Căn phòng giải phẫu dã chiến đặt tại trạm y tế cũ của thị trấn Sa Pa chìm trong một thứ tĩnh lặng quánh đặc. Hơi lạnh âm hai độ luồn qua những khe cửa gỗ vênh váo, đọng thành lớp sương muối mỏng manh trên mép kính cửa sổ. Mùi thuốc tẩy clo, mùi formalin nồng hắc quyện chặt với mùi hôi ngai ngái của bùn đất suối Mường Hoa bốc lên từ hai chiếc túi đựng thi thể đặt song song trên hai bệ xi măng bọc bạt xanh.
Phan Nhật Nam đứng bất động bên bàn thao tác kim loại. Dưới ánh sáng nhập nhoạng của hai bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng, đôi mắt thâm quầng của anh dán chặt vào chiếc túi nylon y tế chuyên dụng được đánh số niêm phong 04-B. Bên trong túi là lọn tóc đen dài hai mươi phân thắt nơ nhung đỏ của Chu Lan Anh, cùng mảnh da cừu mang dòng chữ viết bằng huyết tương: “Nốt cao trào dành riêng cho Chu Lan Anh”.
Bên ngoài, tiếng gió rít qua rặng sa mu nghe như tiếng vĩ cầm lạc điệu. Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ treo tường cũ kỹ gõ từng nhịp tách... tách... tách... đè nặng lên màng nhĩ, nhắc nhở anh về cỗ máy đếm ngược điện tử thu được từ hốc đá hoa cương dưới chân Cầu Mây.
Con số bảy mươi mốt giờ bốn mươi phút vẫn đang lùi dần vào bóng tối. Từng giây trôi qua đều là một phần sinh mạng của cô gái trẻ đang bị tước đoạt trong lòng vực thẳm.
Ở góc phòng, Chu Lan Vy ngồi co ro trên chiếc ghế sắt rỉ sét, đôi vai nhỏ khẽ run rẩy nhưng lưng vẫn thẳng tắp. Chiếc áo khoác dã chiến màu rêu của cô ướt sũng nước suối và tuyết tan, vạt áo đã đông cứng lại thành từng mảng giòn vụn. Đôi mắt nâu sẫm của cô gái hai mươi tám tuổi đỏ ngầu, không phải vì khóc, mà vì áp lực và sự phẫn nộ tột cùng đang thiêu đốt bên trong. Cô không cho phép mình rơi thêm một giọt nước mắt nào nữa kể từ khoảnh khắc quỳ sụp trên bãi đá Cầu Mây. Bàn tay cô gõ lách cách liên hồi trên bàn phím máy tính xách tay quân sự, cố gắng duy trì đường truyền internet vệ tinh chập chờn giữa tâm bão tuyết.
“Tuấn vẫn đang ở trụ sở Công an thị xã?” Nam lên tiếng, giọng trầm đục sau nhiều giờ không uống nước.
Vy không ngẩng đầu lên, những ngón tay gầy guộc vẫn thoăn thoắt lướt trên phím bấm: “Anh ấy gọi cách đây mười phút qua bộ đàm. Cấp trên đang gây sức ép cực lớn. Giám đốc Công an tỉnh yêu cầu Tuấn lập tức bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án Hoàng Mai Khanh và Tạ Hoàng Bách cho Đội Trọng án tỉnh, đồng thời ký biên bản sơ bộ kết luận hai vụ việc là ‘tai nạn do trượt ngã và sốc nhiệt kết hợp cướp tài sản cá nhân’. Bọn họ muốn dọn sạch mọi dấu vết trước khi phái đoàn ngoại giao và các nhà tài trợ của Lễ hội Mùa đông đặt chân tới vào sáng mai.”
“Bịt miệng truyền thông, xoa dịu công luận để bảo vệ dòng tiền du lịch,” Nam cười nhạt, một nụ cười không có chút ấm áp nào nơi khóe môi phong trần. “Mười năm trước, họ cũng từng dùng đúng cái cớ đó để ép đóng hồ sơ vụ án bên mép đèo Ô Quy Hồ. Lịch sử không tự lặp lại, chỉ có lòng tham và sự đê hèn của con người là bất biến.”
