Giáo sư Du vừa nhận được cuộc gọi của Hạ Quy Sơn thì kích động vô cùng, chỉ qua điện thoại cũng có thể cảm nhận được cảm xúc dâng trào của ông. Hai người hẹn thời gian gặp mặt. Vì giáo sư còn vướng lịch dạy nên dứt khoát bảo họ đến thẳng trường đại học tìm mình.
Hạ Quy Sơn đưa Lục Yểu vào trung tâm thành phố tìm một khách sạn để ở. Đến chập tối, Hạ Quy Sơn nói muốn dẫn Lục Yểu ra ngoài dạo một vòng. Vừa xuống tới sảnh anh nhận một cuộc điện thoại rồi vội vã chạy đi, bảo Lục Yểu đợi mình ở sảnh khách sạn vài phút. Nghe nói đây là khách sạn sáu sao tốt nhất thành phố Giang, đại sảnh người tới người lui, tuy chẳng ai để ý đến cậu nhưng Lục Yểu vẫn thấy hơi lúng túng. Cậu cứ có cảm giác bản thân không thuộc về nơi này.
Thẩm Trường Thanh gửi tin nhắn hỏi bọn họ đang ở đâu. Cậu báo tên khách sạn, đầu dây bên kia huýt sáo một tiếng rồi nói:
“Đối tượng của cậu đối xử với cậu tốt thật đấy”.
Lục Yểu khựng lại, phản bác: “Anh ấy không phải đối tượng của tôi”.
“Được thôi”. Đầu dây bên kia vui vẻ đáp: “Tôi đã nâng hạng cho hai người lên phòng Tổng thống rồi. Hiếm khi tới thành phố Giang một chuyến, làm xong chính sự thì phải tận hưởng cho đã chứ. Khỏi cần cảm ơn tôi nha cậu bạn nhỏ”.
Lục Yểu còn chưa kịp từ chối thì đã thấy bên ngoài bức tường kính sát đất có một chiếc Mercedes-Benz G-Class chầm chậm chạy tới. Hạ Quy Sơn ngồi sau vô lăng vẫy tay với cậu. Anh có gương mặt cương nghị, nụ cười rạng rỡ, hoàn toàn khác với kiểu đẹp trai style Hàn Quốc đang thịnh hành hiện nay. Vì thế mỗi khi có người ra vào khách sạn họ đều không khỏi nhìn anh thêm vài lần. Kiểu đàn ông mạnh mẽ nam tính như anh thật sự rất thu hút.
Chiếc xe này không phải của Hạ Quy Sơn mà là của một người trong vô số “mối quan hệ” của lão Tạ. Lão Tạ thấy bọn họ đến thành phố Giang có việc, suốt ngày gọi taxi cũng chẳng tiện, bèn chủ động đề nghị cho mượn chiếc xe này.
Lục Yểu rất thích chiếc xe ấy, đương nhiên cậu cảm thấy chủ yếu vẫn là vì người lái xe quá đẹp trai.
Lục Yểu nhân tiện kể luôn chuyện Thẩm Trường Thanh giúp bọn họ nâng hạng phòng. Hạ Quy Sơn bật cười:
“Anh biết rồi. Dù sao khách sạn này cũng là của cậu ta mà”.
Thành phố Giang phồn hoa vô cùng.
Khi còn nhỏ Lục Yểu lớn lên ở một thị trấn nhỏ phía Nam cách đây không xa nhưng Lục Chính Đông gần như chưa từng đưa cậu đến đây du lịch. Về sau tinh thần của Lương Tiểu Minh không ổn định, cậu càng không có cơ hội. Lên đại học, tuy thi đỗ vào Học viện Mỹ thuật danh tiếng nhất thành phố này nhưng chẳng bao lâu sau cậu cũng bảo lưu việc học, vì thế đối với Lục Yểu, thành phố Giang là một nơi rất mới mẻ.
Hạ Quy Sơn đã tới đây vài lần, cũng xem như đã quen thuộc đường phố. Anh đưa Lục Yểu đến một nhà hàng địa phương nổi tiếng của thành phố Giang ăn tối.
