Xuyên không thập niên 70

Chương 42: Guồng chân giữ hạt

Mùi rơm ướt ngai ngái quyện với khói trấu nồng nặc bỗng chốc như đặc quánh lại, nghẹn ứ nơi cuống họng Trần Bình.

Trước mắt anh, chị Đượm nằm bất động trên nền đất nện, vạt áo nâu sồng dính bết những vụn trấu vàng óng. Tiếng bát sành vỡ tan tành vẫn như còn dội lại bên tai, gãy vụn giữa tiếng sấm mùa đông rền vang ngoài bãi sông Đáy. Cả gian kho Đội 3 vừa mới đây còn rộn rã tiếng cười, nay chìm nghỉm vào một khoảng lặng chết chóc. Hơn ba mươi con người đứng chôn chân, những chiếc kim khâu bao tải bằng đồng kẹp hờ giữa những ngón tay run rẩy, ánh mắt dại đi vì hoang mang.

Đồn Pò Hèn bị san phẳng. Toàn bộ phân đội bến phà mất liên lạc.

Bình siết chặt hai nắm đấm, khớp xương kêu khẽ từng tiếng giòn khô. Từng là một người lính lăn lộn qua những cánh rừng khộp rực lửa miền Tây Nam, anh hiểu rõ hơn ai hết cái cụm từ "không còn ai liên lạc được nữa" cay đắng và khốc liệt đến mức nào. Nhưng anh cũng hiểu, nếu lúc này người chỉ huy dao động dù chỉ một giây, toàn bộ gian kho này sẽ sụp đổ như một bờ đê cát lở.

“U Mẫn! Chị Thoa!” Giọng Bình vang lên, trầm đanh và dứt khoát như một khẩu lệnh thép giữa chiến hào, xé toạc bầu không khí đông cứng. “Hai người đỡ chị Đượm vào gian buồng trong, giã ngay một nhánh gừng già hòa nước nóng với tí muối hạt cho chị ấy uống, tuyệt đối không được để chị ấy nhiễm lạnh! Chú Hai, lấy chai dầu tràm của tôi bôi vào hai thái dương và nhân trung cho chị ấy!”

Hai người phụ nữ luống cuống dạ ran, vội vàng xốc nách chị Đượm đưa vào góc buồng đệm rơm khô.

Bình quay ngoắt lại. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát vẫn ngồi bệt trên bao thóc, hai bàn tay thô ráp bưng lấy mặt, mái tóc hoa râm rung lên bần bật. Chiếc bút máy Kim Tinh kẹp ở túi áo tuột ra tự bao giờ, lăn lóc dưới đất. Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, từng kinh qua bao bận đạn bom phá hoại của giặc Mỹ, lúc này dường như bị đè bẹp bởi hai chữ "hai mươi tư tiếng".

“Năm mươi tấn... Trước mười hai giờ trưa mai...” Ông Khoát lẩm bẩm, giọng khản đặc như tiếng cối xay cạn thóc. “Đường đê lầy lội mười mấy cây số... Còn gần bốn mươi tấn thóc đang ủ nóng... Làm sao kịp? Trời ơi, làm sao mà kịp được đây Bình ơi! Chậm tàu thì bộ đội ngoài biên ải ăn bằng cái gì?”

Một vài xã viên bắt đầu sụt sùi. Tiếng khóc thút thít của mấy cô gái trẻ Đội 1 len lỏi giữa tiếng gió hú qua khe cửa kho. Sự tuyệt vọng lây lan nhanh như đốm lửa bén vào rơm khô.

Bình bước tới, cúi nhặt chiếc bút máy Kim Tinh lên, cẩn thận lau sạch bụi trấu rồi đặt lại vào tay người chủ nhiệm già. Khi anh toan mở lời, một bàn tay nhỏ nhắn nhưng ấm áp đã nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay anh.

Bình giật mình quay sang. Hoài An đang đứng đó.

Gương mặt cô tái nhợt vì cơn ốm nghén và chuỗi ngày thức trắng bên lò sấy, quầng mắt thâm lại, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt sáng ngời ấy lại là một sự bình thản đến lạ lùng. Cô đứng cạnh anh, mảnh khảnh như một nhành lau ven đê trước gió bão, nhưng sống lưng thẳng tắp.