Anh với tay kéo chiếc máy quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier dã chiến (FTIR) lại gần tâm bàn thao tác. Đây là thiết bị giám định di động cao cấp hiếm hoi mà Nam còn giữ lại được từ phòng thí nghiệm tư nhân của mình dưới Hà Nội, được bảo dưỡng định kỳ bằng sự cẩn trọng gần như tôn giáo. Chiếc máy nặng gần hai mươi cân, đặt trong lớp vỏ hợp kim nhôm chống sốc màu xám tro, hoạt động dựa trên nguyên lý chiếu chùm tia hồng ngoại qua mẫu vật chất để ghi lại phổ dao động của các liên kết hóa học, từ đó vẽ nên “vân tay phân tử” của từng hạt vật chất dù là nhỏ nhất.
Nam đeo găng tay cao su nitrile mới, dùng nhíp y tế đầu bọc teflon cẩn thận mở hai chiếc đĩa petri thủy tinh đặt dưới kính hiển vi soi nổi.
Đĩa petri thứ nhất chứa những hạt bụi màu vàng sẫm thu thập được từ kẽ móng tay của nữ nghệ sĩ vĩ cầm Hoàng Mai Khanh tại biệt thự De La Vallée.
Đĩa petri thứ hai chứa lớp bột mịn cùng màu được anh cạo ra từ rãnh khắc của Khóa Fa trên lưng tử thi Tạ Hoàng Bách và mép khối đá hoa cương vớt lên từ dòng nước băng giá suối Mường Hoa.
Dưới độ phóng đại bốn mươi lần của kính hiển vi, những hạt bụi ấy không hề có dạng tinh thể góc cạnh của cát thạch anh hay đất phong hóa bản địa Sa Pa. Chúng là những phiến mỏng trong suốt như hổ phách, rìa vỡ sắc bén dạng vỏ sò, lấp lánh sắc cam đỏ ma mị dưới ánh đèn LED đồng trục.
“Về mặt cơ học tiếp xúc, nguyên lý trao đổi vật chứng của Edmond Locard luôn đúng,” Nam lẩm bẩm, nửa như nói với Vy, nửa như tự nhắc nhở bản thân. “Bất cứ kẻ nào bước vào hiện trường đều để lại một phần của hắn, và mang theo một phần của hiện trường đi. Hắn có thể tẩy sạch máu, hắn có thể dùng ether gây mê, có thể đông lạnh thi thể để làm nhiễu loạn thời gian tử vong, nhưng hắn không thể ngăn được lực ma sát của dây cung vĩ cầm phát tán những phân tử này vào không khí.”
“Anh đang tìm thứ gì?” Vy dừng gõ phím, ngước mắt nhìn bóng lưng cao gầy của người đàn ông. Ánh mắt cô dừng lại trên đôi găng tay len hở ngón mà Nam vừa cởi ra đặt bên mép bàn. Đôi bàn tay của cựu chuyên gia giám định khẽ run rẩy một nhịp rất khẽ khi anh cầm chiếc thìa micro-spatula bằng bạch kim, một phản xạ vô điều kiện của chứng sang chấn tâm lý mỗi khi anh tiếp cận ranh giới của một bí mật chết người.
“Bản chất của kẻ sát nhân,” Nam đáp, ánh mắt sắc như lưỡi dao mổ găm chặt vào lăng kính phản xạ toàn phần suy giảm bằng tinh thể kim cương (ATR) của máy quang phổ. “Một tên tội phạm tôn sùng âm nhạc đến mức biến từng vụ giết người thành một chương trong bản sonate sẽ không bao giờ sử dụng những thứ rác rưởi công nghiệp đại trà. Hắn dùng một cây vĩ cầm đẳng cấp bậc thầy để điều khiển ‘dàn nhạc x*c th*t’ của mình. Và để cây vĩ cầm đó cất lên thứ âm thanh ma quỷ mà hắn khao khát, hắn buộc phải dùng một loại chất kết dính đặc thù.”
Nam dùng thìa cẩn thận đặt một lượng mẫu cực nhỏ—chưa đầy nửa miligram bụi hổ phách—lên bề mặt tinh thể kim cương. Anh vặn chốt nén cơ học với lực chuẩn xác mười lăm Newton để ép mẫu áp sát hoàn toàn vào bề mặt quang học.
“Bắt đầu quét phổ,” anh nhấn nút trên bảng điều khiển.
Chùm tia hồng ngoại quét qua dải số sóng từ 4000 cm⁻¹ đến 400 cm⁻¹. Trên màn hình đơn sắc của thiết bị, một đường cong đồ thị màu xanh lục bắt đầu nhấp nhô xuất hiện theo thời gian thực. Nam nín thở, đôi đồng tử co lại, dõi theo từng đỉnh hấp thụ dao động của các nhóm chức hữu cơ.
