm chí còn ăn chay suốt ba tháng tròi, thuốc thang liên tục, Thái y đã nói như vậy không phải là cách chăm sóc đúng đắn, nhưng mà hình như Lão Thái hậu đã hạ quyết tâm không chịu hồi kinh, mặc cho Bệ hạ vài lần khẩn thiết cầu xin trần tình mà vẫn không có tác dụng.
Từ khi lên bốn, Mục vương Thế tử Thành Giác đã bái biệt hai vị điện hạ trong cung Hàm ninh để tới kinh đô Bách Tử các để học hành thì đã được nuôi dưỡng trong điện Thái Âm, dưới mắt Tuyên Thái hậu. Vì được tổ mẫu bá phụ sủng ái nên trước nay làm việc chẳng hề kiêng kị. Tính tình Phù Tô và đường đệ Thành Giác không hợp nhau, quan hệ cũng chẳng hòa thuận lắm, một người là Bệ hạ tương lai, một kẻ là chư hầu vương lớn nhất tương lai của Bách quốc, ngược lại thường vì những chuyện vụn vặt mà sinh ra lục đục. Tuy bình thường do Thành Giác khiêu khích nhưng Phù Tô đều chưa từng để trong lòng, nhưng vì thái độ của chàng mà đường đệ này càng nóng nảy, khiến cho trước sau bảy mươi hai điện đều không được yên. Dù mọi người đều không dám bảo hắn phải nhường nhịn nhưng ai ai cũng không chịu nổi nữa, đều xin Thái hậu hòa giải, có điều vẫn không dám nói gì mạo phạm Thành Giác, chỉ bảo, Thái tử và Mục vương Thế tử lại trêu chọc cãi nhau nữa rồi. Trời xanh làm chứng, từ nhỏ Phù Tô đã vùi đầu vào sách cổ, ngày nào cũng xếp kín các giờ học, các đại nho dạy Thái tử cũng lần lượt ra ra vào vào liên tục, khiến Tiểu Thái tử mệt đến lười nói, đâu ra hứng thú trêu ghẹo cãi nhau với người khác làm chi?
Mười Bảy nói, lúc Niên Thủy Quân và đám hạ thần nói chuyện về tai họa lần này của Thành Giác, là do bức họa mỹ nữ do Vân tướng Vân Lang (*), đã qua đời, là nguyên lão tam triều vẽ ra. Vân Lang là tiên nhân chuyển thế, bức họa này vẽ là người thương của ông ta, vì thế tiên khí trong tranh cực kì thuần khiết, sau có cơ duyên xảo hợp, chẳng biết cô hồn ở đâu đi vào, nhờ tiên khí trong đó phù hộ mà luyện được vài thành tựu, có khả năng mê hoặc con người, di chuyển đồ vật. Trước đó mấy ngày, mộ của Vân tướng bị khí ôn dịch xâm nhập, Thanh Thành điện hạ cực kì tức giận, dốc hết sức lực của phong ấp ba nước để tu sửa lại mồ mả cho Vân tướng. Vì Bệ hạ hiểu rõ sự si mê của cô tổ (*bà cô), cả đời không gả, lại cảm thán công đức văn võ của Vân tướng lúc sinh tiền, ngầm đồng ý cho quy cách của mộ cao hơn một cấp. Thanh Thành dồn hết sức lực như muốn trút hết tất cả nuối tiếc của cả đời xuống miếng đất này. Lúc vừa dỡ mộ, Lão công chúa tóc bạc hoa râm tay chống quải trượng đầu phượng trợn tròn mắt. Trong mộ không có gì cả, chỉ có một bức họa hoàng y mỹ nữ bầu bạn cùng quan tài, nhìn nhau từ xa. Lí do năm đó Vân tướng từ chối hôn sự với Thanh Thành điện hạ đến giờ vẫn như còn văng vẳng: “Thần nhập đạo từ nhỏ, không có nhân duyên, chỉ chứa quân vương thiên địa.” Ông ta nói mình một lòng hướng đạo, không có hứng thú với nữ giới, trong lòng chỉ có quân vương thiên hạ, ông ta nói phong thái của Thanh Thành điện hạ đủ xứng với thiên nhân, chỉ một thần khanh nho nhỏ, thần vị thấp hèn không dám trèo cao, bảo rằng đời này kiếp này không cưới ai, điện hạ yên tâm.
(*) Ghi chú một chút cho rõ, Lang (琅) đây không phải là lang trong Nhị lang – một cách nhân xưng mà là một danh từ riêng, có nghĩa là cẩm thạch trắng; Vân Lang ở đây là tên riêng (được viết hoa).
Thanh Thành điện hạ phẫn nộ đến uất nghẹn, không thể hít thở mà ngất đi. Thế tử Thành Giác lĩnh chỉ và giám sát ngôi mộ với bà cực kì cẩn thận, nhận ra tình trạng dị thường trong mộ thất, liều lĩnh lấy bức trang xuống, kết quả lại bị ma quỷ trốn trong tranh cuốn lấy, hành động cực kì khác với bình thường, mà tranh kia xé không rách, đốt không cháy, cho dù ném ra xa bao nhiêu dặm thì ngày hôm sau đã yên ổn trở về bên gối Thành Giác, đã từng mời biết bao đạo sĩ bà cốt vu tộc về rồi mà chẳng ăn thua, nên mới dẫn tới tình cảnh như hôm nay.
Thanh Thành điện hạ cứ nằm liệt giường như thế, bà không bị quỷ quấn, chỉ là đã mất hết hi vọng, không có chút hi vọng sống, chỉ chực xăn tay áo chờ chết để liều mạng với Vân Lang dưới âm phủ. Một bức họa mà khiến cho hai nhân vật quan trọng của hoàng thất thành ra như thế, quả đúng là chuyện hiếm có trong trăm ngàn năm nay.
“Người trong bức họa là tiểu thư quý tộc nhà nào? Lai lịch nội tình của ma quỷ trong tranh là ra sao?” Phù Tô vừa nói chuyện phiếm với Mười Bảy, vừa cầm bút đỏ phê duyệt sự vụ trong núi được tích cóp bao nhiêu ngày qua. Trước khi đi Hề Sơn đã giao hết chính vụ cho Phù Tô khiến cho mấy ngọn núi bên cạnh đều đang ôm đầu khóc nức nở, dạo này lũ khỉ lông xanh làm ăn suôn sẻ quá, không cướp lương thực không kéo bè lũ đánh nhau, khiến người ta khó mà chịu được. Có câu bảo chắc con người thích bị coi thường, yêu quái cũng thế, bị kẻ thù dày vò quen rồi, nay thay đổi tác phong khiến chúng không chịu được.
Mười Bảy bưng một vốc hạch đào, ăn vài hạt rồi tiếp: “Không biết người trong tranh năm đó là tiểu thư nhà quý tộc nào, có lẽ vì uy phong của Thanh Thành điện hạ, hai người vẫn không làm rõ, đoạn tình nghĩa cứ chấm dứt như vậy, Vân Lang nghĩ tới là nhớ nhung, mới vẽ một bức tranh mang theo vào quan tài để hoài niệm. Còn về phần ma quỷ trong tranh thì chắc là thiếp thị không bệnh mà chết của công tử chứ đâu.”
Giọng nói của Mười Bảy đầy ám muội, cười bỡn cợt, Phù Tô tiếp tục phê duyệt, bày ra vẻ ‘Ngươi thích nói gì thì nói, ông đây không thèm cảm ơn đâu’, Mười Bảy cảm thấy chán, sờ mũi nói: “Công tử có nhớ sơ lễ phụ nhân, Chất Thủy, của ngài không?”
Sơ lễ phụ nhân, là chỉ một nữ nhân nhà lành được tuyển chọn kĩ lưỡng để dạy các vương tử làm chuyện mây mưa. Cây bút đỏ của Phù Tô khựng lại, tự dưng lại nhớ đến chuyện này. Phù Tô là Thái tử, từ khi qua sinh nhật mười sáu tuổi thì Tuyên Thái hậu đã bắt đầu thu xếp chuyện sơ lễ phụ nhân. Với vương tử hoàng tôn các triều đều thuận lợi là thế, mà đến Phù Tô thì lại sinh chuyện. Nói lớn không lớn nói nhỏ không nhỏ, cũng tại vì cái sự ‘si mê’ của Thành Giác dành cho Thái tử ca ca của mình.
Có những người, từ khi mới sinh ra đã định trước sẽ là kẻ thù. Kẻ thù có, bạn không có thì lại càng hay. Thành Giác là một người như thế, cái gì của Thái tử ca ca là của ta của ta của ta. Thứ hắn muốn là của ta, thứ hắn yêu, là của ta, thứ hắn hận, càng là của ta, thứ hắn có hứng thú, là của ta, thứ hắn nhìn tới, cũng là của ta, trừ việc hắn không phải của ta thì những gì của hắn đều là của ta. Vì thế, câu chuyện chọn lựa kĩ càng thiếu nữ nhà lành, Chất Thủy, thành bi kịch.
Bởi vì, một hàng tiểu cô nương ngây thơ đứng xếp hàng trước mặt tiểu Thái tử, Thái hậu nương nương vừa vuốt mái tóc xanh của Thế tử, vừa vui vẻ hỏi cháu trai: “Cháu ơi, cháu nhìn xem thích ai?”
Phù Tô đang đọc ‘Trạc Tuyết Tập’ của đại nho tiền triều Trương Hàm, ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn thản nhiên các tiểu cô nương đang kích động đến run lẩy bẩy, chỉ vào một thiếu nữ đang đứng gần mình nhất hỏi: “Ngươi tên gì?”
Hai má thiếu nữ hây hây, nhoẻn miệng cười lộ ra hàm răng đều như hạt bắp, “Thiếp tên là Chất Thủy.”
Phù Tô gõ vào sách, lạnh nhạt nói: “Chất thủy và trạc tuyết, xem ra cũng hợp đấy.”
Nói xong thì rũ mắt đọc sách tiếp, Tuyên Thái hậu nhìn thiếu niên ngoan ngoãn trong lòng rồi nở nụ cười, ngẩng khuôn mặt xinh đẹp kiêu ngạo, khẽ đảo mắt, trông như một hồ nước đầy hoa anh đào.
Đêm hôm đó, Chất Thủy không hề tới điện Bình Cát, nàng bị Thành Giác chặn giữa đường, sủng hạnh trong bụi cỏ khô. Các cung nhân nữ quan ở sau Chất Thủy sợ đến mức biến sắc, không ai ngờ Mục vương thế tử lại làm một chuyện như vậy. Cung nhân mật cáo tới Tuyên Thái hậu, Thái hậu muốn bảo vệ mặt mũi Thành Giác, đành phái một thiếu nữ nhà lành khác đi thay, còn Chất Thủy bị nhốt. Xưa nay Phù Tô có thói quen ngủ sớm, tuy thái giám hầu hạ có nhắc thiếu niên rằng hôm nay là một ngày quan trọng của trưởng thành, nhưng thiếu niên vẫn đi ngủ sớm như cũ, mơ một giấc mộng đẹp, trong mơ có sao kêu trống vỗ, cưới một tiểu thư không nhìn rõ mặt. Cô nương Thái hậu phái đi ngồi trong sườn điện cạnh cung Bình Cát một đêm. Phù Tô tỉnh lại mới biết đã đổi người. Chàng đến Thái Âm điện để thỉnh an Thái hậu, trên đường gặp một cung nhân già của Chất Thủy, thì ra bà ta không nhịn được, chực chờ ở đây để báo cáo Thái tử. Theo như cung lệ (*), sơ lễ phụ nhân đã thất trinh thì sẽ bị đánh chết, nay vì muốn che giấu chuyện xấu mà đã hành xử qua loa. Phù Tô nhớ tới ‘Trạc Tuyết Tập’, đó là quyển sách hay hiếm có, lúc chàng thỉnh an, suy nghĩ một chút rồi hỏi: “Nếu như Thành Giác đã thích thì cứ cho. Nương nương cớ gì vì con mà phải khó xử như vậy?”
(*) Lệ trong án lệ, lệ cũ.
Tuyên Thái hậu đỏ mặt. Thành Giác đã năn nỉ bà một đêm, nói Chất Thủy là cô gái mà hắn khó lắm mới thích, huynh đệ tặng thị thiếp cho nhau cũng là một chuyện rất bình thường trong hoàng thất.
Sau đó, Chất Thủy được đưa tới điện của Thành Giác.
Về sau nữa, Chất Thủy bị Thành Giác treo cổ ở cái cây trước điện.