Bình cảm nhận được hơi ấm quen thuộc truyền qua lớp vải áo trấn thủ, nơi lồng ngực anh nhói lên một nhịp xót xa. Vợ anh đang mang trong mình giọt máu của anh, mới chưa đầy hai tháng. Mầm sống bé bỏng ấy đáng lẽ phải được nghỉ ngơi trên chiếc giường ấm đệm rơm, được bồi dưỡng từng bát cháo hoa trứng gà, vậy mà giờ đây cô đang phải cùng anh gánh cả một núi quân lương ngút ngàn.

An nhìn thẳng vào mắt Bình, khẽ gật đầu, rồi quay sang nhìn toàn thể bà con xã viên. Giọng cô không lớn, nhưng rành rọt, đượm một sức truyền cảm kỳ lạ:

“Thưa bác Khoát! Thưa các bác, các cô chú và anh chị em!”

Mọi tiếng xì xào, than khóc bỗng chốc lắng xuống. Mọi cặp mắt đều dồn về phía người nữ kỹ sư trẻ tuổi.

“Anh Cán và các anh bộ đội ở Pò Hèn, ở Lạng Sơn, ở khắp dải biên cương phía Bắc không lùi bước trước đạn pháo giặc. Họ ngã xuống hay còn sống, súng vẫn đang nổ bên tai họ từng phút từng giây! Tin tức mất liên lạc không có nghĩa là anh Cán đã hy sinh. Chiến sự ác liệt, đứt đường dây hữu tuyến là chuyện thường tình nơi trận mạc. Nhưng nếu chúng ta ở đây buông xuôi, nếu năm mươi tấn gạo này không đến được ga Thường Tín trước mười hai giờ trưa mai, đoàn tàu quân nhu sẽ lăn bánh rỗng toa! Đồng đội của anh Cán, của anh Nam, của anh Bình ngoài ấy sẽ phải nhịn đói để cắn răng giữ từng tấc đất!”

An hít một hơi sâu, đôi gò má rám nắng khẽ ửng hồng vì xúc động:

“Chúng ta có một lò sấy trấu đã vận hành thông suốt. Chúng ta có năm mươi thanh niên dân quân khỏe mạnh, có toàn bộ bà con Đội 1 và Đội 3 một lòng vì tiền tuyến. Nước mắt lúc này không đổi được hạt gạo nào cho bộ đội. Muốn cứu anh Cán, muốn tiếp sức cho chiến trường, cách duy nhất là guồng chân đạp lò, vung tay quạt thóc! Từng hạt thóc sạch giao đi trưa mai chính là từng viên đạn bắn trả quân thù!”

Lời nói của An như một luồng điện giáng thẳng vào tâm can mọi người. Ông Khoát ngẩng phắt đầu dậy, quệt mạnh mu bàn tay ngang khóe mắt đỏ hoe. Chiếc bút máy được ông cắm phập lại vào túi áo ngực.

“Đúng! Cô An nói chí phải!” Ông Khoát đứng phắt dậy, lồng ngực phập phồng. “Tôi hồ đồ quá rồi! Cả đời Bùi Đắc Khoát này chưa từng lùi bước trước giặc Mỹ, lẽ nào lại gục ngã trước ba mươi tấn thóc? Bình! Đồng chí là Chỉ huy trưởng, đồng chí ra lệnh đi! Tôi giao toàn bộ quyền điều hành nhân lực của hai đội cho đồng chí!”

Bình nhìn An, ánh mắt hai người giao nhau trong khoảnh khắc. Trong lòng anh trào dâng một niềm kiêu hãnh và biết ơn vô hạn đối với người phụ nữ đồng cam cộng khổ cùng mình. Anh quay lại đối diện với đám đông, tác phong của một người lính dạn dày trận mạc lập tức bao trùm toàn bộ gian kho.

“Các đồng chí nghe rõ đây!” Bình cất giọng đanh gọn. “Huyện đội giao chỉ tiêu thời chiến, chúng ta chấp hành theo kỷ luật thời chiến! Tôi chia lực lượng làm ba mũi giáp công: Mũi thứ nhất gồm hai mươi dân quân khỏe mạnh, tiếp tục thay phiên nhau đạp quạt thổi nhiệt lò sấy trấu. Nhiệt độ buồng sấy phải giữ vững ở mức năm mươi lăm đến sáu mươi độ C, sấy đảo tầng liên tục theo phương pháp của cô An, dứt khoát giải quyết xong ba mươi tấn thóc ướt còn lại trước bốn giờ sáng!”

“Rõ!” Hai mươi thanh niên đồng thanh hô lớn.