Đỉnh hấp thụ cực mạnh xuất hiện ở vùng 1695 cm⁻¹, biểu thị cho liên kết cacbonyl (C=O) của axit abietic—thành phần cơ bản của nhựa thông tự nhiên. Nhưng ngay bên cạnh đó, ở vùng số sóng 1240 cm⁻¹ và 1180 cm⁻¹, hai đỉnh phụ sắc nhọn vút lên bất thường, biểu thị dao động uốn của liên kết este phức tạp.
Chưa dừng lại ở đó, máy tiếp tục phát hiện một dải hấp thụ rộng và sâu ở vùng 3400 cm⁻¹ cùng với một pic đặc thù ở 888 cm⁻¹.
“Không phải nhựa thông thông thường...” Nam thì thào, lồng ngực anh thắt lại. “Nhựa thông công nghiệp dùng cho đàn vĩ cầm hiện đại của Pháp như Bernardel hay Pirastro của Đức đều được hydro hóa hoặc xử lý nhiệt để loại bỏ axit bay hơi, đồ thị phổ của chúng ở vùng 1200 cm⁻¹ hoàn toàn phẳng. Mẫu này chứa một hàm lượng este hóa tự nhiên cực cao, kết hợp với axit succinic tự do và các phân tử sesquiterpene hóa thạch.”
“Nói tiếng người đi, Phan Nhật Nam,” Vy đứng bật dậy, bước nhanh tới mép bàn kim loại, hai tay chống xuống mặt bàn lạnh ngắt, đối diện với anh. “Nó có nghĩa là gì?”
Nam ngước lên, đối diện với ánh mắt cháy bỏng của nữ phóng viên. Trong đôi mắt ấy, nỗi đau mất mát đang dần biến thành ngọn lửa của một cuộc báo thù đanh thép.
“Nó có nghĩa là loại bột này không được sản xuất trong bất kỳ nhà máy hay xưởng nhạc cụ tiêu chuẩn nào trên thế giới hiện nay,” Nam gằn từng chữ, giọng anh lạnh buốt như băng suối. “Đây là Colophane Ambrée—Nhựa thông Hổ phách. Một công thức chưng cất thủ công bí truyền từ thế kỷ mười chín của vùng Tyrol thuộc dãy Alps. Người ta nấu nhựa thông đường thông đỏ cổ thụ cùng với hổ phách tự nhiên nghiền mịn và dầu hạt lanh ép lạnh trong những chiếc nồi đồng cách thủy suốt bốn mươi tám giờ liền. Nó tạo ra một độ bám dây cung hoàn hảo tuyệt đối, giúp các cây đàn cổ như Stradivarius hay Guarneri del Gesù phát ra thứ âm sắc ấm áp, ma mị và vang xa nhất.”
Nam xoay màn hình máy quang phổ về phía Vy: “Công thức này đã thất truyền từ sau Thế chiến thứ nhất. Hiện nay trên toàn thế giới, chỉ có duy nhất một xưởng chế tác thủ công gia đình tại Cremona, Ý còn phục dựng lại được theo các bản ghi chép cổ của dòng họ Amati. Mỗi năm họ chỉ sản xuất đúng mười lăm hộp tròn bằng gỗ mun khảm xà cừ. Mỗi hộp có giá không dưới ba ngàn euro, và tiền cũng không thể mua được nếu người mua không nằm trong danh sách khách hàng danh dự của các nhà sưu tầm nhạc cụ cổ điển hàng đầu.”
Vy siết chặt nắm tay, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu. “Và một hộp nhựa thông như thế đã xuất hiện trên thi thể của Mai Khanh và Hoàng Bách. Kẻ sát nhân không chỉ là một kẻ có tiền. Hắn là kẻ nắm giữ cây đàn độc bản, kẻ đứng ở đỉnh cao của kim tự tháp nghệ thuật.”
“Đúng,” Nam gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ sắc lạnh của một thợ săn dấu vết. “Và dù hắn có quyền lực đến đâu, thứ vật chất hữu hình này cũng không thể tự bay từ Cremona về đỉnh núi tuyết Sa Pa được. Nó phải đi qua một cánh cổng pháp lý.”
Vy không nói thêm một lời thừa thãi nào. Đôi mắt cô lóe lên một tia sáng lạnh lùng. Cô quay trở lại chiếc máy tính xách tay của mình.