Rồi về sau sau nữa, Bệ hạ hạ chỉ, Thái tử còn nhỏ, cứ hoãn lại việc tuyển chọn sơ lễ phụ nhân. Cứ hoãn lại, hoãn tới tới Thái tử hoăng, nên đương nhiên cũng không có sơ lễ phụ nhân.
Mười Bảy nói quỷ hồn đó hồn phách không cam lòng của Chất Thủy sau khi chết đi, vì cơ duyên xảo hợp nên trên đường tới Minh giới đã gặp mộ của Vân tướng, sau đó nhờ cơ duyên xảo hợp mà bị hút vào tranh, cơ duyên xảo hợp thế nào được Thành Giác cầm lên. Có câu bảo báo ứng không sai, mọi chuyện trên đời này là nhân nào quả nấy.
Phù Tô như bị che phủ trong sương mù, chàng không còn nhớ Chất Thủy trông như thế nào nữa. Mười Bảy cười nói: “Trông Quỷ Hồn ra sao thì bọn ta chờ mãi mà không thấy, chỉ là nhiều năm trước Thủy quân từng nhìn bức họa kia, người trong tranh mặc hoàng y, trông rất xinh đẹp, mặt trắng chân trần, con mắt vô thần, cầm một quân cờ màu đen, dáng điệu không dễ thương gì cho lắm. Chẳng biết Thành Giác mê cái gì mới để cho quỷ mị đó thừa cơ lợi dụng.”
Phù Tô nhớ tới người đường đệ ruột thịt, không biết làm sao nhưng cũng cười lạnh, nói: “Xưa nay những thứ hắn thích đều có liên quan tới ta. Có lẽ kiếp trước là vợ ta đấy.”
Mười Bảy cười, “Sơn quân ghen đấy, công tử không nên dính dáng gì tới nữ tử.”
Phù Tô lại cầm bút đỏ, ngón tay trắng nõn, khớp xương rõ ràng, khẽ cúi đầu, cười nhạt bảo: “Hề Sơn lại càng hay, chắc kiếp trước là chủ nợ lớn nhất của ta đó.”
***
Thiếu niên trôi nổi giữa không trung, nhìn minh châu lượn vòng quanh giường, nhìn mình với sắc mặt tiều tụy. Hắn nhớ tới lá phong ở ngoài tẩm cung Hàm nguyên, khi thu tới thì nó sẽ trở nên như thế, mang sắc đỏ khô héo cuối cùng tan rã trong đất bùn, như thể không thể cứu vãn được.
“Ta đã thỏa mãn tâm nguyện của Điện hạ rồi, vì sao không trở về?” Tử kim tán nhân nhíu mày nhìn thiếu niên trong suốt một nửa trước mặt, hình như hắn không hề thông minh như tưởng tượng của mình.
Mái tóc xanh của Thành Giác rũ tới thắt lưng, quấn quanh hai tay, lạnh lùng thở một hơi, nói: “Kẻ thù của ta vẫn chưa chết.”
Tử kim tán nhân nhẫn nại khuyên: “Nếu Quy thị xuất hiện thì kẻ thù của ngươi chắc chắn sẽ chết. Nhưng mà dù người này có chết thì cũng có ích gì với ngươi đâu? Quỷ khí trong cơ thể ngươi quá nặng, bị quỷ hồn trú một lúc nên mới sinh ra chấp niệm này, đợi hai ngày nữa, uống hai chén thuốc là ổn thôi.”
Thân thể bán trong suốt trở nên nhạt hơn, Thành Giác không thỏa hiệp, “Không chính mắt nhìn thấy nàng chết, sao ta có thể an tâm?”
Tử kim tán chân chưa bao giờ gặp phải một đứa trẻ khó chịu như vậy, khóe miệng nhếch lên một cách khó nhận thấy, “Ngươi hận nàng vì cái gì? Nàng chưa từng gặp ngươi, chưa từng yêu ngươi, chưa từng cản trở ngươi, ngươi hận nàng ta vì gì?”
Thành Giác cười lạnh. “Kiếp trước ta chết vì nàng, giết chín mươi chín kẻ thù, chỉ còn nàng thôi, sao có thể cam lòng!”
Tử Kim tán nhân thầm bực mình vì sự ngang nhanh của vị vương tử này, không biết phải trái, nếu không có mấy đời quân mệnh thì sao y lại bằng lòng giúp đỡ cơ chứ: “Nếu ngươi giết đủ một trăm người là trúng kế của quỷ nữ Chất Thủy đó! Chất Thủy dụ dỗ ngươi giết người kiếp trước chỉ hòng phá công đích ngươi đã tích lũy bao đời, thành toàn cho tình lang của nàng ta, khiến ngươi kiếp này không thể được như ý! Ngươi nói muốn gặp thiếu nữ trong tranh, ta đã giấu hồn phách của ngươi trong sách, mượn thân Phù Tô đưa ngươi đi một vòng, bây giờ tâm nguyện đã xong, vì sao không chịu thu tay lại?”
Thành Giác quay đầu lại, khép mắt, chân mày hơi nhíu lại, hắn trầm mặc một lúc mới nói: “Ta sống lại theo trí nhớ từ kiếp trước của mình, nhưng không biết kết cục của nàng thế nào. Ngươi hãy để ta được yên tĩnh mà nhìn đi.”
Các Sơn quân ở đỉnh núi cách vách đã lục tục quay về, Hề Sơn quân vẫn chưa. Lũ khỉ bĩu môi, Quân phụ lười biếng quen, chẳng biết đang tiêu dao ở trên trời đến đâu rồi, công tử có chiêu quản gia lắm, làm người vừa ông hò vừa quyết đoán, vậy nên nàng cảm chậm trễ.
Hề Sơn mà nghe thấy lời này thì chắc chắn sẽ muốn mắng vào mặt mặt tụi nó. Bây giờ nàng đang dở tay, chưa về được. Thì ra, mấy ngày qua, công việc sắp xong, khi chuẩn bị kết thúc thì trên bầu trời có một ngôi sao vừa xuất hiện, nhỏ xíu, nhăn nhúm, phát ra ánh sáng màu xanh đen, trông như quả mơ, cho dù nàng lau cách mấy thì cũng chẳng hề có hiệu quả. Lúc đầu vẫn không chịu nói, sau đó thì chịu nói chuyện, nhưng vẫn rơi nước mắt, khăn của Hề Sơn bị nó khóc tới mức mang đi phơi nắng là có thể thu được một đống muối.
“Rốt cuộc ngươi bị cái gì vậy? Cứ vầy hoài, phiền quá!” Hề Sơn quân rất sốt ruột.
Quả mơ kia lại bắt đầu rơi nước mắt lã chã, “Sơn quân không biết đâu, lúc ta… ta còn là quỷ, lúc chưa bị đại sĩ biến thành sao thì từng nhìn thấy kính luân chuyển. Cô nương mà tình lang ta thích không thích chàng, sau đó chàng không vợ không con, khổ sở cả đời. Cứ nghĩ tới đó là trong lòng ta đau thắt, không kiềm được mà rơi nước mắt. Giận nhất là dù làm quỷ ta cũng không giúp được chàng!”
Kính luân chuyển đã đun trong dung nham ở Cốt sơn, được treo trước điện của Tần Quảng vương, có thể biết kiếp trước, kiếp này và kiếp sau.
Hề Sơn quân suy nghĩ một chút rồi nói: “Ngươi đừng khóc nữa, đưa bát tự tình lang ngươi cho ta, ta và ngươi cùng xếp thử, bói xem, một người cho dù thiên mệnh đã định nhưng vẫn có thể thay đổi vài chi tiết.”
Quả mơ khóc hức một cái, nói: “Ta nghe người lớn trong nhà nói, lúc chàng là lúc chính đông treo thịt khô, ngày tháng cụ thể thế nào thì không biết.”
Hề Sơn quân lấy vỏ rùa trong ngực ra, giận dữ nói: “Có canh giờ không? Có canh giờ thì tính toán nhân duyên cũng ra sáu bảy phần đó.”
Quả mơ suy nghĩ, nói: “Bà nội ta nói, vì nhà ta nằm gần một xóm cạnh đường cái, tối đó bà không ngủ được, vừa qua canh tư ngày hôm sau thì sao Thiên vi mới sáng một chút, sau đó nghe tiếng vó ngựa ầm ĩ, léo nhéo, họ là sứ thần đi báo tin cho các nước. Khi bà nội thức dậy nấu nước thì nhà Lý chính bên cạnh đã treo vải đỏ, bảo là quốc hỉ, Đại chiêu có hậu!”
Cái áo tang của Hề Sơn quân nhoáng lên, vỏ rùa rơi xuống mây.
Tâm tình Hề Sơn quân thế nào tạm không nói tới, cơ mà Phù Tô hiện đang rất bận, gần như đã quẳng giấc mộng trong sách đi đâu rồi. Tuy nhiên khi nghĩ lại thì cũng thấy hoang đường. Lúc đó, nếu mà không quay lại được thì thi thoảng chàng nghĩ dẫu cưới Kiều Thực cũng không tệ. Nuôi một đứa bé kì lạ mặt dày như thế, cuộc sống không tuân phép tắc nhân gian nhưng mà sẽ thú vị hơn nhiều. Người bên cạnh bảo thái độ nghiêm khắc của Kiều Nhị lang với ấu muội lùn tủn hoàn toàn khác biệt với vẻ dịu dàng ôn hòa khi đối đối xử với người khác, nhưng cũng không hiểu sao, chàng thiếu niên này lại dùng sự nhẫn nại người khác không nhận ra để dạy dỗ Kiều Thực. Chàng và Kiều Thực gặp nhau vài lần, nghe cách cô nương này nói là biết đã đọc xong các loại sách sử như ‘Tả truyện’ ‘Xuân thu’, cũng biết vài phần về đạo cổ cầm, nếu không có ý chí chống đỡ, cứ nhìn sự nghèo túng và keo kiệt của mẫu tộc Kiều Thực, trước nay luôn bị hoàng tộc lạnh nhạt thì sao có thể được chăm sóc nuôi dạy một cách cẩn thận như thế này. Phải biết một điều là huynh trưởng Kiều Thực là một bài học thất bại, đường đường là đích trưởng tử của Thái úy mà bây giờ vẫn phải sống bạc nhược cực kì, không hề hay biết tới.
Ngày hôm đó, chàng đi nghỉ sớm như mọi ngày, đều không bao giờ hết việc như lúc sắp xếp chính vụ đông cung mấy năm trước, lũ yêu quái này chẳng kiêng kị, cũng chẳng màng tới đạo lý, nếu muốn sống hòa bình với tụi nó thì không thể không cho chúng vài thứ hưởng thụ. Chẳng hiện như Thúy đại giỏi giải quyết giấy tờ, vậy thì giúp lũ yêu ở mấy mỏm núi lân cận thu xếp nợ cũ năm xưa; mà Ba Hai giỏi giao thiệp, vậy thì qua ăn nhậu với lũ yêu quái kia để tăng tình cảm; Ba Chín biết làm đồ gốm nên lấy đất đỏ Hề Sơn để làm mấy món trang sức bằng gốm tinh xảo đưa tới phủ của các cô nương. Mấy ngày nay, con cháu Thúy gia đã vận dụng hết kĩ năng của mình, lôi kéo được tạm thời, dù không đến mức người người đều khen, yêu yêu đều thích nhưng dù gì cũng lấy lại được ít tiếng tăm. Vì trước đây Hề Sơn quân lạm dụng quyền uy, cuối cùng bị các phủ coi thường, nay vừa dụ dỗ lôi kéo, vừa uy h**p dọa dẫm, nên trong nhà hòa thuận hơn, lũ khỉ trong núi cũng thoải mái hơn nhiều.
Đêm đó, chàng ngủ rất ngon, sau khi Bốn Mốt trực đêm gõ ba tiếng mõ xong thì chàng lại vào mộng. Mà giấc mộng này lại khác hoàn toàn với những gì trong quyển truyện trước đó, nhìn sương mù dày đặc mờ mịt thì biết đây là giấc mộng hư vô, không hề liên quan tới Mẫn Ngôn.
Giấc mộng này thật kì quặc.
Bây giờ chàng không phải là bất kì người nào, nhưng từng cảnh cứ rõ ràng ngay trước mắt.