“Mũi thứ hai gồm các mẹ, các chị và tổ thợ thủ công, chịu trách nhiệm chuẩn bị bao tải, lá chuối hột khô lót đáy và kim khâu. Bao thóc ra lò đến đâu, đóng gói niêm phong đến đấy!”

Bình thoáng ngập ngừng, nhìn về phía góc kho nơi đống thóc sấy mẻ đầu tiên đang bốc khói nghi ngút:

“Nhưng cái khó nhất lúc này... là khâu làm sạch. Thóc sau khi sấy ra còn lẫn trấu vỡ, mày trấu và hạt lép bám bụi tro. Muốn đạt chuẩn loại A giao cho Quân khu, bắt buộc phải quạt sạch tinh tươm. Nhưng kho chỉ có bốn chiếc quạt hòm bằng gỗ q*** t** cũ kỹ, năng suất mỗi giờ không quá hai tạ. Nếu quạt thủ công, ba mươi tấn thóc này phải mất trọn ba ngày ba đêm!”

Cả gian kho lại thoáng chùng xuống. Đó chính là cái nút thắt hiểm nghèo nhất. Lò sấy có thể chạy hết công suất, nhưng thóc sấy xong mà đầy trấu lép thì tàu quân nhu cũng dứt khoát từ chối tiếp nhận.

Giữa lúc Bình đang nhíu chặt đôi mày tính toán, An đã bước nhanh về phía góc hiên kho, nơi đặt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ của đội trưởng đã gãy một bên pê-đan, khung xe han rỉ tróc sơn lơ thơ.

“Anh Bình! Em đã tính đến việc này rồi.” An ngồi xổm xuống bên chiếc xe đạp, ngón tay thoăn thoắt chỉ vào bộ trục giữa và đĩa xích. “Chúng ta không dùng quạt hòm thủ công nữa. Ta sẽ biến chiếc xe đạp này thành máy quạt ly tâm hai tầng cánh!”

Bình bước nhanh lại gần, cúi người nhìn theo tay vợ: “Ý em là tận dụng tỷ số truyền của đĩa xích xe đạp?”

“Đúng thế anh!” Đôi mắt An sáng rực lên, xua tan đi vẻ mệt mỏi. “Một vòng đạp của đĩa xích lớn xe đạp Thống Nhất có thể làm líp sau quay tới gần ba vòng. Nếu ta nối trục líp sau với một trục cánh quạt bằng gỗ hoặc tôn, gắn trong một buồng gió hình ốc xoắn, tốc độ gió sẽ tăng gấp năm lần so với quạt hòm q*** t**! Hơn nữa, ta sẽ làm hai cửa gió đối lưu: cửa trên thổi bay mày trấu nhẹ và bụi tro ra ngoài bạt chắn; cửa dưới dùng luồng gió thứ cấp để tách hạt lửng ra một máng riêng, hạt mẩy nặng nhất sẽ tự động rơi thẳng xuống máng dẫn vào bao tải! Một người ngồi đạp nhẹ nhàng bằng hai chân có thể quạt sạch năm tạ thóc chỉ trong hai mươi phút!”

Bình nghe mà lồng ngực đập thình thình. Tư duy cơ khí của An sắc sảo và thực tế đến mức khiến một người lính công binh như anh cũng phải bàng hoàng khâm phục. Không chần chừ một tích tắc, Bình quay ngoắt lại gọi giật giọng:

“Bác thợ rèn Sáu! Chú Thược thợ mộc! Đem cưa sắt, đe búa và kìm cộng lực lại đây ngay! Lấy cho tôi hai chiếc thùng phuy sắt rỗng đựng dầu hỏa cũ ở sau trạm máy bơm, với mấy tấm cót ép!”

Chỉ trong vòng mười lăm phút, một góc sân kho Đội 3 đã biến thành một công xưởng dã chiến ngập tràn ánh lửa và tiếng kim loại va đập chan chát. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ từng chi tiết của An, chú Thược thoăn thoắt đo đạc, dùng đục gỗ bổ đôi một thân gỗ xoan khô để làm trục quạt, gọt rãnh định vị. Bác Sáu thợ rèn vung búa quai đập bẹp các nắp thùng phuy mỏng, dùng kéo cắt tôn gò thành bốn cánh quạt uốn cong theo góc nghiêng ba mươi độ để tối ưu hóa sức hút ly tâm.