“Mười năm làm phóng viên điều tra kinh tế và nội chính, tôi không chỉ có một cuốn sổ tay,” Vy vừa gõ phím vừa nói, giọng dứt khoát như một mệnh lệnh tác chiến. “Tôi có mã khóa truy cập vào hệ thống cổng thông tin dữ liệu hải quan và danh mục tờ khai hàng hóa nhập khẩu đặc thù của Tổng cục Hải quan, thông qua tài khoản của một nguồn tin tin cậy tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài.”
Những dòng lệnh màu xanh lá cây chạy dọc màn hình đen tuyền. Tiếng quạt tản nhiệt của chiếc máy tính dã chiến rít lên ken két giữa căn phòng ẩm mốc.
“Mã phân loại hàng hóa HS cho nhựa thông đã qua chế biến đặc biệt và sáp chà dây đàn: nhóm 3806,” Vy lẩm bẩm, ánh sáng màn hình phản chiếu lên gương mặt thanh tú nhưng sắc sảo của cô. “Lọc địa bàn đích: Tỉnh Lào Cai. Thời gian: Trong vòng ba mươi sáu tháng qua.”
Một bảng dữ liệu dài dằng dặc xuất hiện. Hàng trăm lô hàng nhựa thông công nghiệp phục vụ cho các nhà máy giấy, nhà máy keo dán và xưởng mộc ở khu công nghiệp Tằng Loỏng hiện lên.
“Thu hẹp phạm vi,” Nam đứng sát sau lưng cô, hơi thở ấm nóng của anh phả nhẹ lên mái tóc ngắn ngang vai còn vương bụi tuyết của Vy. “Lọc xuất xứ: Ý (IT). Cảng xếp hàng: Milan hoặc Genoa. Người nhận hàng cá nhân hoặc các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức văn hóa nghệ thuật.”
Vy nhấn phím Enter.
Màn hình nhấp nháy hai lần. Toàn bộ danh sách hàng trăm dòng biến mất, chỉ còn trơ trọi lại đúng một kết quả duy nhất.
Cả hai người cùng nín thở.
Dòng chữ hiện lên rõ mồn một như một bản cáo trạng không thể chối cãi:
Số tờ khai: 10488291040/NK/HNC Ngày đăng ký: 14 tháng 10 năm 2025. Đơn vị nhập khẩu: Quỹ Từ thiện Phát triển Nghệ thuật Vọng Âm (Echo Art Foundation). Người đại diện pháp luật: Trịnh Khắc Kiên. Địa chỉ khai báo: Tầng 18, Tháp Tài chính Sông Hồng, Hà Nội – Chi nhánh đại diện: Biệt thự nghỉ dưỡng Mây Bạc, Sa Pa, Lào Cai. Mô tả hàng hóa: Bộ kit phục chế và bảo tồn vĩ cầm cổ điển thế kỷ 19, bao gồm: 02 hộp sáp Colophane Ambrée chế tác đặc biệt (xác nhận nguồn gốc Cremona, Ý); 04 bộ dây đàn ruột cừu bọc bạc Florence; dầu dưỡng gỗ thông tuyết. Mục đích khai báo: Tài trợ phục chế nhạc cụ cho chương trình tuyển chọn tài năng ‘Âm Thanh Hoàn Mỹ’.
Một sự im lặng ngột ngạt bao trùm lấy gian phòng dã chiến.
Tiếng gió bấc bên ngoài đập thình thình vào mái tôn cũ như những nắm đấm giận dữ. Mùi formalin dường như càng lúc càng nồng nặc hơn.
“Trịnh Khắc Kiên,” Vy thì thào, tên của người đàn ông ấy thốt ra từ kẽ răng cô nghe như một lời nguyền rủa. “Chính là hắn. Không còn nghi ngờ gì nữa. Mẹ tôi đã cảnh báo trong đoạn băng ghi âm mười năm trước về một ‘nhà bảo trợ mang mặt nạ quỷ dữ’. Mai Khanh nhận học bổng của Vọng Âm. Hoàng Bách là thành viên dàn nhạc thính phòng do Vọng Âm bảo trợ tài chính. Và Lan Anh...” Giọng Vy nghẹn lại, lồng ngực cô phập phồng dữ dội. “Lan Anh đã nhận lời mời đến biệt thự De La Vallée để thử cây đàn cổ do chính tay Trịnh Khắc Kiên mang từ Ý về!”