Một mẩu đã quỳ gối ngoài hành lang hai canh giờ, hình như là cảnh chàng đưa nàng về nhà hôm đó. Con vẹt treo trên móc làng ở hành lang được tiểu nha hoàn khéo léo bọc che tai. Người ta bảo canh cửa Tể tướng là quan thất phẩm, hay cả con vẹt được quý như vàng, chỉ có cái áo bông mỏng manh của tiểu cô nương lại phủ sương lạnh, cái mũi trắng như kết băng, mờ mịt nhìn cửa phòng đang đóng kín lộ ra chút xuân ý, có chút khó chịu, có chút hoang mang, cũng vài phần lúng túng.
Hai vị chủ quản đại nhân của Thái thường tự đã chờ rất lâu, thấy nàng quỳ vậy thì hơi bối rối, vội vàng thi lễ một cái rồi cúi gằm mặt, chờ Kiều Nhị lang truyền gọi. Tối qua Nhị lang bị nhiễm lạnh, ho khan cả đêm, cứ trằn trọc tới sáng sớm, chỉ mới vừa ngủ lại.
Lũ nội thị nha hoàng không dám làm phiền chủ công nghỉ ngơi, chỉ đưa hai vị đại nhân tới sườn điện, lúc nhìn qua Một mẩu thì trong mắt mang theo vẻ lạnh lùng và mấy phần hàn ý. Một mẩu chỉ có thể làm như không biết, chắc là đã quen với tình huống đó, lặng lẽ quỳ tiếp.
Lát sau, một thiếu nữ mặc váy xanh thêu hoa đỗ quyên mở cửa ra, hơi ấm tràn tới khiến Một mẩu run người.
“A Thực, vì sao em còn ở đây?” Hoàn bội kêu leng keng, trán cao trắng nõn, thì ra không phải là một cô nương bình thường mà là Quy thị Phù Tô từng gặp.
Một mẩu cũng sửng sốt, “Vì sao biểu tỷ lại ở đây?”
Hai canh giờ trước, lúc nàng còn chưa quỳ thì biểu tỷ đã ở đây rồi, vì hai canh giờ vừa qua không có ra vào cả. Hoặc có thể là biểu tỷ vốn không về lại vườn từ tối qua. Một mẩu cứng đờ.
Quy thị cười nhẹ, “Nhị lang mệt mỏi khó chịu, hôm qua phát sốt, ta đã báo tin với anh ấy là em đã về nhà rồi, Nhị lang cứ trầm mặc không nói, ta không dám rời đi, đành theo chúng tỳ hầu anh ấy dùng thuốc, sau đó mơ mơ màng màng nghỉ tạm ở gian phòng bên cạnh với mọi người, bất tri bất giác tới giờ.”
Một mẩu ngẩng đầu lên, nhíu mày hỏi: “Biểu tỷ, với thân phận của tỷ thì không cần phải tỏ ra thấp kém trước mặt ca ca ta đâu, dù cậu đã chết thì Quy thị vẫn có sự kiêu ngạo riêng.”
Quy thị xoay người, dịu dàng đẩy trán Một mẩu, cười thản nhiên, “Nhóc con, chẳng lẽ em có thể kiêu ngạo trước mặt anh ấy thật à? Chẳng lẽ em không biết tính tình Nhị ca Em thế nào sao? Hôm qua chân em chưa bị cắt là do anh ấy bị sốt. Nay vừa mới tỉnh lại thì chỉnh trang, Mặc Ngôn đang hầu hạ rửa mặt chải đầu. Em đừng đợi nữa, hai vị đại nhân Đinh, Lý đang đưa tấu chương, nếu nghị sự sẽ rất lâu, quỳ ở đây, anh ấy vừa không biết em có gì muốn cầu xin mà còn khiến mọi người chê cười. Tội gì phải thế”
Một mẩu lắc đầu, thật thà nói: “Ca ca rất tốt với ta đó, tỷ không biết đâu.”
Cứ như ừa nghe phải chuyện cười, Quy thị ngểnh cái cổ trắng nõn cao cao, cười lanh lảnh, sau đó bóp khuôn mặt mềm nhũn như cây bông vải, cười nói: “Biết đâu đấy, chỉ là ta chưa nhận ra. Đáng thương là nếu em không nghĩ vậy thì cũng chả sống lúng túng thế này. Làm người phải tự coi rõ cái mệnh của mình, không phải coi thường mà coi cho rõ. Vào ngày cô mẫu chết, ta chỉ biết rằng, nếu em không chết một cách mơ hồ thì sẽ có ngày còn thê thảm hôm nay gấp trăm ngàn lần. Nhưng mà bây giờ chỉ sống lạnh lẽo hèn kém thế này thôi, chắc nhờ anh ấy đối xử với em không tệ thật.”
Nói xong, không để ý đứa bé kia có nghe hiểu hay không thì đã đạp mây ung dung cao quý bước đi. Mà đúng là Kiều Thực… nghe không hiểu thật. Nàng cúi rũ cái mũ đầu hổ, ngơ ngác suy nghĩ về những gì mà biểu tỷ đã nói, sau đó tiếp tục quỳ tại chỗ như bước vào cõi tiên, ngay cả chàng thiếu niên khoác lông cao trắng muốt trên người ôm lò sưởi mang một đàn mỹ nhân hoạn quan đi qua trước mặt, nàng cũng không hề nhận ra. Tất mọi người đều nhìn nàng rồi cười khúc khích, cái con bé lùn này… quả thật ngốc đến đáng thương.
Đến khi nàng lấy lại tinh thần, lắc đầu thì không còn ai trong tẩm điện nữa, sửng sốt, Nhị ca đâu rồi?
Mỗi ngày Một mẩu chỉ suy nghĩ một lần, nghĩ xong là lười. Nàng quỳ cũng được mà không cũng chẳng sao, đưa mắt nhìn đĩa quýt vỏ xanh và chén kem bơ sữa đang chễnh chệ trong điện, cái chân đã đông cứng càng lạnh. Ca ca đi đâu rồi? Nhanh quay lại chút đi, cho dù bị cắt chân thì cũng được ở trong chăn trị thương, huống hồ còn có quýt và kem bơ để ăn nữa, chắc chắn khi ấy sẽ không cần phải đi học ăn mắng, mà trước đó cũng đã được ăn hoành thánh nhân tôm thịt rồi, tính ra chuyến này thế là lời, đúng là chuyện đẹp trong đời.
Sau đó, sau đó Một mẩu nghiêng đầu thiếp đi. Ít nhất thì nàng cảm thấy mình đang ngủ.
Rồi sau đó, nàng bị ngộp trong chăn, đưa tay ra mò phải sợi chỉ bạc bóng loáng mềm mại, giật mình chợt tỉnh, phát hiện mình đang cầm chặt tay áo của Nhị ca.
Một cơn giá lạnh tràn vào, hai quyển tấu chương bị quăng ra ngoài bình phong màu lam. Kiều Thực nhìn xuyên qua, thấy hai người đàn ông mặc triều phục đỏ đang quỳ ở xa. Nàng len lén ló đầu ra khỏi tấm chăn thì thấy một đoạn tóc như tranh gấm. Có mùi bạc hà nhàn nhạt vương vẩn ở toàn tẩm điện, trong điện không có hương, trước nay Kiều Nhị lang không thích hương nào cả. Con ngươi của Kiều Thực trắng đen rõ ràng, im lặng nghe từng lời của huynh trưởng.
“Xưa nay bản quân rất ghét nghe những lời nịnh nọt, dù Tô Đình Hòa có ba phần bản lĩnh, nhưng với sức của một mình hắn mà muốn trừng phạt Tây du thì còn thiếu rất nhiều, Bệ hạ dùng hắn để vả mặt ta, một đứa trẻ như ta thì có hiểu cái gì, sợ cái gì? Nửa giang sơn này không có bản quân, tuy là có thể dựa vào hắn để cố nuốt, nhưng mà muốn chiếm được một chút thôi thì cũng như kẻ ngốc nói mê. Mấy ngày nay ta cáo ốm không lên triều, mấy lần Bệ hạ muốn hỏi thăm nhưng đều bị Tô phái can ngăn, thánh ý khó dò, chả bằng cứ để bọn họ chịu khổ rồi lại bàn sau. Các ông cứ im lặng đi, yên tĩnh một chút, cứ xem thủ đoạn của họ thế nào. Mẫn Ngôn kiêu ngạo như vậy, có điều lại bị đám người Tô Đình Hòa, Lý Trì dùng như mũi thương.”
Như phản xạ có điều kiện, một đôi tay bé nhỏ vội vàng ôm chặt thắt lưng huynh trưởng, ấm áp dâng trào, ngăn hàn ý trên người Nhị lang. Chàng khựng lại một chút, nhưng không đẩy Kiều Thực mà chỉ tiếp tục nói ra ngoài từ trong bình phong: “Mệnh của Tạ Lý ở kinh đô đã được bố trí xong, đã nhiều ngày qua, Bệ hạ tự có thánh tài. Các ngươi cứ tỉnh táo đi, mọi người trong Thượng thư các cũng phải nói chuyện cẩn thận vào, Lý Lương Ngọc và đám ngoại thất phu nhân hắn đang chờ chê cười đấy, chớ để Mẫn Ngôn nắm được nhược điểm. Hắn bây giờ kiêu ngạo, hơn ta năm đó nhiều nhưng không thấy Bệ hạ nổi giận chút nào là biết có ý thiên vị. May mà các ngươi bất động, Bệ hạ cũng không tha cho Tô Đình Hòa.”
Trong đó có một người giọng như chuông đồng, nhưng vì cố kị nên đã nén giọng ít phần: “Mấy ngày nữa, chủ công sẽ thành anh vợ Mẫn Ngôn, với sự sắp xếp này, ta và các chư vị đại nhân suy đoán nhưng vẫn không biết thâm ý chủ công ra sao. Nếu muốn phái Tam cô nương phá hoạt sự cuồng ngạo của tên oắt kia thì không ổn lắm. Tam cô nương thật sự… thật sự hơi xấu, cũng không thể được nội sủng, chi bằng để Quy cô nương thay thì hay hơn.”
Kiều nhị còn chưa kịp nói thì Kiều Thực đã dán mình lên lưng chàng, truyền hơi ấm, vội vàng nuốt nước bọt, tim đập rất mạnh. Lúc này, cả phòng lại chìm vào yên tĩnh. Hồi lâu sau, chàng thiếu niên áo truyền ho khẽ, nhẹ giọng nói: “Vì sao các người cứ nghĩ bản quân muốn hạ bệ hắn? Hắn có gì mà hạ bệ? Chỉ là một kẻ tầm thường mà thôi! Chung chỗ với hắn, cũng giống như với Tam nương, cả người đều không che được cái mùi nhà quê.”
Mùi nhà quê… hai tay Kiều Thực đang ôm Kiều nhị tủi thân rút về. Kiều nhị hừ một cái, Một mẩu theo phản xạ vụng về ôm lại.
Người còn lại ngoài bình phong như vừa nhận ra chuyện gì, vỗ tay cười lớn: “Ngô quân thật thông thái! Tội gì phải hạ bệ hắn chứ, chỉ một người là có thể khiến người ta ghét bỏ tên oắt kia năm mươi năm!”
Mũi Kiều Thực cay cay, những người lớn đó quen không nói tiếng người, quen không để ý Một mẩu bé nhỏ cũng biết đau lòng.
Kiều nhị nhắm mắt, nói: “Hai người bọn họ mà có thể ở bên nhau năm mươi năm thì lại giải quyết được mối họa lớn trong lòng bản quân. Các ngươi cứ lui đi, nếu Bệ hạ có hỏi thăm bệnh tình ta thì cứ bảo đang tốt lên, mấy ngày nữa sẽ vào triều.”
Hai người dạ vâng, khom lưng rời khỏi điện.
Lúc này Một mẩu mới tủi thân và bất mãn nói: “Người xấu bên cạnh muốn hại người khác, thì sẽ luôn muốn tránh khỏi người đó, nếu ca ca muốn hại em, vì sao chưa từng muốn tránh khỏi em? Nếu sau này tướng công công tử không thích em, thì ca ca sẽ càng vẻ vang hơn à? Em được Nhị ca nuôi lớn, bọn họ sẽ nói Nhị ca không biết cách dạy dỗ.”
Chàng thiếu niên với máy tóc như lụa lạnh lùng đẩy Một mẩu ra, lạnh lùng nói như trước nay chưa từng có một chút ấm áp: “Ai cho em nói chuyện với ta, nếu tỉnh rồi thì mau chút đi.”
Một mẩu rất buồn, buồn đến mức bứt hết một đầu tóc màu vàng của mình. Nhị ca không để ý tới nàng, đúng thế, không chê cười, không quở mắng, không bằng một cách nào mà cái đầu bé nhỏ của mình có thể nghĩ ra, Nhị ca chỉ làm một chuyện, đó là không đếm xỉa tới nàng.
Trước đây nàng cũng từng nghĩ tới kết cục khi ăn bát hoành thánh tôm thịt này, mấy cái chép sách, phạt đứng, chịu đòn không có tí áp lực nào. Nàng đã dày công tôi luyện kĩ năng chép phạt, hai tay cùng viết những chữ khác nhau, phạt đứng thì nhiều cách hơn, đội sách trên đầu rồi đứng một chân, ở trong nước có bụi cây có thể che giấu một mẩu bé nhỏ, chờ lâu vẫn không nhúc nhích. Chịu đòn thì phải thành thật thôi, chỉ là không ngờ lúc nhị ca bày tỏ biểu cảm phong phú nhất thì cũng là lúc nàng bị đánh, nhẹ một chút sẽ cau mày, mạnh một chút cũng cau mày, khiến điều mà lũ nha đầu vú nuôi sợ nhất là đánh nàng, không biết nhẹ thì tốt hay mạnh tí sẽ ổn hơn.
Nhưng khi nàng ăn chén hoành thánh kia xong thì chẳng xảy ra gì hết. Ca ca không phạt nàng, đi sớm về trễ, hàn khí mãi không tan, áo lông trắng, mái tóc đen, mặt nở nụ cười thì người càng khó chịu. Đúng, người khác nói là tiên khí, hoàn toàn khác với mùi nhà quê mà ca ca nói, nhưng Kiều Thực thấy chẳng qua là không hợp sống chung thôi. Chẳng ai đến gần ca ca, ca ca cũng chẳng gần ai.
Ca ca phạt nàng trách nàng, nàng chịu, ca ca lạnh nhạt thờ ơ với nàng, nàng cũng cam. Nhất thời, trong lòng một mẩu nho nhỏ như có nắm tuyết lạnh và chén canh nóng lần lượt thay nhau một tới một đi. Nhưng, khi bình phục rồi, mỗi ngày suy nghĩ thì cứ thấy hình như mình đã nhận sai gì rồi. Tuy kiểm điểm việc trốn nhà ăn chén hoành thánh tôm thịt không động được tới sâu thẳm trong tâm hồn, nhưng có thể sâu thẳm trong tâm hồn Một mẩu hiểu rằng không thể tiếp tục như vậy.
Nàng sợ Nhị ca không để ý tới mình, trên đời này chỉ có mỗi mình ca ca để ý đến nàng thôi.
Công tử Phù Tô ở trong mộng nhìn gương mặt Kiều Thực trong sách, lặng lẽ mà trông. Chàng cảm thấy mình hơi không ổn, thở một hơi thật dài.
***
Kiều Thực đang đứng ngoài phủ chờ Nhị ca.
Ngày đông, bão tuyết không dứt. nàng chỉ mặc cái áo hai lớp nên hơi mỏng manh, nhưng cô bé này từ nhỏ đã như cái bếp lò, không sợ lạnh. Nàng tựa đầu vào khe cửa, tay trần bám vào cửa, khập khiễng đứng bị dưới cái tai đồng tuyết che phủ trên cửa nên càng không thấy đâu cả.
Xe sáu ngựa thanh phượng nhật văn của Kiều Nhị lang vẫn chưa tới, mũ đầu hổ Kiều Thực đội phủ đầy tuyết. Hít một hơi thở một hơi, đầy hơi mờ. Nàng cứ lặng lẽ đứng chờ ở đó, bỗng dưng sực nhớ điều gì, lập tức chạy thật nhanh trong tuyết. Nàng chạy về tiểu viện của mình, ôm một cái dù đen lớn ra. Trong trời đầy tuyết, quản gia già nhanh chân đi mở cửa, Kiều Thực chạy nhanh hơn, bước chân in dấu trong tuyết, in sâu và dày, một tiếng kẽo kẹt, tiếng chuông đồng vang trầm thấp, nàng thở hổn hển trong tuyết, giơ cái ô thật cao, ngẩng đầu lên cười, “Ca ca, Nhị ca, tuyết rơi á!”
Sau đó, nụ cười bé nhỏ đó lập tức đông cứng.
Nàng không nhớ tiếp theo nên nói câu gì, lục phẩm nữ quan uy tín nhất trong Đại tứ cung – Thu nương giơ chân đang mặc quần bông dày ra, đá vào lồng ngực bé con. Một mẩu ngửa mình, lăn mấy vòng trong tuyết, gáy đập vào cây mai trăm tuổi trước cửa phủ, cuối cùng mới ngừng lại.
Tuyết trên cây rơi xuống đọng lại trên lông mi Một mẩu.
Tóc Thu nương bôi sáp, sợi nào sợi đó đều theo nếp, cổ rộng, quấn miếng da hoẵng dày, giọng nói nghiêm túc mà cao vút, mắt sáng trưng, nhìn thẳng, “Ai ngán đường điện hạ đó, bà già này phải hộ giá!”
Một mẩu cảm thấy hơi choáng váng, lúc rũ mắt hành lễ thì máu mũi đã chảy thành giọt trên tuyết, lan ra thành đóa hồng.
Phía sau Thu nương là một nữ tử mặc áo lông chồn, dáng dấp lả lướt, không nhìn rõ bộ dáng nhưng bàn tay phải lộ ra trắng nõn, trên cổ tay chỉ đeo một cái vòng huyết ngọc, trông nhẵn nhụi trong suốt, màu rất đẹp.
Thị buông cái áo lông, nhìn lướt qua Một mẩu như đang nhìn thấy hạt bụi hay cái đinh gỉ khiến mình khó chịu, đưa ngón ngà ngọc ngà đỡ Thu nương, dịu dàng hỏi: “Nhị lang bãi triều rồi phải không? Vì sao súc sinh này lại chạy ra đây? Nó nuôi cho vui nhưng không chịu giữ cho tốt, đụng phải bổn cung một hai lần thì cũng không đến nỗi, nhưng mà lâu dài có thể nhận ra bản tính của thứ này. Thứ gàn dở khó thuần như thế, Nhị lang cũng ngán rồi đấy, đánh chết nó đi.”
Kiều Thực hoảng sợ cúi đầu, nhắm chặt mắt lại. Nàng cảm thấy lồng ngực đau nhức, càng không thở được.
“Vâng!” Thu nương vẫn nhìn thẳng không chợp, tuy chỉ là một thay đổi nhỏ khó nhận ra thôi, nhưng rõ ràng khóe môi khẽ nhếch nụ cười, cầm tay nữ tử nói: “Điện hạ, Nhị lang ngày càng lo nghĩ cho Bệ hạ, nương nương ở Thái Âm điện (*chỉ Thái hậu) rất hài lòng.”
Nữ tử cũng cười theo, nhìn cây mai xa xa nói: “Hoa năm nay nở đều quá, rất xứng với con ta, Tố Nhi mang đến điện công tử nhà ngươi đi.”
Nha hoàn đứng ở cuối tên Tố Nhi dạ ran, đi tới cây mai, thương hại nhìn Một mẩu rồi vươn tay cắt cành. Rồi thì đợt hành hình cũng tới, Kiều Thực rên gừ gừ trong cổ họng một chút, sau đó khàn giọng đè xuống, nàng dập đầu sát đất, nhắm mắt thưa: “Con tạ điện hạ ban thưởng.”
Người phụ nữ được gọi là Điện hạ thấy hứng thú, “Ta thưởng mi cái gì? Mi sắp chết rồi, tiểu súc sinh.”
Kẻ hành hình cầm một cái búa sắt, chĩa vào thái dương của đứa bé. Chỉ cần vang nhẹ nhàng một cái thì chắc chắn sẽ văng óc khắp nơi.
Một mẩu ho khục khục, tự dưng thấy cổ họng ngai ngái, ho ra một ngụm máu, lấy áo chùi miệng, dằn vị máu xuống rồi nói: “Điện hạ chịu buông tha cho con dễ dàng như vậy, con mỉm cười dưới cửu tuyền.”
Điện hạ kia sầm mặc, thị thong thả bước vài bước, tay phải kéo mép áo lông chồn để lộ chiếc váy đỏ trên người, nhẹ giọng nói: “Mi có biết mình giống thứ gì không?”
Cây trâm khảm hồng ngọc phất qua phất lại, rũ thành một đường vòng xuống má cô bé, đầu óc Kiều Thực mơ màng, cảm thấy rất đẹp nên muốn giơ tay bé xíu với lấy thì bị cánh tay ngọc ngà của điện hạ kia hung ác bắt được, móng dài đâm vào phần thịt giữa các ngón tay, Kiều Thực đau nhói, lắc đầu.
Ánh mắt thị đột nhiên lạnh như băng, dịu dàng nói: “Trước đây mi thường ăn kiến, vì đói bụng nên thấy kiến là bỏ vào bụng. Giết tụi nó không cần lương tâm, không lo tới hậu quả, thậm chí sau khi nếm thử chỉ thấy ghê tởm thôi, cũng như ta nhìn mi vậy.”
Chuyện ghê tởm nhất mà đơn giản nhất trên đời là ăn một con kiến, Kiều Thực suy nghĩ, hiểu ý thị, lí nhí nói: “Chua, nhưng cũng không khó ăn lắm.”
Thị vươn tay trong tay áo ra, chỉ lên trời, lạnh lùng trào phúng hỏi: “Mi có biết vì sao nó cao như vậy không?”
Bé con thật thà trả lời: “Người và súc sinh thì có đường để đi, nhưng mặt đất luôn dơ bẩn chật chội, chim cũng muốn có đường, nên mới có trời.”
Nàng từng tốn hết một ngày để suy nghĩ về vấn đề này, nên mới nhanh chóng thốt ra trả lời.
Thị nở nụ cười, dùng ngón tay nâng cằm cô bé, đôi mắt mơ màng nhìn thẳng vào cái búa lạnh lẽo. Thị nói: “Trời cao coi thường dòng máu ti tiện của mi, nên mới muốn nhìn mi không thể tồn tại trên đời thế nào, chết thê thảm như thế nào!”
Tiện đà đôi môi đỏ phun ra hai chữ: “Hành hình!”
Trán cô bé vẫn còn vết máu, nhìn cái búa đang giáng xuống thật mạnh, trong tay vẫn còn nắm chặt cán dù.
Nhưng đợi rất lâu mà búa không giáng xuống, lại có máu chảy như suối xuống mi gian và má nàng.
Một giọt, hai giọt phun trào, trong mắt một màu đỏ au. Không gian lặng im, hồi lâu, gã hành hình đổ sập như một tảng đá lớn, nỗi sợ hãi ập tới từng lỗ chân lông của mỗi người.
Tiếng chuông nội thành xưa cũ vang lên, cánh cửa cao lớn lại mở ra. Kiều Thực đã nghe thấy tiếng chuông thân thuộc ấy, chiếc xe thanh phượng sáu ngựa kéo từ từ chạy tới.
Bên ngoài xe ngựa có chàng thiếu niên đang giương cung, tóc đen môi mỏng, tay áo rộng như con diều sắp tung bay, phần phật trong gió.
Chàng khẽ mím môi cười, quả một thiếu niên đẹp xuất trần, “Mẫu thân muốn giết con kiến của mẫu thân thì bản quân cũng mặc, nhưng nếu động vào của con, con sẽ không nương tay đâu.”
Cây tên trúc găm trên trán của gã hành hình, máu chảy không ngừng, đồng tử trợn tròn, chết không nhắm mắt.
Một mẩu sửng sờ nhìn chàng thiếu niên, không giống với vẻ thấy chết không sờn ban nãy, nỗi sợ ập tới như sóng, quần bông lập tức ướt đẫm, trong thời tiết lạnh như băng, mùi nước tiểu khai ngấy và cảm giác nóng hổi g*** h** ch*n rất rõ ràng.
***
Nàng đã khóc trong chăn suốt hai canh giờ, cảm giác cực kì xấu hổ, dù thế nào cũng không chịu đi ra.
Bên ngoài chăn yên tĩnh đến đáng sợ, nàng biết, sau khi làm chuyện xấu hổ như ,vậy, nhị ca có tính sạch sẽ nếu còn để ý đến nàng thì mới đúng là quỷ.
Tiếng bước chân của bọn nha hoàn bên ngoài cũng lặng thinh, không biết bao lâu, mắt Một mẩu sưng húp, buồn bã mở một góc chăn ra.
Đây là khuê các của nàng, từng ngọn cây cọng cỏ, cái chai cái lọ đều do nhị ca mua cho, không có vẻ tục khí nhân gian, chẳng hề hợp với đứa tục nhân như nàng.
Thiếu niên ngồi trước cửa sổ, cầm theo quyển sách, bóng in trên nền tuyết trắng, trông như khắc từ ngọc.
“Ca ca?” Một mẩu nức nở, gọi.
“Sao?” Thiếu niên không ngẩng đầu, tay chống má, vẫn đang nghiêm túc đọc sách.
Một mẩu chỉ ra ngoài cửa sổ, hai dòng nước mắt rơi xuống cùng nước mũi, “Ca ca, tuyết rơi rồi!”
“Em nghĩ ta mù?” Thiếu niên thu hồi nụ cười mỉm như thường lệ, lạnh lùng hỏi.
Một mẩu khóc không thành tiếng, “Ca ca, em biết cả đời này ca ca sẽ không muốn quan tâm em nữa, lại thêm xảy ra chuyện mất mặt vậy, em cũng tự thấy không sống nổi nữa rồi, hôm nay có nhiều người nhìn như thế, sau này con cháu em cũng biết chuyện đái dầm đó! Thôi em đi, ca ca sống tốt, sau này đừng quên đốt cho em mấy tờ giấy!”
Nét mặt chàng từ đầu đến giờ vẫn tỏ ra không vui, nay không nhịn được mà bật cười, hàm răng trắng lông mày thanh tú, đẹp cực kì.
Một mẩu hít mũi, ngây ngốc nhìn nhị ca, thiếu niên kéo nàng từ trong chăn vào lòng mình, nhíu mày hỏi: “Hoành thánh ngoài thành ngon vậy thật à?”
Một mẩu cảm thấy tủi thân lắm, khóc òa ra, lắc đầu như trống bỏi.
Thiếu niên vén tóc mái nàng, nhìn vết máu còn đọng lại, khẽ giật mình, một lúc sau, bàn tay thon dài ấm áp mới đặt lên vầng trán nho nhỏ, khẽ cười mỉm nói: “Em bướng bỉnh như vậy, đừng vì không ăn được tô hoành thánh đó mà buồn. Nhớ lão Đàm ở thành Đông làm tô hoành thánh ăn được lắm, đợi khi nào em khỏe lên thì ta sẽ cho người mang về nhà nếm thử.”
Một mẩu cứ khóc: “Em nghe nói ngoài thành có người diễn tạp kỹ tung một lần tám, mười quả quýt trong tay mà không rơi, cô nương ngoài thành vặn dây thừng tạo hình thành cả trăm loại! Ca ca không biết làm, lấy gì dỗ ta? Ai lại chui lỗ chó vì tô hoành thánh chứ, tại thời vận không đủ nên lúc em ra khỏi cửa thì đèn lồng đã tắt rồi, đường tối om, chỉ có thể ăn hoành thánh thôi.”
Nàng vẫn luôn sợ Kiều Nhị, nhưng cũng có khi Kiều Nhị lại tỏ ra dễ tính với nàng, cái sự ngây ngô không biết trời cao đất dày này đúng là khiến người ta vừa bực mình vừa buồn cười.
Kiều Nhị lang vừa đưa mắt nhìn qua, cô nhóc im bặt.
Bên cạnh tay chàng là một mâm quýt thơm ngào ngạt, thứ quả được tiến cống từ nam, ngọt cực kì, thiếu niên cầm hai quả lên, thử tung trong khuê phòng ấm áp, thử vài lần, sau đó lại lấy thêm vài quả nữa, mười ngón tay thon dài như có sinh mệnh, quả quýt màu cam như những cái lồng đèn nho nhỏ, tung càng lúc càng cao càng lúc càng nhanh, đến khi chàng thiếu niên thu tay về, một đống quýt ngoan ngoãn trở về lòng bàn tay chàng, cô nhóc con nhìn đến ngây người.
Chàng khẽ hắng giọng, hỏi: “Em nói giống thế này à?”
Cô bé ngây ngốc gật gật đầu.
***
Không biết lại qua bao lâu, tuyết lại rơi dày hơn. Trước cảnh tượng hùng vĩ đó, đương thời có người từng làm thơ ngợi rằng ‘Thổi một hành lang đầy hoa đỏ, quay đầu tuyết phủ trắng nửa thành’ để mô tả tình hình tuyết rơi lúc đó. Trước đó mấy ngày Phù Tô đã đọc bài thơ này trong sách, nhưng khi thấy vẫn ngẩn ngơ, khung cảnh hùng vĩ ấy không lừa người. Nhất thời, chàng hồ đồ, không phân biệt tuồng này là thật hay giả.
Chàng ở trong mộng, không cảm thấy rét gì, nhưng nhìn đám hầu nam hầu gái đều mang bao tay, ôm ấm lô, co rúm đi tới đi lui khác với ngày thường thì có hiểu đang lạnh thế nào. Lại nói tụi hầu nam hầu gái này thì chàng lại nghĩ tới một việc, đó là thấy câu chuyện này không hợp lý chút nào. Trong phủ Thái úy mà lại có tòa điện, không chỉ một mà còn những hai tòa, trước nay chưa thấy, không thể tưởng tượng nổi. Hầu nam hầu gái thì ai cũng có, nhưng đám người đi theo Kiều nhị lang quân thì lại có vẻ như cung nữ thái giám trong cung, khiến người ta nghĩ mãi không thông.
Trong gió rét, giữa hai tòa cung điện sừng sững giữa tuyết bay dày đặc, có một bóng người mặc áo đỏ mũ trắng, tay ôm đàn từ từ đi tới. Người đó là Quy thị, nàng ta và Kiều Thực là chị em họ ngoại, rất thân thiết. Lúc này vẫn chưa tới cảnh hai chị em vì một người đàn ông mà một mất một còn thì thường cùng chơi cùng luyện đàn, lần này chắc là vì Quy thị đang rảnh rỗi nên đến tìm Kiều Thực chơi. Quan hệ giữa nàng và Kiều nhị lang hơi mờ ám, khiến người ta phải suy nghĩ. Nhưng mà trong sách không nói Kiều nhị tương tư nàng ta, mà ngược lại là nàng ta không thể dứt bỏ tình cảm dành cho Kiều nhị, nhưng vì mặt mũi mà không dám gần gũi.
Quy thị thanh tao, da dẻ như ngọc, thần thái tựa hoa, khác một trời một vực với Một mẩu. Tụi nha hoàn nhận đàn, nàng ta định cởi áo choàng đính tuyết thì nhìn thấy mấy dấu chân sắp bị tuyết lấp đi ở bên ngoài phòng, hỏi: “Nhị lang đang ở trong à?”
Tụi nha hoàn gật đầu, có đứa lanh lợi giải thích: “Nhị lang bảo không cần các chị ấy hầu hạ nên bọn họ đều qua chờ ở phòng bên, biểu cô nương tới vừa khéo, vậy ta đi thông báo một tiếng.”
Quy thị lắc đầu, bảo: “Huynh muội bọn họ đang nói chuyện với nhau, người ngoài như ta chen vào làm gì! Chỉ là đàn này vừa được chỉnh âm xong, là lúc chơi hay nhất, các ngươi cứ giao cho Tam nương là được.”
Nha hoàn vừa trả lời cũng cười nói: “Chúng ta cũng hiếm khi nào thấy Nhị lang bình dị gần gũi như vậy, nhưng dù gì cũng không hợp với khí khái thần tiên của ngài ấy, cô nương đi khuyên đi, trước nay Nhị lang vẫn chịu nghe cô mà.”
Quy thị bật cười, đưa bàn tay trắng nõn nà vuốt chuỗi ngọc của cây trâm mới, đôi môi đỏ hàm răng trắng đều, khi cười lên trông cực kì thanh tú xinh đẹp.
Nàng ta đi lên lầu, vừa đi vừa cười nói với nha hoàn ở sau, “Nhị lang có bao giờ hoang đường đâu, chỉ là hai huynh muội họ đang nói chuyện thì cũng như ông nói gà bà nói vịt, Nhị lang nóng tính, biết cô bé kia thích tự do, nhưng lại muốn kiềm kẹp canh chừng, không chịu thả một bước, lúc nghe lời thì như nuôi ngọc trên tay, làm tổ trên đầu, không biết phải thương sao mới được! Lúc không nghe lời thì lúc đánh lúc phạt, cái gì cũng có, người xem cũng mệt. Ca ca của những tiểu thư mà ta kết giao mấy năm qua đều tập trung vào tiền đồ, trước nay không quan tâm đến bọn họ. Thấy Nhị lang như vậy, bọn họ nói thà như các ca ca của mình, không quan tâm thì không quan tâm, dù sao cũng chỉ là ăn cơm chung ở nhà mẹ đẻ như nhau, nhà chồng mới là cả đời! Nhưng Nhị lang lại không hiểu…” Chưa kịp nói hết hai chữ ‘đạo lý đó’; cô nương xinh đẹp đang vừa bước lên gác vừa trò chuyện với nha hoàn phía sau quay người, đưa mắt nhìn về phía cửa sổ trên lầu bất chợt sửng sốt, không thốt nổi nên lời.
Trong màn sương dày dặc, lò sưởi sưởi ấm cả căn phòng. Trước cửa sổ có hai bóng người, một trắng một vàng. Áo trắng là một chàng công tử, áo vàng là một đứa bé con. Công tử ôm bé con, đưa lưng về phía cửa sổ, tóc xõa buộc hờ ở thắt lưng, dùng một viên ngọc để giữ đoạn tóc, đúng là xinh đẹp trời sinh. Còn gương mặt của cô bé kia không rõ lắm, dưới tóc mái, nụ cười xinh đẹp đến mức tan chảy người khác. Cô bé ngồi trong lòng cậu thiếu niên, nhìn đôi bàn tay trắng gầy đang tạo hình một sợi dây thừng màu đỏ. Sợi dây thừng đó còn đỏ hơn cái áo choàng nàng ta đang mặc, một ngọn lửa, một nắm sao cũng không sáng rực và ấm áp bằng nó.
Cô bé áo vàng nghiêng đầu nhìn, đôi mắt ngây thơ dồn hết sự chú ý vào sợi dây thừng, chắc là đang nghĩ rằng ca ca đã tạo hình thứ một trăm rồi, ca ca lợi hại như vậy đó, lợi hại hơn các tiểu cô nương ngoài thành gấp ngàn ần, thế là nhõng nhẽo ôm choàng cổ ca ca, nói ca ca em là ca ca giỏi nhất tốt nhất trên đời, trước đây có người muốn lấy một vạn đồng tiền để đổi với em, em nói để em suy nghĩ đã, nhưng bây giờ thì có mười vạn, trăm vạn em cũng không đổi đâu. Trên đời này có nhiều thứ tốt lắm, nhưng đều không phải của em, em chỉ có một mình ca ca thôi, bọn họ đừng hòng có.
Ca ca của nàng vẫn cứng người giữ dây, trong mắt thiếu niên thì trên đời này chẳng có gì tầm thường hơn thứ đồ chơi của một tiểu cô nương, chàng xanh mặt nhìn sợi dây thừng, qua những hình dạng khác biệt tạo ra bằng sợi dây đó, cũng có một cô nương xinh đẹp ngoài cửa sổ đang ngắm nhìn chàng.
Một lúc sau, chàng thiếu niên kéo cô bé đang ôm cổ mình ngồi yên trong lòng, lạnh nhạt nói: “Cái con bé xạo sự đáng ghét này. Sau này sẽ sống với phu quân, còn đâu mà nhớ tới ca ca nữa.”
Bé con bĩu môi, “Phu quân có ăn được đâu! Ca ca đánh em thì em chịu, mắng em thì em nghe, nhưng phạt thế này là sao? Nếu gả em cho người khác thì sau này sẽ khó gặp ca ca lắm, lúc ca ca phiền não trong lòng, người bị lạnh thì biết tìm ai mà trút chứ?”
Thiếu niên lạnh lùng: “Em hay khóc lóc om xòm, được đà lấn tới! Ta nuôi em vì cái gì, em biết cũng được, không biết cũng được, nhưng làm gì có chuyện uy h**p được bản quân! Mẫn Ngôn đối đãi với em ra sao thì phải dựa vào thủ đoạn của em, dù mang thần phật làm đồ cưới mà không có tu dưỡng thì cũng không được tạo hóa như thường!”
Cô bé không nói lời nào, răng đánh cầm cập, hoảng sợ dụi đầu vào thiếu niên, dùng chút hơi ấm của mình truyền cho chàng, ch** n**c mắt, oán trách nói: “Em vốn không có tiền đồ, sống khốn khổ thế rồi, ca ca việc gì phải vạch trần nữa?”
Gương mặt thiếu niên lạnh lùng đến phát rét, kinh ngạc nhìn đứa bé trong vòng tay, nói rõ từng chữ: “Nếu em cảm thấy sống mệt mỏi khốn khổ vậy thì không ai sống tốt hơn đâu. Thế thì tội gì làm người, con người khốn khổ vậy đó, có bản lĩnh thì kiếp sau em đầu thai làm cục đá đi, vậy mới tốt.”
Phù Tô nở nụ cười, đứng lặng lẽ trong tuyết nhìn ba người bọn họ. Vẻ mặt của Quy thị cũng rất lạ kì, vừa như rất yêu, cũng vừa rất hận, vừa như bất ngờ, cũng như vốn đã có dự cảm từ lâu. Khuôn mặt lập tức lúc trắng lúc xanh, cuối cùng ngẩn ra.
Tim chàng khẽ động, chàng giãy dụa thức dậy, mở to mắt, quả nhiên vẫn đang ở trong căn phòng đá.
Đây là giấc mộng thứ hai.
***
Đạo sĩ nhìn sự thay đổi của nhật nguyệt trên trời, theo dõi hơi thở từ từ yếu dần trên giường bệnh, có phần tức giận, tay áo rộng phất ra gió, cảnh tỉnh linh hồn vẫn mải cúi đầu trầm mặt. Lão nói: “Điện hạ, trời lạnh đất rét, đã tới giới hạn, chớ để hối hận cũng muộn.”
Một nhúm linh hồn đang trôi nổi lửng lờ giữa đất trời đột nhiên nở nụ cười, hẳn ngẩng đầu lộ khuôn mặt xinh đẹp cực kì, buồn bã hỏi: “Đạo sĩ, vì sao nàng vẫn chưa chết?”
Đạo sĩ dùng phất trần chỉ vào trái tim y, một vòng sáng màu vàng, lạnh lùng nói: “Nó không chết, hoàng y (*áo vàng) nữ nhân này sao chết được.”
Thiếu niên nhắm mắt, đưa tay sờ lên ngực, khuôn mặt trở nên vặn vẹo, muốn móc ra cái gì đó. Đạo sĩ lảo đảo lùi về sau mấy bước, có phần sửng sốt và không dám tin.
Hắn móc tim mình ra.
Hồn không bám xác, tim cũng đã mất.
Hắn nói, thật ra chuyện này cũng không khó lắm.
Tử kim tán nhân cảm thấy thật hoang đường, hỏi hắn: “Con người làm gì cũng có nguyên nhân. Ta cứu ngươi vì muốn cứu thiên tử nhân gia, tính bằng ba trăm công đức; Sơn quân trên trời kia nhìn ngươi không tốt lành gì vì muốn trừ khử ngươi để giúp đỡ phu quân hắn; Chất Thủy trốn trong tranh hòng tìm cơ hội hãm hại, tiêu tan công đức của ngươi vì tính ngươi điên cuồng đã hại tính mạng của nàng; Còn ngươi thì sao, rành rành thần trí vẫn minh mẫn, thế mà cam nguyện mê đắm một bức họa, từ đầu đến cuối, đã hơn ba trăm có lẻ, vẫn không chịu buông tha kiếp trước?”
Linh hồn thế tử Thành Giác cầm trái tim đỏ tươi, bỗng nở nụ cười, “Ta không cần nó. Chẳng phải kẻ thù đã hại ta ra thế này mà chính là nó. Thế này sẽ càng khỏe hơn.”
Trái tim này khiến hắn thảm hại như vậy, chính trái tim này khiến hắn đau đớn đến thế, chính trái tim này đã khiến hắn chết đi như thế.
Tử kim tán nhân là từ súc sinh biến thành, à không, hắn vốn là một con sói con, hấp thụ linh khí nhật nguyệt, bắt đầu vào đạo môn, mấy ngàn năm qua, chưa từng gặp kẻ nào kì quái như vậy.
Thiếu niên móc một cuộn tranh lụa từ trong tay áo của thân xác gần như không còn chút sinh khí.
Tranh vẽ một cô nương, hắn đã nhìn trăm ngàn lần rồi, chưa một lần dụi mắt. Dung mạo nàng xinh đẹp như thế, từ khi hắn bước vào hồng hoang nhân thế, từ khi bắt đầu có trí nhớ, chưa từng gặp ai xinh đẹp đến vậy. Nàng vỗ về trái tim hắn, mắt mày môi thắm như vì muốn hợp ý hắn mà thành.
Kiếp trước hắn chỉ từng nhìn thấy nàng một lần. Đó là ngày hắn thành thân.
Hắn đứng bờ trái cầu anh vũ, cài trâm san hô; nàng đứng bờ phải, mũ phượng khăn quàng (*).
(*) Nguyên gốc: Phượng quan hà bí – chỉ trang phục của người phụ nữ khi xuất giá. Cụ thể xem ở đây.
Hắn nhìn nàng, trong đêm tháng tám lộng gió, đi về phía mình.
Hắn đưa tay ra.
Sau đó… sau đó, đã xảy ra chuyện gì? Hắn không nhớ đã xảy ra chuyện gì. Hắn không nhìn thấy khuôn mặt dưới mũ phượng khăn choàng đâu.
Hắn nhớ rõ từng khoảnh khắc của kiếp trước, kể cả từng khoảnh khắc của kẻ thù mưu đồ hại chết mình, nhưng chỉ riêng khoảnh khắc đó thôi. Hắn biết nàng cuối cùng sẽ hại chết hắn, thế nên kiếp này hắn sẽ tới trả thù.
Khoảnh khắc hắn nhìn thấy hoàng y nữ tữ trong bức họa đó thì lập tức biết, người trong tranh chính là nàng dưới tấm khăn che.
Là… một yêu nữ.
Tử kim tán nhân nhìn trời một chút, nói: “Còn nửa canh giờ nữa, trường mệnh hương sắp cháy hết rồi. Đến cả phượng khí Thái hậu dày nồng như thế cũng không chống lại số mệnh.”
Khi quỷ nữ Chất Thủy hóa thành nữ tử trong bức tranh cùng hắn ân ái đã hút hơn nửa dương khí của hắn, thừa dịp hắn đang hôn mê dắt hồn phách hắn đi, dụ dỗ quay ngược lại kiếp trước g**t ch*t từng kẻ thù của mình, tổn hại ba ngàn công đức, ba hồn sáu phách nay chỉ còn duy nhất một hồn, không thể xuống địa phủ, chẳng thể lên tiên thiên, không chìm không nổi lại vào vườn trời, vô tình để Tử kim tán nhân gặp phải, xử trí Chất Thủy thì mới cứu vẫn mảnh hồn cuối cùng. Lại thêm có phượng khí Thái hậu trấn áp nên tìm lại được tất cả hồn phách còn lại, thế nhưng đương lúc Tử kim tán nhân cảm thấy ba trăm công đức đang nằm trong tầm tay thì tên nhóc con này lại gây chuyện.
Mục vương thế tử Thành Giác chơi ở trần gian chán rồi, không muốn gì cả, chỉ muốn ngắm chân thân kiếp trước thiếu nữ trong tranh.
Thật cố chấp.
Tử kim tán nhân mắng thầm thằng khó chiều này trong bụng, nhưng trên mặt thì không tiện mích lòng, bấm đốt tay tính nhân quả kiếp trước của hắn và kiếp trước của tướng công Sơn quân kia, quả cũng có quan hệ mật thiết với nhau, thế nên mới biến kiếp trước thành một câu chuyện nửa thật nửa giả để dụ Phù Tô mắc mưu, lợi dụng tinh khí còn lại của chàng để đưa Thành Giác đang còn thoi thóp quay lại xem kiếp trước.
Nào ngờ thằng nhóc khó chiều này được voi đòi tiên, còn muốn giết kẻ thù cuối cùng của kiếp trước, mà Phù Tô như vô tình kích động huyền cơ, có cảm ứng với những chuyện đã xảy ra ở kiếp trước, cho dù không xem sách cũng có thể phối hợp với những chuyện kiếp trước trong mộng.
Nhân gian càng lúc càng đục ngầu, nếu để nhị vị thiên tôn biết do hắn gây ra, đừng nói là thành tiên, quăng cho sợi dây xích chó là nhẹ.
“Lão đạo sĩ gấp cái gì?” Hắn cầm trái tim, đưa lên lưỡi l**m. Nếm nhiều lần, quả rất đắng.
***
Phù Tô không đoán được mình còn có giấc mộng thứ ba, nhưng khi xảy ra thì như sông vỡ đê, vẫn không thể vãn hồi được kết cục.
Mẫn Ngôn vẫn nhất định không phải Quy thị thì không cưới, Kiều Nhị lang vẫn xuất chinh, Kiều Thực vẫn bị vứt bỏ.
Trong giấc mộng cuối cùng của chàng, không phải là một câu chuyện có kết cục hạnh phúc. Lần này chàng lại là Mẫn Ngôn, nhưng lại chỉ có thể kẹt trong thân xác của Mẫn Ngôn, không thể nhúc nhích. Là một Mẫn Ngôn còn sống sờ sờ.
Phù Tô kinh ngạc nhìn xung quanh, đây là thành Hàm Ninh, cố đô cũ của Đại Chiêu khi còn chưa dời đô, ngày nay thành Mục vương cung.
Lão già ngồi trên ngai vàng ở Thái Cực điện đã lâu lắm rồi, tất cả giác quan cũng trở nên chậm chạp. Hương thơm thổi ra trong miệng thụy thú cứ vấn vít, Mẫn Ngôn thở một hơi thật sau, Phù Tô có thể cảm thấy sự mệt mỏi toát ra từ người đàn ông già cỗi đó.
Đúng là vẫn để cho hắn lên ngôi, kết cục đã định.
Kiều nhị, Kiều Thực, cậu thiếu niên và đứa bé kia, dù phong hoa tuyết đại hay ngây thơ non nớt thế nào thì cũng chẳng còn tung tích gì trong câu chuyện này nữa.
Phù Tô luôn muốn được biết kết cục, nhưng đến khi biết rồi thì trong lòng lại cười khổ. Có ai ngốc như chàng không, vì người trong tích cũ mà hao phí tinh thần.
Lão nhân nhìn lư hương đã lâu lắm rồi. Vào một ngày tháng bảy tháng tám thế này, cây cột bạch ngọc cũng như muốn rịn mồ hôi. Hắn ta trông như đã khô héo, cả người lạnh như băng, khác biệt hoàn toàn với cái nóng bức hiện tại, cũng vì ràng buộc những ngày tháng ngắn ngủi trên đời.
“Tứ Phúc đâu?” Hắn run rẩy hỏi, x*c th*t già nua kia đã gần như không chống đỡ nổi cái áo bào màu đen cao quý.
Đại Chiêu trọng Thủy đức (*), lấy màu đen là màu của đế vương.
(*) Theo thuyết Ngũ hành, màu đen là tượng trưng cho nước.
Tứ Phúc là một lão thái giám có lông mày dài rũ xuống mặt. Chân tay vẫn còn tốt, chạy bước nhỏ tới cạnh đế vương, đè xuống lo lắng suốt mấy canh giờ qua, pha trò nói: “Đây, đây, nô tài đây ạ.”
Hắn phản ứng chậm chạp, từ từ đưa con mắt đục ngầu nhìn qua: “Bây giờ đang là lúc nào?”
“Bẩm Bệ hạ, giờ mùi đồng hồ ở cổng Võ Đức vừa qua nửa khắc đồng hồ. Chỉ là năm nay tính theo mùa hạ thì vẫn chưa tới giờ nghỉ trưa của ngài. Ngự thiện có làm mấy món canh giải nhiệt, nô tài thử qua rồi, không có bỏ thứ mặn, vị bạc hà tía tô nên coi như cũng thanh mát.”
“Không, quả nhân hỏi hôm nay là ngày mấy tháng tám?” Hắn huơ tay cắt ngang lời lão thái giám, ngữ điệu chợt nhanh hơn, ngồi thẳng hơn một chút.
Lồng ngực lão thái giám Tứ Phúc trống đập liên hồi, mấy năm gần đây Thánh nhân rất sủng ái Khương phu nhân, chỉ muốn nhào vào lòng người đẹp, không hề nhắc tới ngày này nên ông ta tưởng Thánh nhân đã bỏ qua rồi, tính ra lũ thuộc hạ và Tạ hầu gia cũng có thể yên ổn được mấy năm. Mỗi năm cứ đến ngày này hắn lại tới nhà thần tử dò xét, dò xong còn làm mặt lạnh khiển trách Hầu gia một trận, bốn mươi năm trời không hề bỏ sót, chẳng hiểu sao Tạ hầu có thể chịu được đến vậy.
Lão được nghe kể từ một ông cụ hầu hạ ở nhà Mẫn Ngôn từ đó đến nay nên mới biết chuyện này, nhưng người mới năm nào cũng có, người cũ năm nào cũng thay, cũng vì số người bị hoạch tội nhiều vô số kể. Dù long uy vảy ngược của Thánh nhân khó dò nhưng cũng không phải người không nói lí, chỉ có điều cứ tới ngày này hằng năm là thiên tử lại nổi giận, xác người chồng chất.
Tứ Phúc căng thẳng đáp: “Thưa Bệ hạ, hôm nay là… ngày mùng mười.”
Cả điện Thái cực chìm vào im lặng, không biết lão hoàng đế đang nghĩ gì, lông mày Tứ Phúc nhíu càng chặt, mặt mày rịn hết cả mồ hôi.
Hồi lâu sau, thiên tử cao cao tại thượng lại nở nụ cười, chầm chậm nói: “Thì ra tới ngày Hoàng hậu xuất giá à.”
Hoàng hậu… Hoàng hậu nào?
Vì sao phản ứng của năm nay khác với những năm trước?
Tứ Phúc không biết tâm tư của thiên tử, chỉ biết nói theo, “Dạ phải, ngày này bốn mươi năm trước là ngày nương nương được gả cho Bệ hạ, lúc ấy Bệ hạ vẫn còn là một công tử.”
Vẻ mặt thiên tử như đang hồi tưởng lại, khẽ cười, “Tứ Phúc, ngươi có từng gặp Hoàng hậu lúc mới gả không? Có nhớ được nàng lúc ấy thế nào không?”
Rốt cuộc… là Hoàng hậu nào…
Tứ Phúc càng đổ mồ hôi, ngày hôm đó thật ra có hai Hoàng hậu được gả tới. Một người là bảo bối trong tay, là báu vật trong lòng, một người lại là… cái đinh trong mắt cái gai trong thịt của ngài.
Thế nhưng, sau ngày hôm đó, mọi chuyện đều thay đổi.
Là ai? Rốt cuộc thiên tử muốn nói tới ai?
Tứ Phúc suy đoán thánh ý, dù sao cũng còn thương lão chủ nhân ngày càng hồ đồ, chỉ gợi lại chút hồi ức, “Nô tài… có được gặp. Nương nương à, hôm đó mặc giá y mềm mại như nước, ấm áp như lửa, các tú nương phải đi hái Ngọc đường tuyết vừa chớm nở tháng ba để làm màu hoa, chọn ngày lành tháng tốt thêu hình phượng hoàng bay qua đỉnh núi, dù chỉ một phiến lá, một con mắt nhưng tám mươi tám tú nương cũng phải thêu mất ba ngày mới xong. Dân chúng cả thành đều nói, dù cách một kiệu hoa cũng có thể cảm nhân thanh quý ngút trời. Lúc ngài và Hoàng hậu bái kiến Tiên đế, nô tài có cả gan nhìn trộm một lần, lúc đó vẫn còn là con nít nhưng cũng biết, đàn ông đời này lỡ nhìn thấy một cô nương như vậy dù chỉ một lần thì cũng sẽ không thể lọt mắt nữ tử nào khác. Ngài nói xem nương nương có đẹp không cơ chứ. Nô tài cảm thấy xinh đẹp cực kì, không ai sánh bằng.”
Lão nhân khoát tay một cái, có phần rối loạn, nói: “Không đúng không đúng, quả nhân nhớ xiêm y Hoàng hậu không có gì cả, chỉ là một bộ đồ đỏ cực kì sạch sẽ bình thường mà thôi. Nàng vốn rất xinh đẹp, xinh đẹp như bức tranh trong khuê phòng nàng vậy.”
Tứ Phúc cười khổ, ông ta đã đoán sai. Ông ta nghĩ Bệ hạ đã quên, ông ta tưởng Bệ hạ nghĩ tới Tiên Hoàng hậu đã sinh hạ năm nam một nữ cho mình, Tiên Hoàng hậu chuyên sủng một đời vẫn là mối tình độc nhất vô nhị, ông ta tưởng rằng vị Hoàng hậu kia chỉ là một cái bóng mờ nhạt không được kể đến.
Nào ngờ, có người lại nhét cái bóng ấy vào lòng cả đời.
“Ngươi nói xem, Quả nhân lúc đó có đẹp không? Lúc Hoàng hậu nhìn thấy Quả nhân lần đầu tiên có vui không?” Lão nhân miệng hỏi Tứ Phúc, nhưng mắt đã đưa tới đâu, không biết đang tụ lại chỗ nào.
Phù Tô cảm thấy cả người Mẫn Ngôn đang run rẩy.
“Lúc Bệ hạ quan lễ, chư hầu đều nói Mẫn công tử là người mà ba trăm năm trước lẫn ba trăm năm sau đều sẽ không thể tìm được một công tử đẹp như vậy được nữa.”
Đột nhiên Mẫn Ngôn nở nụ cười, “So với Kiều nhị thì sao?”
Tứ phúc trầm mặc.
Rãnh cười của Mẫn Ngôn càng sâu: “Ngươi càng già càng thành thật, lão láu cá. Nghe những nô tì hầu hạ bên cạnh nói, lúc ta quan lễ, Hoàng hậu bảo rằng bọn họ khen ta đẹp cũng vì chưa được gặp ca ca nàng lúc nhược quán. (*hai mươi tuổi)”
Lão nghiến răng nghiến lợi, hả hê mà tiếp: “Nhưng đáng tiếc, Kiều Nhị lang chưa tới nhược quán, đã không còn rồi.”
Kiều Nhị lang vẫn chết.
Phù Tô cười khổ. Kiều Nhị lang chết rồi, sợ rằng số phận của A Thực sẽ thay đổi hoàn toàn, không bằng súc sinh.
Trong truyện A Thực bị vứt bỏ, nhưng đến đây thì vì sao Mẫn Ngôn lại gọi A Thực là Hoàng hậu? Hư hư ảo ảo, Phù Tô đã không còn biết phải phán đoán những thứ hoang đường này thế nào nữa.
Mẫn Ngôn lại rơi vào trầm tư, hồi lâu không nói, bên ngoài điện Thái cực có một tiểu thái giám rón rén gõ cửa. Tứ Phúc khẽ thở một hơi, đi ra xem thế nào thì biết Khương phu nhân thấy trời nóng nên mang món chưng tới chỗ Thiên tử làm nũng. Tiểu nữ tử này ngày càng được sủng ái nên không biết chừng mực. Từ khi Tiên Hoàng hậu Quy thị qua đời, hậu cung chưa từng được bình an, hôm nay ngươi lên mặt, ngày mai ả đắc sủng, ai cũng mày ngài mắt ngọc, thon thả đẫy đà (*) đều có đủ. Khẩu vị Thiên tử vẫn rất tốt, chỉ là hôm nay có tiêu hóa được không thì Tứ Phúc ở bên cạnh Mẫn Ngôn bốn mươi năm cũng không dám xác định.
(*) Nguyên gốc: Hoàn phì Yến sấu – ý chỉ Dương quý phi béo, Triệu Phi Yến gầy.
“Bệ hạ, Khương phu nhân cầu kiến.” Tứ phúc xoay người thưa.
Lão nhân lấy lại tinh thần, có vẻ không vui, chỉ nói: “Để nàng ta vào.”
Tứ Phúc cảm thấy hơi bất ngờ. Bốn mươi năm qua hễ tới ngày này là Bệ hạ sẽ hơi kì lạ, mang cố chấp ngang trời tới nhà cũ của Nguyên Hoàng hậu, cũng chính là nhà Tạ hầu mà chém từng cây hải đường trong vườn.
Là yêu hay là hận? Là thứ tình cảm gì? Tứ Phúc luôn cảm thấy có gì không đúng, có lẽ đã già rồi nên mấy ngày gần đây thường đưa mắt nhìn trăng tròn, không nhịn được mà thở dài rơi lệ.
Một người đàn ông như vậy, một người đàn ông mẫn cảm đa nghi, âm ngoan xảo trá như vậy thì sao có thể dành tình cảm cho một cô nương như thế? Một bậc đế vương vậy cơ mà.
Hắn chỉ từng gặp nàng một lần, nhưng điên cả một đời.
Khương phu nhân là một nữ tử cao gầy, khuôn mặt trắng nõn xinh đẹp, bả vai gầy yếu, bước đi thong thả, mặc một chiếc áo trắng xen vàng nhạt, đôi mắt đầy hiếu kì và khát vọng với nhân thế.
Là… một nữ tử mang điềm xấu.
Trong lòng Từ Phúc cảm thấy phản cảm với nàng ta, nhưng cô nương này do tướng gia quá cố Kỳ Hằng dâng lên, Kỳ Hằng là người thanh liêm chánh trực, được Bệ hạ và vạn dân tin cậy, vì thế nên nữ tử này không khiến các chư thần bài xích, một đường lên làm phu nhân như diều gặp gió mà không thấy có Ngự sử nào dâng tấu can gián nữ sắc lầm quốc. Trong khi đến Quy Hoàng hậu năm đó chuyên sủng cũng bị nói ra nói vào.
“Trì nương tới đây.” Ý cười Thiên tử rất rõ, Phù Tô cảm thấy tim hắn đập liên hồi, Mẫn Ngôn giờ phút này đang rất vui vẻ.
“Thiếp nhớ Bệ hạ, liền tới đây.” Hai má thiếu nữ ửng đỏ.
Ánh mắt của thiên tử cũng trở nên dịu dàng. Hắn cẩn thận muốn ôm nữ tử này vào lòng bàn tay, đưa bàn tay gầy gò khô héo ra, nàng đặt bàn tay nhỏ xíu của mình vào lòng bàn tay hắn. Lão nhân kéo nàng tới bên cạnh, dịu dàng hỏi: “Triều đình bận rộn nhiều ngày nay, Trì nương có khỏe không?”
Khương phu nhân gật đầu, hai gò má đỏ ửng, “Vài ngày nay thiếp đi dạo trong vườn hải đường ngắm hoa, ở trong phòng ăn mấy món khác nhau, sau đó cùng các phu nhân và cơ thiếp khác trò chuyện về chuyện dân gian ngày xưa, cảm thấy rất vui vẻ.”
Ý cười thiên tử càng sâu, dịu dàng vuốt mái tóc huyền của thiếu nữ, ánh mắt tràn đầy sinh lực như đám thiếu niên mới có. Hắn nói: “Thế thì tốt, nàng nên như thế, thế là tốt lắm.”
Tứ Phúc nhớ tới Nguyên Hoàng hậu, một nữ tử mặt một thân hồng y giản dị, đường một đầu cầu anh vũ. Nếu nàng được gả cho Bệ hạ, thích Bệ hạ thì chắc tính tình cũng sẽ như Khương Trì nương. Được nuôi ở khuê phòng, không biết về chuyện đời.
Thế nhưng, tất cả đều chỉ là tưởng tượng của Bệ hạ, mà Khương Trì nương chỉ là vô tình trùng hợp với tưởng tượng của họ.
“Bệ hạ, thiếp nghe một chuyện rất kì quái dọa người. Các tỷ tỷ trong cung kể chuyện ma trong vườn hải đường, quỷ kia là một mỹ nhân rất xinh đẹp, chỉ xuất hiện vào ngày mười tháng tám hằng năm. Thiếp sợ lắm.” Khương Trì nương rúc vào lòng thiên tử nỉ non, nũng nịu.
Phù Tô phát hiện cơ thể lão nhân cứng ngắc, hồi sau hắn đẩy tuyệt sắc nữ tử này ra, lạnh lùng trào phúng: “Không có.”
Trì nương bị đẩy vậy thì hơi lảo đảo, từ lúc vào cung đến giờ được thiên kiều vạn sủng, Bệ hạ chưa từng đối xử với thị thế này. Dù sao thị cũng chưa từng thấy thủ đoạn của vị Bệ hà này, chỉ cho rằng hắn là một lão nhân hiền lành, một người chồng dịu dàng thôi, thế nên giận dỗi nói: “Sao Bệ hạ biết?”
Mẫn Ngôn ngạc nhiên nhìn nàng, hồi lâu mới thấp giọng: “Ta đã chờ bốn mươi năm nhưng nàng ấy vẫn chưa đến. Nàng ấy sẽ không tới đâu, nàng yên tâm, thế gian này ở đâu đó, vào năm nào đó, ngày nào đó sẽ có ma quỷ đi ngang, nhưng không phải ngày này mỗi năm ở cung Thái Khâu này đâu. Nàng ấy không tới đâu, phu nhân cứ yên dạ.”
Nàng ấy không tới đâu.
Trái tim già nua yếu đuối của Tứ Phúc cũng buồn bã.
Khương phu nhân mang theo nghi hoặc, một bước quay đầu ba lần, lưu luyến không nỡ rời đi. Mẫn Ngôn lại như một đoạn củi khô, mất đi sức sống cuối cùng, hắn nói: “Đời này quả nhân chưa từng muốn cái gì đó mà không có được.”
Tứ Phúc biết thiên tử đã hoang mang về vấn đề này rất nhiều năm, giọng vừa the thé vừa khàn khàn khuyên nhủ: “Bệ hạ, ngài chưa từng… chưa từng cầu Nguyên Hoàng hậu mà. Ngài chưa bao giờ cầu nàng ấy, nên mới không có được! Người ngài muốn là Hoàng hậu, Hoàng hậu bầu bạn với ngài nhiều năm vậy, sinh cho ngài năm trai một gái, tuy nương nương có phúc được làm bạn với vua trước, nhưng nàng ấy không phải là ân đức trời cao ban thưởng cho Bệ hạ.”
Mẫn Ngôn nở nụ cười, “Ngay cả Tứ Phúc cũng không hiểu thì e rằng trên đời không có ai hiểu lòng Quả nhân rồi. Quả nhân cô độc, tới thế nào thì đi thế đó.”
Tứ Phúc nghe vậy, lòng ngập tràn chua xót. Hắn nói: “Nguyên hậu nương nương tốt thật, nhưng Bệ hà à, nô tài bạo gan hỏi một câu, lúc nàng tốt như vậy, ngài đang ở đâu?”
Lúc nàng tốt như vậy, ngài đang ở đâu?
Trở về nhà cũ Kiều gia, xem khuê phòng trước đây thì có ích lợi gì? Cái gì không quan trọng, cái gì không gây tổn thương, đều có thể bỏ qua hết, chỉ đừng để duyên phận biến thành chấp niệm cả một đời, ai có thể làm gì?
“Quả nhân làm người, biết cuộc đời này sáu mươi năm, một năm ba trăm sáu mươi ngày, một ngày mười hai canh, vui thích chỉ là phù du trong chớp mắt, hạnh phúc chỉ là mấy ngày của một năm. Lúc không thấy nàng, thiên hạ vẫn là thiên hạ, nàng chết rồi, thiên hạ chỉ còn là chuyện vụn vặt. Từ nay về sau, ta chỉ biết chịu đựng để sống hết quãng thời gian còn lại, cho dù là lúc hai mươi hay sáu mươi tuổi đời, thử hỏi nàng có đáng hận không chứ? Quả nhân hi vọng có thể b*p ch*t nàng.” Nụ cười của Mẫn Ngôn cực kì thê lương, cũng mang theo sự thối nát, cảm giác như nỏ mạnh hết đà: “Ta không b*p ch*t nàng được, nàng chết trước mặt ta, nhẹ nhàng trở thành thê tử kết tóc của ta, ta ôm thi thể nàng ngồi ở trên cầu anh vũ ba ngày ba đêm, tóc chúng ta đã quấn vào nhau, nhưng nàng vẫn không chịu mở mắt.”
Tứ Phúc quỳ xuống sàn đá bóng loáng, đập đầu liên tục, nước mắt lưng tròng, “Nô tài có tội, nô tài đáng chết, nô tài có tội, nô tài đáng chết, nô tài biết Bệ hạ khổ, nhưng nô tài lại nghĩ thời gian trôi qua, có cái gì mà không chịu được. Bệ hạ, bốn mươi năm, suốt bốn mươi năm trời, hằng năm ngài thăm Nguyên hậu, có từng thấy được gì? Nàng ấy không quay về, nếu nàng ấy đã chuyển thế đầu thai thì không còn bộ dạng lúc trước nữa, không còn là nàng ấy nữa, ngài phải làm thế nào đây?”
“Quả nhân nhớ ánh mắt của nàng, nhớ từng hơi thở, nhớ thần thái của nàng, nhớ người nàng yêu, nhớ chấp nhất của nàng. Nếu còn có kiếp sau, chỉ cần ta vẫn là ta, nàng sẽ vẫn là nàng.” Phù Tô không biết tim mình đang đau đớn, hay là tim của lão nhân này.
“Nếu nương nương không muốn dính dáng tới Bệ hạ thì sao?”
“Quả nhân đã giết người nàng yêu nhất, đoạt thứ người nàng yêu nhất mong muốn. Tất cả mọi thứ mà nàng muốn, kiếp sau sẽ phải đòi lại từ tay quả nhân.”
Đột nhiên giọng Tứ Phúc the thé, run rẩy nói: “Bệ hạ, nô tài có việc gấp bẩm báo! Trưởng tử của Tạ hầu và Vương phi đã quỳ gối ngoài điện ba canh giờ rồi, Bệ hạ, Tạ hầu gia đã bệnh lắm rồi, có chuyện này đây, ông ta nhận tước Giang Đông thế tập truyền đời, nhưng nay trong phủ không có một thế tử đàng hoàng, nô tài cả gan xin Bệ hạ tích phúc cho Nguyên hậu nương nương.”
Đột nhiên ánh măt Mẫn Ngôn lạnh như sương, hắn hất toàn bộ một chồng thư trúc bị xem nhẹ từ lâu thật cao trên bàn xuống, từng chữ từng chữ xoáy như băng: “Đừng tưởng từ trên xuống dưới thông đồng với Tạ thị rồi thì Quả nhân sẽ để Tạ thị được như ý! Quả nhân cho phép hắn được thế tập truyền đời, nhưng không chấp nhận cho đời sau của hắn được vậy!”
Tạ Quý?
Bỗng nhiên Phù Tô nhớ tới từng nghe thấy cái tên này ở chỗ Kiều Nhị lang ở giấc mộng trước. tướng quân của Kiều phái thiếu niên ngày xưa, kinh đô ti Tạ Quý.
Tứ Phúc nhận đồ Tạ gia, trước nay có tình cảm thâm hậu với thiên tử, đành quanh co: “Bệ hạ, lão nô chỉ có cái mệnh tiện, chết không đáng tiếc. Bệ hạ kế vị, thiên hạ quy tâm, vạn dặm thái bình, Thượng Bách Hoa quốc, còn dám cầu gì đây? Trong các Khảm ly, hai mươi tám công thần, ngày nay đã mất bảy bảy tám tám, Tạ hầu gia còn dám cầu gì nữa? Tạ hầu có sai, sai ở một lời đã hại chết Kiều Hoàng hậu, vì sao Bệ hạ không khiến Tạ gia tử tôn phải thủ lăng nương nương đến muôn đời để chuộc tội?”
Mẫn Ngôn cười lạnh, “Lòng thờ hai chủ, khó dò trung nịnh!”
Tứ Phúc lấy một cái hộp ngọc xinh xắn được khóa kĩ từ trong ống tay áo ra, đưa kèm một cái chìa ngọc tới trước mặt Mẫn Ngôn, cúi đầu thưa: “Bệ hạ, Tạ hầu dặn nô tài rằng trong hộp ngọc là tấm lòng trung thành của ông ta, cũng là con đường duy nhất để đời sau Bệ hạ tìm được tiên tung (*) của nương nương.”
(*) Tiên trong thần tiên, tung trong tung tích.
Phù Tô nghe thế thì định nhìn kĩ trong hộp có gì thì trán bị ai đập mạnh, giật bắn người, cuối cùng cũng tỉnh.
“Cái tên chết tiệt này!” Lòng bàn tay của quỷ mặc áo tang phát lực, sách không chữ xé nát đầy đất, Phù Tô từ từ mở mắt ra.
Hề Sơn quân đi điểm danh xong từ thiên giới trở về, thấy cảnh tượng này vội vàng chạy tới.
Nàng nâng quai hàm trắng nõn của thiếu niên, xem xét tỉ mỉ một lúc rồi cười lạnh nói: “Vẫn may, chưa bị mất hồn. Cái tên tặc tử đó, lấy một quyển sách không chữ để lừa tướng công ta, nhưng chàng cũng thật là, vậy mà cũng bị mắc mưu nữa! Sách gì đọc cũng thấy hay à!”
Phù Tô đứng dậy, đôi mắt lạnh lùng, chầm chậm nhìn Hề Sơn quân một hồi lâu mới nói: “Sơn quân trông rất quen.”
Mặt Hề Sơn quân tái nhợt, nom bệnh tật xấu xí, nghe chàng nói thế thì lại thấy chột dạ, lùi về sau một bước, cười nhã nhặn: “Gió thu thổi mạnh quá, thổi loạn đầu công tử rồi.”
Phù Tô khẽ mỉm cười không đáp, rót hai chén nước trong trong bình gốm trên bàn ra, đưa một ly cho nàng một ly tự nhấp, nói: “Sách không chữ cũng không hay gì, nhưng cảnh trong mộng của ta rất sống động. Ta gặp một cô nương nho nhỏ.”
Hề Sơn quân hừ một tiếng: “Đừng nói tới cô nương nho nhỏ, cô nương to to cũng có quan hệ với chàng đấy. Lão tử đi lên trời lau chùi cho sao, đếm từng cái một, mênh mông là thế, vậy mà cũng có thể gặp tình cũ của chàng đấy.”
Phù Tô sửng sốt, Hề Sơn quân càng hung hăng, dẫm một chân lên ghế đá, chỉ vào Phù Tô nói: “Chất Thủy bảo suýt nữa là trở thành thê tử đầu tiên của chàng.”
Lúc nói tạm biệt với nàng, ngôi sao cỡ quả mơ đó nói thế này: “Ta tên là Chất Thủy, một thiếu niên ta ái mộ từng nói, rất hợp với Trạc Tuyết.”
Cô nương tên Chất Thủy đó, vẫn luôn mong mỏi trở thành thê tử của chàng thiếu niên luôn cúi đầu đọc sách kia. Cho dù là hèn mọn nhất, cho dù nhanh chóng bị quên lãng, nhưng khoảnh khắc chàng dịu dàng nói chuyện cùng nàng là thật, đã từng chờ đợi được thành thê tử đầu tiên của chàng.
Thế nhưng vì sự bất bình của mình, Mục vương đã chiếm đoạt Chất Thủy trong trắng. Chất Thủy tuyệt vọng rất sợ thiếu niên thô bạo giá tuyết, còn hi vọng có thể giấu diếm, nhưng rốt cuộc cũng bị phát hiện. Ngày đó, thiếu niên hẵng còn đọc ‘Trạc Tuyết tập’ không vì vậy mà giận, còn ban nàng cho Mục vương thế tử. Thái hậu không để ý, Thành Giác càng không vui, hận nàng đến thấu xương, trong đêm tuyết giá rét, treo cổ nàng lên cây. Rất nhiều cung nhân trong điện từng tới bên cạnh Chất Thủy đang giãy dụa tới chết, nhưng ai cũng hờ hững rời đi. Hy vọng của Chất Thủy biến thành tuyệt vọng, Chất Thủy đã bỏ mạng trên đêm tuyết.
Phù Tô lấy đi tâm Chất Thủy, Chất Thủy đoạt mất hồn Thành Giác.
Nhân quả tuần hoàn, thế gian báo ứng, không phải vì mất mạng, mà vì hi vọng hoàn toàn sụp đổ.
Phù Tô thản nhiên cười bảo: “Ta và cô nương nho nhỏ trong mộng có nói, chờ nàng trưởng thành, ta sẽ đưa nàng xem hoa hồng trên vách núi, ngắm ngọc trắng dưới đáy biển, thích nàng, thích đến mức đánh giặc uống rượu đọc sách đánh đàn cũng mang theo bên mình chẳng nỡ rời, cùng sống trọn đời với núi cao sông dài.”
“Sau đó thì sao?”
“Sau đó, nàng chết vào ngày trưởng thành xuất giá.”
Năm Tề Minh thứ mười, mùng mười tháng tám, Mục vương tử bình phục. Sang năm mới, đi sứ Giang Đông.