Bình tự tay dùng cờ-lê tháo bỏ bánh sau của chiếc xe đạp Thống Nhất, giữ lại nguyên vẹn cụm khung, đĩa xích, líp và bàn đạp. Anh dùng đinh đỉa và dây kẽm cỡ lớn cố định chặt gác-ba-ga và cọc yên xe vào hai cây cột cái bằng gỗ lim của gian kho, tạo thành một bệ máy vững như bàn thạch. Cụm trục quạt được hàn nối trực tiếp với trục líp xe đạp qua một khớp nối bằng ống tuýp nước lót cao su ruột xe hỏng để chống rung giật.

“Xong rồi! Xong bộ buồng gió ốc xoắn rồi!” Chú Thược reo lên, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng trên gương mặt ám khói. Buồng quạt bằng cót ép nẹp tôn sáng loáng đã được ốp khít trùm lên cụm cánh quạt, phía trên đặt một chiếc phễu tôn lớn có tấm chắn điều chỉnh lưu lượng thóc rơi.

“Để tôi thử cho!” Chiến sĩ dân quân trẻ tên Duẩn hăm hở nhảy tót lên yên xe đạp.

Hai bàn chân Duẩn đặt lên pê-đan, bắt đầu guồng nhịp nhàng. Xích líp rào rào chuyển động. Ban đầu còn hơi rít vì dầu mỡ khô, nhưng khi Bình tra thêm vài giọt dầu nhớt thừa, trục quay bắt đầu rú lên một âm thanh xé gió cực kỳ êm ái: Vù... vù... vù...!

Một luồng gió xoáy cực mạnh thốc thẳng ra từ miệng buồng gió, làm tấm bạt dứa dựng cách đó bốn mét bay phần phật!

“Tuyệt vời quá!” Ông Khoát vỗ đùi đánh đét một cái, cười toát cả mồ hôi. “Gió khỏe thế này thì trấu nào chịu nổi!”

“Đổ thóc vào thử nghiệm!” Bình hét lớn át tiếng gió rít.

Hai thanh niên lập tức vác một bao thóc sấy còn nóng hổi trút vào phễu nạp. Dưới sự điều chỉnh cần gạt của An, dòng thóc vàng ươm tuôn đều đặn thành một màng mỏng rơi qua luồng gió ly tâm.

Một cảnh tượng kỳ diệu diễn ra trước mắt toàn thể bà con xã viên!

Mày trấu, vụn rơm và bụi bặm vừa rơi xuống lập tức bị luồng gió thứ nhất bốc bạt bay xa tít tắp, rơi gọn gàng vào trong quây bạt chắn bụi. Hạt lửng, hạt lép nhẹ hơn bị đẩy dạt vào một máng tôn nghiêng bên cạnh, chảy rào rào thành đống nhỏ. Trong khi đó, những hạt thóc chắc mẩy, nặng hạt, vàng ruộm như hạt ngọc thì lao thẳng xuống phễu thu phía dưới, trút vào bao tải đay nhanh như thác đổ!

Không một hạt bụi bám lại! Thóc sạch bóng, trơn láng và khô cong!

Chưa đầy bốn phút, trọn vẹn một tạ thóc đã được làm sạch tinh tươm, không sót lại dù chỉ một vụn mày trấu!

“Trời phật ơi... Thần kỳ quá!” Một bà cụ Đội 1 chắp tay xuýt xoa. “Bằng cả chục người quạt hòm còng cả lưng suốt nửa buổi sáng!”

Bình đứng bên cạnh bệ máy, nhìn dòng thác thóc vàng óng tuôn chảy rào rào dưới ánh đèn măng-xông, rồi nhìn sang An. Cô đang mỉm cười, nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả gương mặt hao gầy. Nhưng Bình tinh ý nhận ra một bàn tay cô đang khẽ ấn vào bụng dưới, chân hơi run lên vì đứng lâu.

Bình bước vội tới, không màng đến ánh mắt của hàng chục người xung quanh, anh vòng tay ôm lấy eo vợ, nhẹ nhàng kéo cô ngồi xuống chiếc ghế đẩu lót bao tải êm cạnh vách kho. Anh rút chiếc khăn dù hoa cài bên hông, cẩn thận chấm những giọt mồ hôi li ti vương trên trán và sống mũi thon thả của cô.

“Em ngồi nghỉ ở đây chỉ huy thôi. Nghe anh, không được cử động mạnh nữa.” Bình thì thầm, giọng trầm xuống đầy tha thiết và kiên quyết. “Con nó đang nhắc nhở em đấy. Mọi việc chân tay, đã có anh và anh em gánh vác.”