Nam không lập tức phụ họa theo cơn thịnh nộ của cô. Tư duy quy nạp của một giám định viên hình sự buộc anh phải giữ một cái đầu lạnh ngắt ngay cả khi trái tim đang sôi sục.
“Về mặt logic pháp lý, tờ khai hải quan này chứng minh Quỹ Vọng Âm có sở hữu loại nhựa thông này,” Nam chậm rãi phân tích, từng câu chữ đều được cân nhắc kỹ lưỡng. “Nhưng Trịnh Khắc Kiên là một con cáo già lọc lõi. Hắn có một đội ngũ luật sư giỏi nhất cả nước và những mối quan hệ chính trị đan cài chằng chịt từ trung ương đến địa phương. Nếu chúng ta đem tờ khai này và kết quả quang phổ dã chiến này ra trước cơ quan điều tra ngay bây giờ, hắn sẽ thản nhiên tuyên bố rằng bộ kit bảo tồn nhạc cụ đó đã bị mất cắp từ tháng trước, hoặc một ai đó trong dàn nhạc đã dùng trộm nó. Thậm chí hắn có thể đổ vấy cho chính Mai Khanh hay Hoàng Bách là kẻ đã đánh cắp hộp sáp. Chúng ta chưa có mắt xích vật lý trực tiếp nối bàn tay của Trịnh Khắc Kiên với hiện trường hai vụ án mạng.”
“Vậy anh muốn chờ đến bao giờ?” Vy quay phắt lại, mắt cô trừng trừng nhìn Nam, giọng cô vỡ ra trong cay đắng. “Chờ đến khi chiếc đồng hồ kia về số không? Chờ đến khi em gái tôi bị hắn rạch nát lồng ngực rồi ném xuống suối như một con búp bê gãy vụn? Phan Nhật Nam, mười năm trước anh đã để kẻ thủ ác trốn thoát vì sự chần chừ và quy chuẩn chết tiệt của các anh, bây giờ anh lại muốn lặp lại điều đó sao?”
Câu nói của Vy như một mũi kim tẩm độc đâm thẳng vào vết thương sâu kín nhất trong tâm can Nam.
Trong một thoáng chốc, tiếng gió rít bên ngoài cửa sổ biến mất. Thay vào đó, trong tâm trí Nam, một giai điệu vĩ cầm rợn ngườicất lên—những nốt rung trill điên loạn của bản Devil's Trill vọng về từ đáy vực sương mười năm trước, hòa lẫn với tiếng thét xé lòng của Lò Thị Sim trong căn nhà sàn cháy rụi bên triền đèo. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng anh. Đôi bàn tay trong túi áo siết chặt lấy chiếc cán dao mổ bằng thép lạnh ngắt, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực.
Nhưng Nam không gục ngã như mười năm trước.Anh nhìn thẳng vào đôi mắt rực lửa của Vy, ánh mắt anh phẳng lặng như mặt hồ đóng băng, nhưng bên dưới là một dòng hải lưu cuộn sóng: “Tôi không chần chừ, Lan Vy. Tôi đang bảo vệ mạng sống của em gái cô. Nếu chúng ta đánh rắn động cỏ khi chưa nắm được chuôi dao, Trịnh Khắc Kiên sẽ lập tức kích hoạt bẫy tử thần để hủy diệt toàn bộ chứng cứ sống. Hắn sẽ giết Lan Anh ngay lập tức và biến mất vào lớp sương mù của mạng lưới quyền lực. Muốn giết một con thú dữ mang mặt nạ quý tộc, chúng ta phải tước bỏ chiếc mặt nạ của hắn ngay trước mắt công chúng, bằng thứ chứng cứ mà cả hệ thống tư pháp này không thể bẻ cong được.”
Vy sững sờ nhìn anh. Sự lạnh lùng tàn nhẫn trong giọng nói của Nam không phải là sự hèn nhát, mà là sự kiên nhẫn sắt đá của một tay súng bắn tỉa đang chờ đợi mục tiêu bước vào tầm ngắm chuẩn xác nhất.
Cô hít một hơi thật sâu, nuốt ngược sự uất nghẹn vào trong, khẽ gật đầu: “Tôi hiểu rồi. Vậy bước tiếp theo là gì? Chúng ta chỉ còn chưa đầy bảy mươi mốt giờ.”
Chưa kịp để Nam trả lời, chiếc điện thoại di động dã chiến của anh—chiếc máy cổ lỗ sĩ chỉ dùng sóng 2G để tránh bị định vị bằng phần mềm gián điệp—nằm trên góc bàn bỗng rung lên bần bật.
Màn hình hiển thị một dãy số nội hạt không lưu danh bạ.
Nam ra hiệu cho Vy giữ im lặng. Anh nhấn nút nghe, bật loa ngoài: “Tôi nghe.”
Đầu dây bên kia không có tiếng thở gấp, không có âm thanh điện tử bị bóp méo như cuộc gọi tống tiền của kẻ sát nhân. Chỉ có tiếng gió rít gầm rú và tiếng ho sù sụ của một người già cả đời hít phải sương độc vùng cao.
“Thầy Nam đấy phải không...?”
Giọng nói bằng tiếng Kinh lơ lớ, khàn đặc và run rẩy như tiếng cành củi khô bị bẻ gãy giữa mùa đông.
Đồng tử Nam khẽ giãn ra. Anh nhận ra giọng nói đó ngay lập tức. “Bà Mỷ? Bà đang ở đâu? Cháu đã dặn bà phải ở yên trong bản Tả Phìn cơ mà!”
Bà Ma Thị Mỷ là một trong số ít những nhân chứng người H'Mông còn sống sót từng làm phu khuân vác cho các công trình khảo sát địa chất và xây dựng biệt thự của người Pháp từ trước năm 1954, và cũng là người mười năm trước từng cung cấp cho Nam những thông tin đầu tiên về hệ thống thoát nước ngầm của thung lũng Mường Hoa trước khi vụ án bị chôn vùi.
“Không ở Tả Phìn được đâu... Rắn độc đã bò về bản rồi...” Tiếng bà Mỷ thì thào qua ống nghe, đứt quãng vì những cơn rùng mình dữ dội. “Người của thị xã... bọn mặc áo đen đi xe biển trắng vừa vào bản tìm tôi. Chúng hỏi về cái hầm thông gió năm xưa... Tôi trốn ra được đằng sau chuồng ngựa, men theo vách đá xuống thị trấn. Thầy Nam... tôi có thứ này... nhặt được ở miệng Hang Gió trên đỉnh thác Bạc... Thứ của quỷ dữ...”
“Bà đang ở đâu?” Nam gắt lên, giọng khẩn cấp.
“Góc chợ cũ... dưới chân bậc đá nhà thờ đổ... Mau lên... sương mù đang dâng lên từ thung lũng... lạnh quá...”
Tiếng tút dài vang lên cắt đứt cuộc gọi.
Nam lập tức giật phăng chiếc áo khoác bông dày treo trên móc, nhét chiếc máy quang phổ mini và hộp đồ nghề khám nghiệm vào ba lô chống nước. Anh quay sang Vy: “Đi thôi. Cầm theo máy ghi âm và đèn pin công suất lớn. Bà Mỷ có thể là chìa khóa duy nhất dẫn chúng ta đến nơi Lan Anh đang bị giam giữ trước khi cống thoát lũ xả đợt nước tiếp theo.”
*
Thị trấn Sa Pa lúc ba giờ chiều chìm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ, ma quái. Sương mù dày đặc như một tấm vải liệm khổng lồ màu xám tro chụp xuống từng mái nhà lợp ngói fibrocement xám xịt. Nhiệt độ đã tụt xuống âm ba độ. Nước trên các cành sa mu ven đường đông cứng lại thành những chùm gai băng nhọn hoắt, chực chờ rơi xuống như những mũi tên pha lê.
Đường phố vắng tanh không một bóng người. Các hàng quán đều đóng chặt cửa, căng bạt chắn gió bấc. Sự kiện Lễ hội Mùa đông dự kiến khai mạc vào tối mai tại Nhà hát và Khu nghỉ dưỡng Mây Bạc đã biến thị trấn du lịch này thành một pháo đài kỳ dị: đường phố cấm xe tải, các chốt dân phòng và an ninh mặc thường phục lảng vảng ở các ngã ba, nhưng hoàn toàn vắng bóng sự tuần tra công khai của lực lượng cảnh sát hình sự. Một sự bình yên giả tạo đến nghẹt thở đang được dựng lên để che giấu hai xác chết vừa được vớt lên từ lòng đất.
Nam và Vy kéo sụp mũ len, đi sát vào chân các bờ tường đá rêu phong, men theo con dốc ngoằn ngoèo dẫn xuống khu chợ cũ của người bản địa—nơi đã bị bỏ hoang từ sau trận sạt lở đất cách đây vài năm.