Khu trung tâm rất khó tìm chỗ đỗ xe, Hạ Quy Sơn vất vả lắm mới kiếm được một chỗ trong khu dân cư cũ cách nhà hàng hai con phố, hai người cất xe ở đó rồi đi bộ sang. Họ đi ăn đúng tầm giờ tan học, trên đường chật kín phụ huynh và trẻ con, tiếng nói cười ồn ào làm tắc cả giao thông. Hai người không vội nên đứng nép bên lề đường nhường họ, đợi những người đang sốt ruột về nhà ăn cơm đi qua trước.
Ngay cạnh trường học có một hiệu sách và một cửa hàng tạp hóa. Lục Yểu liền kéo Hạ Quy Sơn chui vào, mua mấy quyển sách phụ đạo, nói là mang về cho bọn trẻ ở Khương Lan. Cậu mua thêm mấy món văn phòng phẩm đẹp mắt. Nào là tẩy, nào là bút chì đủ loại, nói phần thường phong phú thì đám trẻ sẽ tích cực hơn.
Lúc họ đi ra dòng người tan học đã giải tán gần hết, chỉ còn vài đứa trẻ chưa có phụ huynh đến đón đứng ngóng trước phòng bảo vệ. Lục Yểu nhìn một lúc rồi bỗng bật cười. Hạ Quy Sơn nghiêng đầu nhìn cậu.
Lục Yểu vội giải thích: “Tự nhiên em nhớ đến hồi nhỏ tan học, hôm nào Lương Tiểu Minh cũng nhớ nhầm giờ. Một tuần năm ngày thì có ba ngày bà ấy không đón được em, thế là sau này bà ấy dứt khoát không đến nữa, để em tự về. Vì nhà gần trường nên bà treo cho em một chiếc chìa khóa trước cổ, em đi bộ chừng năm phút là về đến nhà”.
Quê cậu rất khác với thành phố Giang. Ở đó nơi nơi đều là kênh rạch, vừa mở cửa đã thấy nước. Trẻ con trong xóm ai cũng quen biết nhau. Hồi đó du lịch còn chưa phát triển, người lạ cũng không nhiều như bây giờ nên để một đứa trẻ tự đi về nhà vẫn rất an toàn. Sáng sớm có thể nghe thấy tiếng bà cụ nhà bên đứng trên bậc đá “bốp bốp” giặt quần áo. Buổi trưa có người chèo thuyền lững thững đi ngang qua, trong khoang thuyền chất đầy rau xanh mướt hoặc những loại trái cây tươi rói. Nước sông không trong vắt nhìn thấy đáy mà mang một màu xanh thẫm trầm lặng. Người ta dùng nó để làm mọi thứ—vo gạo, rửa rau, giặt quần áo, ngâm dưa hấu mỗi khi vào hè. Người ta bỏ dưa vào túi lưới ngâm dưới sông đến chiều tối mới kéo lên, dùng sống dao vỗ một cái “rắc”, hơi mát của nước sông theo đó lan tỏa.
Lương Tiểu Minh rất thích đưa cậu ngồi thuyền ô bồng. Lúc mới đầu cậu bị say sóng. Chiếc thuyền nhỏ khẽ lắc lư theo mặt nước, dạ dày cậu cũng cuộn lên theo, khuôn mặt bé xíu tái nhợt. Mỗi lần như thế Lương Tiểu Minh đều cười, vừa vỗ nhẹ lưng cậu vừa bảo:
“A Yểu, con nhìn cái cầu đằng kia kìa. Nhìn những ngôi nhà trên bờ, nhìn mây trên trời, cứ nhìn chăm chú vào đó. Không nhìn mặt nước thì sẽ không chóng mặt nữa.”
Cậu thử làm theo, nhìn dáng cong của cây cầu đá phía xa, nhìn đường viền mái ngói đen trên những bức tường trắng, nhìn những đám mây chậm rãi trôi từ khoảng trời này sang khoảng trời khác. Cảm giác chòng chành khó chịu trong lòng dần lắng xuống. Trong nhịp lắc lư khe khẽ của con thuyền, cậu gối đầu lên đùi Lương Tiểu Minh. Bên tai là tiếng mái chèo rẽ nước đều đều, tiếng nước róc rách và khúc dân ca Giang Nam bà khe khẽ ngân nga, dù bà hát chẳng đúng nhịp cũng chẳng đúng điệu.
Nghĩ đến đó, thời gian dường như đã trôi qua rất lâu, lâu đến mức cậu cũng chẳng biết ngôi nhà ngày xưa còn đó hay không. Cậu nghĩ nếu có cơ hội, nếu thật sự có cơ hội, cậu nhất định phải đưa Hạ Quy Sơn đến xem nơi đó một lần.
Quán ăn nằm khuất trong một con hẻm nhỏ. Mặt tiền quán không lớn, ánh đèn vàng ấm áp hắt ra, bàn ghế được lau bóng loáng, trong không khí phảng phất mùi chua ngọt và dầu mỡ. Nghe nói quán này danh tiếng cực kỳ tốt, qua giờ ăn rồi mà vẫn đông nghịt khách, người xếp hàng bên ngoài đã vượt quá cả trăm. Hạ Quy Sơn phải nhờ người đặt chỗ từ trước mới thuận lợi có bàn ngồi ăn ở một góc yên tĩnh cạnh cửa sổ.
Hạ Quy Sơn ghé sát tai cậu, nhỏ giọng nói:
“Số chờ của quán này còn bị phe vé đem bán nữa. Trước đây bỏ ra một trăm tệ cũng chưa chắc mua được. Nhưng chủ quán quản rất gắt, phát hiện khách mua số là ném thẳng ra ngoài.
Lục Yểu kinh ngạc: “Ném… ném ra ngoài á?!”
Thấy Hạ Quy Sơn cười hai mắt híp lại, cậu mới nhận ra anh đang nói đùa. Lục Yểu lườm anh một cái. Hạ Quy Sơn vẫn cười.
Vì đã từng tới đây nên anh gọi món thành thục chẳng cần nhìn thực đơn.
Trong lúc đợi món, Lục Yểu nâng tách trà nóng, đầu ngón tay chậm rãi ấm trở lại. Cậu lén ngước mắt quan sát người đàn ông đối diện. Hạ Quy Sơn ngẩn người nhìn ra ngoài cửa sổ chẳng biết đang nghĩ gì. Dưới ánh đèn vàng nhạt, đường nét nghiêng trên gương mặt anh trông dịu dàng hơn hẳn
Món ăn được mang lên rất nhanh. Một đĩa tôm xào đỏ au, vỏ giòn, thịt mềm. Hạ Quy Sơn gắp một con, rất tự nhiên đặt vào chiếc đĩa trước mặt Lục Yểu.
“Nếm thử xem, tôm ở đây ngon lắm.”
Lục Yểu cúi đầu cẩn thận bóc lớp vỏ tôm, để lộ phần thịt săn chắc bên trong. Khi đưa vào miệng, vị mặn tươi xen chút ngọt quen thuộc lan trong lưỡi nhưng lại đậm đà thơm ngon hơn bất cứ lần nào trong ký ức của cậu.
Canh yên đốc tiên được hầm đến trắng sữa. Măng tươi và thịt muối sôi lục bục trong nồi đất, hơi nóng bốc nghi ngút.
Hạ Quy Sơn cầm bát của cậu, múc đầy một muôi canh, cố ý gắp thêm mấy miếng măng và một miếng ba chỉ rồi đưa lại cho cậu.
“Món ăn ở thành phố Giang thiên ngọt”. Vừa nói anh vừa tự múc cho mình một bát, nhấp một ngụm. “Nhưng chắc em đã quen rồi “.
Thời tiết đầu xuân vẫn còn chút lạnh, hơi ấm từ thành bát truyền vào lòng bàn tay lan dần khắp tứ chi. Cậu nhấp từng ngụm nhỏ, thứ nước canh nóng hổi trôi dọc xuống cổ họng.
Cậu chắc chắn quen rồi. Thị trấn miền Nam cậu sống hồi nhỏ có vài món ngọt hơn cả nơi này. Lương Tiểu Minh cũng thích ngọt, thích nhất là cà chua trộn đường, trứng xào cà chua kiểu ngọt, thích cả bánh bao tiểu long ngọt ngấy.
Lục Yểu cúi đầu vùi mặt vào bát cơm. Cậu cứ ăn mãi, ăn mãi, giống hệt một vận động viên chạy đường dài giữ tốc độ đều đặn.
Hạ Quy Sơn không nói gì nữa, chỉ lặng lẽ ăn cơm, thỉnh thoảng gắp cho cậu một đũa thức ăn hoặc chan thêm ít canh. Trong quán tiếng người huyên náo, có tiếng người nhà trò chuyện, có tiếng bạn bè cười nói, tiếng bát đĩa va chạm nối tiếp không dứt. Ngoài cửa sổ, đèn đuốc rực rỡ, người xe tấp nập. So với đêm yên tĩnh ở Khương Lan, nơi này có thêm rất nhiều hơi thở của cuộc sống.
Đã rất lâu rồi Lục Yểu mới cảm nhận được sự náo nhiệt đến thế. Thấy cậu có vẻ vui, Hạ Quy Sơn nói:
“Con người sống trên đời thì nên đến những nơi náo nhiệt nhiều hơn, mở mang tầm mắt”.
Biết anh lại dỗ dành mình như dỗ trẻ con, hiếm khi Lục Yểu có hứng cãi lại:
“Trẻ con mới cần mở mang tầm mắt. Người lớn bọn em chỉ thích chôn chân ở một chỗ thôi”.
Hạ Quy Sơn cười lắc đầu, không đáp. Anh múc cho Lục Yểu món đậu phụ sốt gạch cua vừa được mang lên. Lục Yểu mới ăn nửa miếng đã bị sặc, cậu ho liên tục.
Hạ Quy Sơn vội gọi một hộp sữa chua cho cậu giải cay. Thấy khóe mắt cậu đỏ lên, anh không nhịn được bật cười.
“Xin lỗi, xin lỗi. Anh không ngờ đây lại là món đậu phụ gạch cua kiểu Ma Bà. Lần trước anh tới họ chưa làm món cay”.
Lục Yểu xua tay, bị cay đến mức cứ lè lưỡi liên tục. Cậu đẩy nửa thìa còn lại sang trước mặt Hạ Quy Sơn. Hạ Quy Sơn đang bận bóc tôm, không rảnh đưa tay nhận, bèn ra hiệu để Lục Yểu đút thẳng vào miệng anh.
Lục Yểu khựng lại một chút rồi xúc thêm nửa thìa nữa, đút cho anh. Có lẽ Hạ Quy Sơn thấy thú vị, liền dùng ánh mắt ra hiệu bảo Lục Yểu gắp thức ăn cho mình. Lục Yểu rất kiên nhẫn chiều theo từng yêu cầu của anh.
Hai người đều là “dạ dày vương”, một bữa cơm ăn suốt hai tiếng đồng hồ. Hóa đơn hơn sáu trăm tệ khiến quản lý nhà hàng cười không khép được miệng. Lúc tiễn họ ra cửa, câu “Hoan nghênh lần sau lại ghé!” được ông hô lớn hơn hẳn.
Người ta vẫn nói con người dễ bị cuốn đi theo dòng chảy của thời đại. Nhưng thời đại chẳng phải cũng đang thay đổi theo con người đó ư.
Ngày hôm sau, vì buổi sáng Giáo sư Du có tiết dạy nên họ hẹn gặp vào khoảng mười một giờ.
Ánh nắng đầu xuân xuyên qua những tán ngô đồng, rải xuống mặt đất thành từng mảng sáng loang lổ lay động. Từng tốp sinh viên hai ba người, hoặc đạp xe, hoặc ôm sách cầm ly trà sữa, vừa cười vừa nói đi ngang qua họ. Trên gương mặt ai nấy đều mang vẻ tươi sáng đầy sức sống của tuổi trẻ. Trong không khí phảng phất mùi cây cỏ hòa lẫn với mùi thức ăn.
Địa chỉ Giáo sư Du cho cũng không khó tìm. Họ đi theo chỉ dẫn, băng qua từng tòa giảng đường gạch đỏ.
Lục Yểu chăm chú nhìn những tấm áp phích đủ kiểu trên bảng thông báo bên đường. Cậu dần thả chậm bước chân, Hạ Quy Sơn cũng dừng chân chờ cậu.
Văn phòng của Giáo sư Du Hoa Thanh nằm trên tầng cao nhất của tòa nhà cũ ở sâu bên trong. Lúc này trong phòng chỉ có mình ông. Sách vở và đủ loại mẫu đá chất kín khắp phòng, chật đến mức gần như không còn chỗ xoay người. Cành cây vươn qua ô cửa sổ đang mở, gió vừa thổi một cái là mùi báo cũ tích năm tháng lại lan khắp căn phòng.
Họ gõ cửa mấy lần, ông lão mới ngẩng đầu lên khỏi đống tài liệu. Vừa thấy họ ông vội vàng chống tay lên bàn đứng dậy, động tác hơi mạnh làm xô rơi một chồng hồ sơ ở góc bàn, ông cũng chẳng buồn để ý. Ông lao thẳng đến trước mặt Hạ Quy Sơn, chăm chú nhìn anh hồi lâu rồi xúc động nắm chặt lấy tay anh. Hạ Quy Sơn cũng đáp lễ, hàn huyên vài câu, kính cẩn gọi ông là “Ngài Du”
Hai người được mời ngồi xuống ghế sofa. Tâm trạng giáo sư Du vẫn còn kích động, nhưng ông không quên việc chính. Ông bảo người mang vào hai cốc nước nóng.
Lục Yểu đẩy phần báo cáo kiểm nghiệm ban đầu cùng bản phân tích chi tiết được bổ sung đến trước mặt ông. Giáo sư Du vừa lật tới mấy trang số liệu phía sau liền bật dậy, bước đến chiếc tủ hồ sơ màu sẫm đã khóa, lấy ra một cuốn sổ ghi chép mép giấy đã sờn, màu giấy ngả vàng theo năm tháng. Trên đó chi chít những hàng chữ viết bằng bút máy ngay ngắn cùng đủ loại biểu đồ vẽ tay.
“Đây là sổ ghi chép công tác tôi để lại hồi làm khảo sát địa chất ở Khương Lan. Toàn bộ đều là dữ liệu môi trường nguyên thủy. Hai cậu xem đi, chỗ này với chỗ này, trước năm 1993 hoàn toàn không hề tồn tại những thứ này”.
Đó là vài ký hiệu đồng vị.
“Đầu những năm chín mươi, ở Mỹ có một công ty tên là Cohen sản xuất một loại dung dịch khoan chuyên dụng. Dấu ký hiệu này chẳng khác nào dấu bớt bẩm sinh của nó, tuyệt đối không thể có bản thứ hai. Năm đó Lục Chính Đông mua lô thiết bị ấy mang vào Khương Lan, cứ tưởng có thể một tay che trời, không ngờ đúng không?”
Ông rút từ một chồng tài liệu ra một bản photocopy danh mục mua sắm thiết bị đã ngả vàng, trên đầu trang in tiêu đề của Tập đoàn Lục Thị.
“Thứ này tôi vẫn còn giữ đây!”
Nguồn gốc gây ra ô nhiễm địa chất ở Khương Lan, cũng là hung thủ khiến những công nhân ấy biến thành “quái vật” chính là loại dung dịch khoan đi kèm bộ thiết bị mà năm xưa Lục Chính Đông bỏ ra khoản tiền khổng lồ để nhập khẩu.
Ban đầu họ còn định hỏi giáo sư xem có thể xin một bản photocopy những tài liệu này hay không. Không ngờ Giáo sư Du chỉ phất tay một cái, nhét luôn bản gốc vào tay họ.
“Thứ này để chỗ tôi cũng chẳng còn tác dụng gì. Với lại năm đó bố cậu từng cứu mạng tôi, cứ coi như đây là việc cuối cùng tôi có thể làm cho người dân Khương Lan”.
Ba người nói chuyện xong thì cũng gần trưa. Một lát nữa Giáo sư Du còn có việc nên bảo trợ giảng cầm thẻ công chức đưa họ đến nhà ăn của trường dùng bữa. Hai người từ chối mãi, đến khi thấy ông lão sắp nổi giận mới thôi, liên tục cảm ơn rồi theo trợ giảng đến nhà ăn số Ba được mệnh danh là căng tin ngon nhất trường.