An ngước nhìn chồng, ánh mắt đong đầy sự tin cậy và dịu dàng. Cô khẽ gật đầu, nắm lấy bàn tay thô ráp của Bình:

“Em không sao đâu anh. Chỉ hơi mỏi lưng một chút thôi. Nhưng anh nhớ nhắc mọi người, tốc độ quạt tuy nhanh nhưng tuyệt đối không được lơ là khâu kiểm định độ ẩm. Quân nhu ngoài mặt trận đi tàu hỏa qua đèo dốc sương muối, nếu thóc còn ẩm quá mười ba phần trăm thì chỉ ba ngày là bốc men mốc thối, công sức chúng ta coi như đổ xuống sông xuống biển!”

“Anh hiểu.” Bình gật đầu. “Nhưng trong kho không có ẩm kế, làm thế nào để bà con tự kiểm tra chính xác từng mẻ?”

An khẽ mỉm cười, với tay lấy một chiếc bát sành mộc trên bàn chia công điểm, giải thích cặn kẽ:“Có hai cách kết hợp, dân gian mà chuẩn xác như máy móc, anh truyền đạt ngay cho các tổ: Cách thứ nhất, lấy ngẫu nhiên một vốc thóc giữa mẻ sấy, chọn năm hạt cắn thử bằng hai răng cửa. Nếu nghe tiếng 'tách' đanh gọn, vết cắn sắc lẹm như mảnh sứ vỡ, ruột gạo trắng trong không dính răng thì độ ẩm đã đạt dưới mười bốn phần trăm. Nhưng để chắc chắn dưới mười ba phần trăm đạt chuẩn loại A, ta dùng cách thứ hai: Lấy một nắm thóc sấy đã nguội bỏ vào bát sành, đặt vào giữa một cục vôi sống khô bằng đầu ngón tay cái, rồi úp chặt một chiếc đĩa lên miệng bát trong vòng mười phút. Nếu vôi sống không hề rạn nứt, không tỏa nhiệt làm nóng đáy bát và thành bát không đọng một hạt sương ẩm nào, chứng tỏ độ ẩm không khí trong khối thóc đã tuyệt đối an toàn!”

Bình nghe mà sáng bừng cả mắt. Anh lập tức đứng dậy, phổ biến ngay hai quy tắc kiểm định của An cho các tổ trưởng.

Đêm ấy, kho Đội 3 xã An Hòa không một ai chợp mắt.

Một đêm trắng lịch sử mà mãi về sau này, những người dân nơi bãi sông Đáy vẫn còn nhắc lại với niềm tự hào khôn nguôi. Dưới bóng tối mịt mùng của vùng đồng bằng Bắc Bộ thời chiến, gian kho hợp tác rực sáng bừng bừng bởi hàng chục ngọn đuốc bùi nhùi quấn giẻ tẩm dầu hỏa cắm dọc bờ rào và ba chiếc đèn măng-xông treo lơ lửng trên xà nhà.

Tiếng quạt thóc ly tâm rào rào như tiếng vó ngựa xung trận. Hết Duẩn lại đến Thược, rồi đến các chiến sĩ dân quân khác thay nhau nhảy lên yên xe Thống Nhất. Đôi chân họ thoăn thoắt guồng bàn đạp, mồ hôi tuôn như tắm, áo cộc lưng ướt sũng dù ngoài trời gió bấc thổi hun hút qua kẽ nứa.

Cứ mỗi mẻ thóc sấy ra lò, Bình lại là người đích thân bốc vốc đầu tiên. Anh đưa lên miệng cắn thử: Tách! Một âm thanh giòn tan, sắc lẹm vang lên bên tai. Anh thả nắm thóc vào chiếc bát sành tráng vôi sống của An, hồi hộp chờ đợi. Mười phút trôi qua, cục vôi sống vẫn trơ trơ, khô khốc và lạnh tanh.

“Đạt chuẩn! Độ ẩm dưới mười hai phẩy năm phần trăm!” Bình hô lớn. “Đóng bao!”

Ở khu vực đóng gói, không khí khẩn trương không kém gì mặt trận. Phụ nữ Đội 1 và Đội 3 ngồi san sát bên nhau. Từng chiếc bao tải đay dày cộp được lót cẩn thận một lớp lá chuối hột khô đã hơ qua lửa cho dẻo dai. Lớp lá chuối này chính là tấm áo giáp chống ẩm tuyệt hảo của nhà nông, ngăn không cho hơi nước từ sàn tàu hay sương đêm thẩm thấu vào ruột bao.