Khu chợ cũ chỉ còn lại những khung lều bằng gỗ mục nát xiêu vẹo trong gió lạnh. Dưới chân các bậc thang đá dẫn lên phế tích nhà thờ đá cổ thời Pháp, bóng tối đặc quánh lại dưới tán của một cây sa mu cổ thụ ngàn năm tuổi.
“Bà Mỷ?” Nam cất tiếng gọi khẽ, mắt quét nhanh qua từng góc khuất của những bức tường đá đổ nát. Bàn tay phải của anh đặt hờ trên báng khẩu súng bắn đạn cao su phòng thân giấu dưới vạt áo khoác.
Từ sau một góc tường nứt toác phủ đầy rêu đen, một bóng người nhỏ bé, còng rạp từ từ nhô ra.
Bà Ma Thị Mỷ xuất hiện như một bóng ma bước ra từ quá khứ. Người phụ nữ H'Mông sáu mươi tuổi nhưng gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như vỏ cây rừng bị sét đánh, đôi mắt đục mờ vì sương gió và chứng đục thủy tinh thể co rúm lại sau chiếc khăn trùm đầu bằng vải lanh chàm sờn rách. Cả cơ thể bà run lên bần bật trong bộ quần áo dân tộc mỏng manh ướt đẫm hơi sương.
“Thầy... thầy Nam...”
Vy vội vàng bước tới, cởi chiếc khăn len quàng cổ dày của mình quấn quanh đôi vai gầy guộc của người đàn bà già nua: “Bà ơi, bà ngồi xuống đây. Uống ngụm trà nóng này đi.” Vy rút chiếc bình giữ nhiệt trong ba lô đưa cho bà.
Bà Mỷ run rẩy đón lấy chiếc bình, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì giá rét bấu chặt vào vỏ kim loại ấm áp như bấu vào chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa biển băng. Nhưng bà không uống. Đôi mắt mờ đục của bà đảo quanh những bức tường đá đổ nát với sự kinh hoàng tột độ, như thể bóng tối xung quanh đang chực chờ nuốt chửng lấy bà.
“Không kịp nữa rồi... Ác quỷ đã thức dậy rồi thầy Nam ơi...” Bà Mỷ th* d*c, từng làn khói trắng phả ra từ khuôn miệng móm mém. “Rừng thiêng không giữ được nó nữa rồi... Lời nguyền mười năm trước trên đèo Ô Quy Hồ... nó đang quay lại ăn thịt từng đứa trẻ biết kéo đàn...”
“Bà Mỷ, hãy nhìn cháu,” Nam quỳ một chân xuống nền đá dăm lạnh buốt, giữ chặt lấy hai cánh tay khẳng khiu của bà lão, ánh mắt anh nhìn thẳng vào đôi mắt đang hoảng loạn của bà, truyền vào đó sự kiên định thép. “Cháu là Phan Nhật Nam. Mười năm trước cháu đã không thể cứu được cô Lò Thị Sim. Cháu nợ vùng đất này, nợ những người như bà một món nợ máu. Hôm nay cháu ở đây để kết thúc nó. Cháu cần bà giúp. Bà đã thấy gì ở Hang Gió?”
Nghe đến cái tên Lò Thị Sim, cơ thể bà Mỷ khựng lại. Một giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo của bà, lăn xuống gò má xám ngắt rồi đóng băng lại lưng chừng.
Bà run rẩy thò bàn tay khẳng khiu vào sâu trong lớp áo chàm rách nát trước ngực, lôi ra một gói nhỏ được bọc kín bằng nhiều lớp lá chuối khô đã ngả màu nâu sẫm.
“Sáng sớm hôm qua... trước khi tuyết rơi dày...” Bà Mỷ thì thào, giọng nói chìm nghỉm trong tiếng gió rít qua các kẽ đá. “Tôi đi tìm con dê lạc lên sườn núi phía trên thác Bạc... chỗ có cái Hang Gió mà người Pháp ngày xưa dùng để thông khí cho trạm phát điện ngầm... Cửa hang bị rào sắt khóa kín mấy chục năm nay bỗng nhiên bị cắt đứt xích... Tôi nghe thấy tiếng đàn... tiếng đàn vĩ cầm ai oán như tiếng khóc của ma rừng vang lên từ sâu hun hút dưới lòng đá...”
Nam và Vy đưa mắt nhìn nhau. Một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng cả hai người. Tiếng đàn từ dưới lòng đất.
“Tôi sợ quá, trốn sau bụi cây rậm,” bà Mỷ tiếp tục kể, hơi thở dồn dập hơn. “Tôi thấy một bóng người từ cửa hang bước ra... Hắn đi ủng da cao cổ, vứt thứ này vào bụi gai rậm rồi lên một chiếc xe hơi màu đen bóng lướt đi trong sương mù... Sau khi hắn đi, tôi mới dám bò lại nhặt lấy...”
Bà Mỷ run rẩy mở từng lớp lá chuối khô ra.
Bên trong là một mảnh vải lanh thô màu trắng ngà, kích thước chừng ba mươi nhân bốn mươi phân, đã bị xé rách nham nhở ở các mép. Mảnh vải bốc lên một mùi hương kỳ dị—sự pha trộn nồng nặc giữa mùi sáp ong, mùi dầu hạt lanh và một mùi hương gỗ ngọt ngào nhưng lạnh lẽo, hoàn toàn tương đồng với mùi nhựa thông mà Nam vừa phân tích tại phòng thí nghiệm.
Nam cẩn thận đeo găng tay, đón lấy mảnh vải lanh tẩm sáp từ tay bà lão.
Dưới ánh đèn pin của Vy soi rọi, Nam nhận ra mảnh vải này không phải là giẻ lau thông thường. Nó là lớp vải lót bảo vệ bên trong hộp đàn vĩ cầm cổ điển. Trên bề mặt mảnh vải, ngoài những vệt bụi nhựa thông màu cam đỏ bám dày thành từng mảng, còn có một vết máu khô màu nâu sẫm hình dấu vân tay kéo lê—dấu vết của sự kháng cự tuyệt vọng.
Nhưng điều khiến đồng tử Nam co thắt lại dữ dội nhất nằm ở góc dưới của mảnh vải.
Tại đó, được thêu tỉ mỉ bằng chỉ tơ tằm màu xám bạc theo lối chữ lồng quý tộc, là biểu tượng một chiếc vĩ cầm lồng trong một vòng xoáy trôn ốc hình vỏ ốc—huy hiệu độc quyền của Quỹ Từ thiện Nghệ thuật Vọng Âm.
Vật chứng trực tiếp. Cầu nối vật lý giữa xưởng ngầm của kẻ thủ ác và chiếc mặt nạ danh giá của Trịnh Khắc Kiên cuối cùng đã lộ diện.
“Chính là nó...” Vy khẽ thốt lên, ngón tay cô chạm vào biểu tượng thêu chỉ bạc, lồng ngực đập liên hồi như muốn nổ tung. “Đây là vải lót của hộp đàn mà Kiên đã dùng để dụ dỗ Lan Anh!”
Nam nắm chặt mảnh vải trong tay, cảm nhận được cái lạnh thấu xương của sự thật đang dần hiển hiện. Căn hầm ngầm bên dưới Hang Gió ở thác Bạc chính là Trạm Nguồn—nơi mà bản sonate chết chóc đang được dàn dựng, nơi Lan Anh đang đếm từng giây sự sống trong bóng tối.
Anh ngẩng đầu lên, định nói lời cảm ơn và bảo Vy tìm cách đưa bà Mỷ đến một nơi trú ẩn an toàn tuyệt đối.
Nhưng trước khi Nam kịp mở lời, bàn tay xương xẩu, lạnh ngắt như băng của bà Ma Thị Mỷ bỗng chụp lấy cổ tay anh. Lực siết của người đàn bà H'Mông già nua mạnh đến mức mười đầu ngón tay găm chặt vào lớp da thuộc của găng tay Nam, khiến anh giật mình nhìn lại.
Khuôn mặt bà Mỷ co rúm lại trong một cơn kinh hoàng tột độ, đôi mắt đục mờ trợn trừng nhìn vào khoảng không vô định phía sau lưng Nam, nơi màn sương mù Sa Pa đang cuộn trào như những đợt sóng ma quái bao vây lấy phế tích nhà thờ đá.
Bà Mỷ run rẩy siết chặt tay Nam, giọng khản đặc trong sương mù:
“Mười năm trước, kẻ có đôi mắt ác quỷ từng bước ra từ cửa hầm đó... và hôm qua, chính người đàn ông mặc âu phục dạ xám của Quỹ Vọng Âm đã quay trở lại.”