Thóc được đong đầy đúng năm mươi ki-lô-gam một bao. Những chiếc kim khâu đồng to bản xỏ sợi đay đôi thoăn thoắt lướt qua miệng bao theo đường khâu xương cá kép, chắc chắn đến mức dẫu có quăng quật từ trên xe tải xuống đất cũng không thể bục chỉ.

Khoảng hai giờ sáng, cánh cửa buồng nghỉ khẽ kẹt mở.

Chị Đượm bước ra. Gương mặt chị vẫn còn trắng bệch, đôi mắt sưng mọng ầng ậc nước, trên trán còn vương vết dầu tràm cay nồng. Nhìn thấy chị, gian kho bỗng chốc chùng lại, tiếng cười nói tắt ngấm.

An vội vã đứng dậy toan bước tới, nhưng chị Đượm đã xua tay. Chị bước chầm chậm đến bên chiếc ghế đẩu, nhặt lấy một chiếc kim bao tải và cuộn dây đay.

“Để tao làm...” Giọng chị Đượm khản đặc, run rẩy nhưng rành rọt đến đau lòng. “Tao không ngất nữa đâu... Tao phải khâu bao tải cho anh Cán... Anh Cán thích ăn cơm gạo mới đồng chiêm mình lắm... Tao khâu thật chặt, để hạt gạo đến tay anh ấy không bị ẩm, không bị mốc...”

Nói rồi, chị cắm cúi luồn sợi đay qua lỗ kim, những ngón tay thô ráp đâm phập mũi kim qua lớp bao đay dầy cộp. Nước mắt chị lã chã rơi xuống miệng bao thóc, nhưng từng đường kim mũi chỉ lại chuẩn xác và siết chặt hơn bất kỳ ai.

An nhìn bạn, khóe mắt cay xè. Cô bước lại gần, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh chị Đượm, tay thoăn thoắt giữ mép bao cho bạn khâu. Bình đứng từ xa quan sát hai người phụ nữ, ngực anh thắt lại một nỗi niềm xúc động khôn tả. Đó chính là hậu phương. Đó chính là cội nguồn sức mạnh bất diệt của mảnh đất này, nơi mà nỗi đau không làm người ta gục ngã, mà kết tinh lại thành từng đường kim, mũi chỉ, thành từng cân thóc chi viện cho tiền tuyến.

Đến bốn giờ ba mươi phút sáng, mẻ thóc cuối cùng rời khỏi buồng sấy trấu đối lưu.

Ngọn lửa trong lò trấu dần tắt, chỉ còn lại lớp tro xám ấm áp. Chiếc xe đạp Thống Nhất sau một đêm guồng chạy hàng vạn vòng đã mòn vẹt cả xích líp, khung xe nóng ran. Nhưng thành quả sờ sờ ngay trước mắt: toàn bộ bốn mươi tấn thóc tồn đọng đã được làm sạch bong, khô giòn, đóng gọn gàng trong tám trăm chiếc bao tải đay thẳng tắp.

Cộng với mười tấn thóc của mẻ đầu tiên, đúng tròn một nghìn bao tải, nặng trọn vẹn năm mươi tấn lương thực loại A, được xếp ngay ngắn thành từng khối vuông vức như những bức tường thành vững chãi trong gian kho rộng lớn. Trên mỗi miệng bao, ông Khoát đích thân cầm con dấu gỗ chấm mực đỏ tươi, đóng phập dấu niêm phong: “QUÂN LƯƠNG XÃ AN HÒA - CHI VIỆN BIÊN CƯƠNG”.

Cả gian kho vang lên một tiếng thở phào tập thể, rồi vỡ òa trong những cái ôm siết chặt. Mọi người nhìn nhau, mặt mũi ai nấy đều lem luốc nhọ nồi và bụi trấu, mắt trũng sâu vì thiếu ngủ, nhưng nụ cười thì rạng ngời như vừa lập nên một chiến công phi thường. Họ đã hoàn thành khối lượng công việc của ba ngày đêm chỉ trong vỏn vẹn chưa đầy mười tám tiếng đồng hồ!

Bình bước ra sân kho, ngửa mặt đón làn gió sớm lành lạnh từ sông Đáy thổi vào. Lồng ngực anh căng tràn không khí trong lành, xua tan đi sự ngột ngạt của khói trấu. Anh nhìn đồng hồ: năm giờ mười lăm phút sáng. Họ đã sẵn sàng đón đoàn xe vận tải, hoàn toàn chủ động trước mốc mười hai giờ trưa.

Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang.

Khoảng sáu giờ sáng, khi rặng tre đầu làng vừa hé lộ trong màn sương mù dày đặc giăng kín mặt sông Đáy như khói súng, từ phía đường liên huyện bỗng vang lên tiếng gầm rú đanh thép của động cơ xe tải hạng nặng.

Ba chiếc xe tải quân sự Zil-130 màu xanh lá cây đậm của Cục Hậu cần Quân khu 3, phủ bạt kín mít, lầm lũi rẽ sương bò vào sân kho hợp tác.

Cửa chiếc xe đi đầu bật mở. Một viên sĩ quan quân hàm Thượng úy nhảy xuống. Anh ta trạc ba lăm tuổi, khuôn mặt xương xẩu, hốc hác, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ quạch vì nhiều đêm thức trắng trên cabin. Trên hông anh ta lủng lẳng một bao súng ngắn K54, tay lăm lăm chiếc đồng hồ bấm giây quân sự.

“Đồng chí nào là Chủ nhiệm? Đồng chí nào là Chỉ huy trưởng Dân quân?” Viên thượng úy bước thoăn thoắt tới, giọng nói gấp gáp như súng liên thanh.

“Tôi là Bùi Đắc Khoát, Chủ nhiệm! Còn đây là đồng chí Trần Bình, Chỉ huy trưởng!” Ông Khoát vội bước ra đón.

Viên thượng úy giơ chiếc đồng hồ lên trước mặt hai người:

“Tôi là Thượng úy Vũ, Trưởng đoàn xe áp tải số 4! Tình hình ga Thường Tín đang khẩn cấp từng phút! Tuyến đường sắt phía Bắc vừa bị máy bay do thám của địch chỉ điểm, Bộ Tư lệnh yêu cầu đoàn tàu quân nhu phải nhổ neo ngay khi gom đủ hàng, không thể đợi đến mười hai giờ trưa được nữa! Chúng tôi chỉ có đúng bốn mươi lăm phút để bốc hàng lên xe! Có đủ năm mươi tấn không? Có đạt chuẩn khô sạch không?”

“Báo cáo Thượng úy, đủ một nghìn bao, tròn năm mươi tấn thóc loại A đã niêm phong chống ẩm!” Bình bước lên một bước, đứng nghiêm chào theo điều lệnh quân đội. “Mời đồng chí cho kiểm tra ngẫu nhiên bất kỳ bao nào!”

Thượng úy Vũ thoáng sững sờ trước tác phong chững chạc của Bình. Anh ta lập tức rút dao găm, rạch thử mép một bao thóc gần nhất, bốc một vốc đưa lên mũi ngửi rồi cắn thử.

Tách!

Âm thanh đanh giòn quen thuộc lại vang lên. Vị sĩ quan hậu cần thở hắt ra một hơi dài, nét mặt căng thẳng dường như giãn ra được đôi phần:

“Tốt lắm! Thóc khô kiệt, không một hạt lép! Xã An Hòa các đồng chí giỏi lắm! Cho anh em bốc hàng lên xe ngay lập tức! Nhanh lên, từng giây lúc này quý hơn vàng!”

Không cần ai phải bảo ai, năm mươi thanh niên dân quân cùng toàn bộ người dân lập tức ùa vào kho. Từng bao thóc năm mươi ki-lô-gam được chuyền tay nhau thoăn thoắt. Bình tự mình vác một bao, bước chân tuy hơi khập khiễng nhẹ nhưng thoăn thoắt vững vàng, cùng đồng đội chất từng tầng bao tải lên sàn ba chiếc xe Zil-130.

Bốn mươi phút trôi qua trong tiếng hò reo, tiếng bước chân rậm rịch và tiếng bạt xe phần phật.

Bao thóc thứ một nghìn được Bình đích thân quăng gọn gàng lên nóc thùng xe chiếc Zil đi cuối cùng. Những sợi dây thừng to bản lập tức được chằng chéo, siết chặt cố định lấy khối hàng khổng lồ. Ba chiếc xe tải nặng trĩu oằn mình trên những chiếc nhíp thép dày cộp, sẵn sàng nổ máy xuất phát ra đường cái lớn để hướng về ga Thường Tín.

Viên Thượng úy mở cặp da, ký vội vào biên bản giao nhận lương thực rồi bắt chặt lấy tay Bình và ông Khoát:

“Cảm ơn Đảng bộ và nhân dân An Hòa! Tôi sẽ báo cáo thành tích phi thường này lên Bộ Tư lệnh Quân khu!”

Thượng úy Vũ nhảy tót lên buồng lái chiếc xe đi đầu, bấm còi ba tiếng giòn giã báo hiệu xuất phát: Kính... kính... kính!

Đoàn xe gầm rú, nhả khói đen mù mịt, bắt đầu chuyển bánh rời khỏi sân kho, hướng về phía con dốc dẫn lên đê bối sông Đáy để ra đường liên tỉnh.

Bình đứng cạnh An ở cổng kho, khẽ thở phào nhẹ nhõm. Anh đưa tay nắm lấy bàn tay lạnh buốt của vợ, toan cất lời bảo cô về nhà nghỉ ngơi thì bỗng nhiên...

Ầm... ầm... đoàng!

Bầu trời mùa đông vốn dĩ xám xịt bỗng chốc tối sầm lại như mực đổ. Một cơn gió chướng hung hãn từ lòng sông Đáy thốc ngược lên, cuốn theo cát bụi mù mịt. Liền sau đó, không một lời cảnh báo, một trận mưa rào trái mùa xối xả như trút nước bất thần giáng xuống mặt đất!

Mưa mùa đông hiếm khi to như thế, nhưng một khi đã đổ mưa rào thì nước ngập trắng đồng chỉ trong chớp mắt. Nước mưa quất rát mặt người, biến con đường đất đỏ dẫn lên dốc đê bối thành một bãi bùn nhão nhoét, trơn như đổ mỡ.

“Chết dở rồi! Con dốc đê!” Bình thét lên kinh hãi, buông vội tay An.

Cách cổng kho chừng hai trăm mét, nơi chân dốc đê bối sông Đáy có độ dốc đứng gần ba mươi độ, chiếc xe tải Zil-130 đi đầu chở mười lăm tấn thóc vừa bò lên được nửa dốc thì bánh xe bắt đầu trượt khục khục.

Đất phù sa gặp mưa rào lập tức tan rữa ra thành một thứ bùn quánh dẻo quẹt. Đôi bánh kép phía sau của chiếc xe tải hạng nặng quay tít mù trong tuyệt vọng, rít lên những tiếng ken két chói tai, bắn tung tóe những tảng bùn đỏ lòm lên tận ngọn tre ven đường. Nhưng chiếc xe không thể nhích lên dù chỉ một phân!

Ngược lại, sức nặng hàng chục tấn của thân xe và khối quân lương bắt đầu kéo tuột cỗ xe trượt lùi dần xuống chân dốc.

Rầm!

Đuôi xe va mạnh vào bờ ta-luy đất, trượt nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, nửa thân xe lún ngập xuống rãnh bùn sâu hoắm bên mép vực sông Đáy! Hai chiếc xe tải phía sau buộc phải phanh cháy vệt trên bùn nhão, chết đứng thành một hàng dọc, chặn nghẽn hoàn toàn con đường độc đạo dẫn lên mặt đê!

Cánh cửa buồng lái chiếc xe đầu bật tung. Thượng úy Vũ lảo đảo nhảy xuống bùn, nước ngập đến tận đầu gối. Gương mặt anh ta cắt không còn giọt máu, đôi mắt trợn trừng nhìn chiếc xe đang nghiêng ngả như muốn lật úp xuống mép sông.

Viên sĩ quan rút phắt khẩu súng ngắn K54 bên hông ra, bàn tay run lên bần bật vì tuyệt vọng, anh ta ngửa mặt gầm lên giữa màn mưa trắng xóa:

“Đứng bánh rồi! Trời ơi là trời! Mười hai cây số đường lầy... Tàu chỉ còn bốn tiếng nữa là chuyển bánh! Lỡ giờ tàu thì tôi bắn vỡ sọ tôi ra cũng không đền hết tội với mặt trận!”

Bình đứng chôn chân giữa làn mưa lạnh buốt đang quất xối xả vào mặt, tim anh như ngừng đập khi nhìn đoàn xe chở đầy mồ hôi nước mắt của cả làng đang mắc kẹt trong vũng bùn tử địa.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn