Gió bấc cuối mùa thổi ràn rạt qua rặng tre ngà ven sông Đáy, mang theo hơi ẩm nằng nặng của những ngày cuối xuân đất Bắc. Chiếc xe con của đoàn thanh tra tỉnh vừa rồ ga cuốn theo làn bụi mờ mất hút sau rặng xoan đầu làng, để lại khoảng sân đình An Hòa một bầu không khí im phỏng phao đến nghẹt thở.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng chết trân bên gốc đa, chiếc mũ cối kẹp dưới nách đã bẹp rúm từ lúc nào vì bàn tay run rẩy bóp chặt. Mãi đến khi tiếng máy xe tắt hẳn, ông mới lảo đảo bước lại gần vợ chồng Bình, giọng méo xệch:
“Các… các đồng chí dại quá! Một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu trong hai mươi lăm ngày! Cả cái huyện Chương Mỹ này, ngay cả hợp tác xã mây tre Thụy Hương có hai trăm tay thợ lành nghề ăn lương khoán của tỉnh cũng chưa chắc dám nuốt trôi chỉ tiêu ấy! Mùa này là mùa nồm, trời đất thì như trút nước vào ruột mây, phơi ba ngày không ráo một sợi, nan chưa kịp vào khuôn đã mốc xanh mốc đỏ từ trong tủy. Các đồng chí nhận cái này là đặt cổ toàn xã An Hòa vào tròng rồi!”
An nhìn sắc mặt tái mét của vị chủ nhiệm già, trong lòng thấu hiểu nỗi kinh hoàng của ông. Thời bao cấp, trễ hạn một chỉ tiêu ngoại thương không đơn thuần là câu chuyện phạt tiền hay trừ thưởng. Đó là bản án kỷ luật, là sự tắc trách làm tổn hại uy tín quốc tế, và nghiệt ngã nhất là nguy cơ toàn bộ năm tấn phân lân cùng hạn ngạch dầu hỏa thắp sáng của vụ chiêm xuân sẽ bị cắt sạch sành sanh. Không có phân bón thúc đòng, hàng trăm mẫu lúa bãi Soi và đồng chiêm trũng sẽ còi cọc, cái đói tháng ba ngày tám sẽ lại giáng xuống từng mái rạ xơ xác.
Nhưng An không hề bốc đồng khi gật đầu với Bình. Trong đầu cô, từng phương trình hóa sinh và quy trình công nghệ bảo quản lâm sản ngoài gỗ của thế kỷ hai mươi mốt đã bắt đầu vận hành, khớp nối chặt chẽ với những vật liệu rẻ tiền nhất của làng quê.
“Bác Khoát, bác bình tâm lại đã,” An cất tiếng, thanh âm trong trẻo mà vững vàng như đinh đóng cột giữa cơn gió lạnh. “Nếu làm theo cách cũ, phơi nắng nhờ trời, vót nan theo cảm tính thì mười ngày nữa chứ hai mươi lăm ngày chúng ta cũng nắm chắc phần bại. Nhưng Đội 3 dám nhận, nghĩa là đã nhìn ra con đường sống. Việc này không chỉ là cứu chỉ tiêu của xã, mà còn là cơ hội duy nhất để bà con Đội 3 đường hoàng có vật tư, có vải vóc mậu dịch mà không ai còn dám dị nghị nửa lời.”
Bình đứng sừng sững bên cạnh vợ, cánh tay rắn rỏi khẽ đặt lên bờ vai mảnh khảnh của cô như một lời khẳng định thầm lặng. Anh nhìn thẳng vào ông Khoát, giọng trầm đục:
“Chủ nhiệm cứ yên tâm giao quyền cho Đội 3. Tôi lấy danh dự người lính và sinh mạng chính trị của mình ra bảo đảm. Việc đầu tiên bây giờ là phải có nguyên liệu. Toàn bộ mây thô trong kho xã không đủ một phần ba chỉ tiêu, lại là mây tạp. Chiều nay, tôi sẽ dẫn anh em xuôi thuyền ngược sông Đáy lên vùng giáp ranh Ba Thá, Miếu Môn để vét sạch mây bánh tẻ đạt chuẩn.”
Nói là làm, ngay đầu giờ chiều, bến đò An Hòa đã rậm rịch bước chân. Trần Bình tập hợp sáu thanh niên vạm vỡ nhất Đội 3, trong đó có cả anh Vượng thợ mộc khéo tay. Hai chiếc thuyền nan lớn được chằng buộc cẩn thận, chuẩn bị sẵn sào chống, áo tơi lá và đèn bão.
Trước khi thuyền nhổ sào, An kéo Bình ra một góc khuất chân đê, cẩn thận dặn dò:
“Anh Bình, chỉ mua mây bánh tẻ, tuyệt đối không tham mây già hay mây non. Mây non nhiều nước, hàm lượng đường cao, đan lên sẽ teo tóp và sinh nấm mốc rất nhanh. Mây quá già thì xơ cứng, uốn quai sẽ giòn gãy. Anh chọn những dọng mây tròn đều, da bóng màu vàng rơm, gióng dài từ bốn mươi phân trở lên, bẻ thử đầu ngọn thấy dẻo quẹo như sợi gân bò mới lấy. Em cần ít nhất hai tấn mây tươi nguyên liệu.”
Bình chăm chú lắng nghe, ánh mắt dừng lại trên gương mặt lấm tấm vài giọt mưa phùn của vợ. Anh thò tay vào túi áo chấn thủ, lấy ra củ khoai dong nướng bọc trong mảnh lá chuối khô còn âm ấm, dúi vội vào tay An:
“Tôi nhớ rồi. Ở nhà trời trở rét, mình đừng lội nước lâu. Bể vôi cứ để dân quân họ gánh nước tôi đã dặn sẵn. Chậm nhất là chập tối mai thuyền sẽ về tới bến.”
Bàn tay thô ráp của người lính khẽ siết lấy những ngón tay thon thả của An một thoáng rồi buông ra. Anh nhảy phắt xuống mũi thuyền, tiếng sào cắm đánh “sụp” một tiếng dứt khoát vào lòng bùn sông Đáy. Hai con thuyền nan xé màn sương mù mịt mùng, rẽ sóng ngược dòng nước đỏ ngầu phù sa.
*
Suốt hai ngày Bình đi vắng, Hoài An không nghỉ ngơi lấy một khắc. Khó khăn lớn nhất của nghề mây tre đan vụ đông xuân ở miền Bắc chính là hiện tượng nồm ẩm. Độ ẩm không khí thường xuyên vượt ngưỡng 90%, nền nhà đá hoa hay sân gạch toát mồ hôi ướt nhoẹt. Sợi mây tự nhiên chứa nhiều tinh bột và đường thực vật, chỉ cần gặp khí ẩm ủ kín trong vài ngày là nấm mốc Aspergillus và Penicillium sẽ sinh sôi nảy nở, tạo thành những quầng đen thâm sì từ tận trong lõi nan, không thuốc tẩy nào rửa sạch được. Muốn xuất khẩu sang thị trường Đông Âu khắt khe, lô hàng buộc phải giữ được màu vàng ngà óng ả nguyên thủy và độ ẩm không được vượt quá ngưỡng mười hai phần trăm.
Để giải quyết bài toán hóc búa này, An lập tức biến khoảng sân sau rộng rãi của nhà kho hợp tác xã thành một khu xưởng thực nghiệm liên hoàn với ba công đoạn mang tính cách mạng.
Công đoạn thứ nhất: Giải trừ mầm mốc từ gốc rễ.
An huy động chị Đượm và các chị em trong đội phụ nữ đào hai hố đất lớn, lót bạt nilông dày làm bể ngâm tạm thời. Cô cho hòa tan vôi tôi vào nước giếng khơi, gạn lấy phần nước vôi trong có độ kiềm nhẹ vừa đủ.
Chị Đượm vừa quấy thùng nước vôi sủi bọt ùng ục vừa thắc mắc:
“An ơi, từ đời các cụ đến giờ, tao chỉ thấy người ta ngâm mây dưới bùn ao cả tháng trời cho thối hết vỏ ngoài rồi mới vớt lên vót. Mày đem ngâm nước vôi thế này, liệu mây có bị bở rạc ra như bã trầu không?”
An cười, vừa thoăn thoắt kiểm tra độ lắng của bể nước vừa giải thích:
“Ngâm bùn ao mất cả tháng trời, chúng ta làm sao kịp hai mươi lăm ngày hả chị? Hơn nữa, bùn ao làm sợi mây bị xỉn màu, mùi hôi tanh bám vào thớ nan không bao giờ hết, chuyên viên ngoại thương họ ngửi thấy là gạt phăng ngay. Nước vôi trong này có tính kiềm, vừa làm sạch lớp màng nhớt bên ngoài, vừa trung hòa và rút hết lượng đường tự nhiên trong ruột gióng mây ra. Không còn chất đường nuôi dưỡng, nấm mốc và mọt tre sẽ không có cửa mà bén mảng!”
Công đoạn thứ hai: Xông hơi thảo mộc tự nhiên.
Ngay cạnh bể vôi, An cho dựng một buồng xông kín gió bằng khung tre phủ bạt kín mít. Thay vì dùng lưu huỳnh độc hại vốn là thứ vật tư xa xỉ bị nhà nước quản lý nghiêm ngặt, An cho thu gom hàng chục gùi bồ kết khô, vỏ bưởi già và lá xoan phơi héo từ các vườn nhà trong xóm. Quả bồ kết nướng giòn chứa lượng lớn saponin có khả năng kháng khuẩn, ức chế bào tử nấm cực mạnh, khi hun khói chậm sẽ bọc lấy từng thớ mây một lớp màng bảo vệ vô hình, lại để lại mùi thơm ấm nồng đặc trưng của thảo mộc đồng quê.
Công đoạn thứ ba, và cũng là công đoạn sống còn nhất: Giàn sấy trấu đối lưu nhiệt độ thấp.
Không thể trông chờ vào vài ba tia nắng yếu ớt của trời nồm, An quyết định tự tạo ra “mặt trời nhân tạo”. Cô nhờ ông cụ giáo Khiêm – người có uy tín và vốn chữ nghĩa sâu rộng – cùng mấy bác thợ già Đội 3 xây một hệ thống lò sấy ngầm dưới lòng đất bằng gạch mộc và đất sét trộn rơm băm. Lò sử dụng nhiên liệu là trấu mục và mùn cưa – thứ phụ phẩm chất đống như núi bên cạnh cối xay lúa của hợp tác xã mà chẳng ai thèm ngó ngàng.
Khói và nhiệt nóng từ buồng đốt trấu được dẫn qua hệ thống ống dẫn ngoằn ngoèo bằng ống bương chôn ngầm dưới mặt đất, tản đều nhiệt lượng qua các khe hở của giàn tre bên trên mà không hề bốc khói đen làm ám muội sợi mây. Nhiệt độ trên giàn sấy luôn được duy trì ổn định ở mức bốn mươi lăm đến năm mươi độ C. Luồng khí nóng khô liên tục bốc lên, gặp luồng gió tự nhiên tạo thành dòng đối lưu nhiệt tuần hoàn, rút kiệt hơi ẩm trong từng dọng mây một cách từ tốn, giúp sợi nan khô giòn bên ngoài nhưng ruột vẫn giữ nguyên độ dẻo dai hoàn hảo, không hề bị rạn nứt hay giòn gãy.
Đến chập tối ngày thứ hai, khi ngọn lửa trong lò trấu bắt đầu bén đều, tỏa ra hơi ấm nồng nàn đẩy lùi cái giá buốt ẩm ướt của đêm nồm, thì tiếng tù và từ bến đò bỗng rúc lên từng hồi giòn giã.
“Thuyền về rồi! Anh Bình đưa mây về rồi bà con ơi!”
Tiếng chị Đượm reo toáng lên đầu ngõ xua tan màn đêm tĩnh mịch. An vội buông chiếc que cời lửa, quàng vội tấm khăn len sờn mép chạy một mạch ra bến đò.
Dưới bến sông, hai chiếc thuyền nan chìm sâu trong mép nước đang từ từ cập bờ. Trên khoang thuyền, những bó mây vàng óng ả được chằng buộc gọn gàng, xếp cao lùm lùm. Trần Bình nhảy ào xuống dòng nước buốt ngang bắp chân, nhanh nhẹn cột dây neo vào gốc sung già. Toàn thân anh ướt sũng vì sương đêm và nước bắn, vạt áo chấn thủ đẫm bùn đất, đôi môi tím tái vì lạnh nhưng đôi mắt lại sáng rực như than hồng.
Nhìn thấy An chạy xuống mép nước, Bình bước vội lên bờ, giọng khàn đặc vì cản gió suốt chặng đường dài:
“An! Đủ hai tấn mây bánh tẻ loại một! Toàn mây rừng Miếu Môn, gióng dài trên sáu mươi phân, dẻo quánh! Tôi phải tranh nhau với cánh thu mua của ty thủ công nghiệp Hà Đông mới ôm trọn được đấy!”
Nhìn những vệt xước rướm máu do gai mây cào trên cánh tay vạm vỡ và đôi bàn tay lạnh ngắt của chồng, An nghẹn ngào. Cô không màng đến những ánh mắt xung quanh, vội rút chiếc khăn tay trong túi áo cẩn thận lau đi vệt bùn bám trên trán anh, giọng run run:
“Anh vất vả quá… Về lò sấy ngay đi, em đã nấu sẵn nồi nước gừng đường đỏ và luộc nồi sắn nóng rồi. Mọi giàn sấy, bể ngâm em đã chuẩn bị xong xuôi cả, chỉ đợi mây của anh về là nổi lửa!”
Bình nhìn sâu vào mắt vợ, một nụ cười đầm ấm xua tan mọi mệt nhọc nở trên môi anh. Giữa đêm đen lạnh giá bên bờ sông Đáy, hai bàn tay họ khẽ chạm vào nhau, truyền sang nhau một luồng sinh khí nóng bỏng và niềm tin không gì lay chuyển nổi.
*
Ngay đêm hôm đó, chiến dịch “hai mươi lăm ngày đêm vì màu cờ sắc áo” của Đội 3 chính thức mở màn.
Để sản xuất một nghìn chiếc làn mây đạt chuẩn loại A trong thời gian kỷ lục, An hiểu rằng không thể để mỗi người tự làm từ đầu đến cuối một chiếc làn theo lối tiểu nông truyền thống. Làm như vậy, người đan chặt tay thì làn nhỏ, người đan lỏng tay thì làn to, kích thước cọc cạch, trăm cái trăm vẻ, chuyên viên kiểm định chỉ cần liếc qua là đánh trượt toàn bộ.
Giải pháp của An là: Chuyên môn hóa dây chuyền sản xuất tuyệt đối.
Gian tiền tế của ngôi đình làng An Hòa được trưng dụng làm đại bản doanh. Dưới sự đồng ý của ông Khoát, Đội 3 được cấp thêm bốn chiếc đèn măng-xông sáng rực như ban ngày, treo lơ lửng trên các vì kèo gỗ lim. Mùi dầu hỏa hăng hắc quyện với mùi thơm the the của bồ kết nướng và hương trấu sấy tạo nên một bầu không khí lao động hừng hực chưa từng thấy.
An chia lực lượng hơn bốn mươi xã viên thành bốn tổ chuyên trách nhịp nhàng như các bánh răng của một cỗ đồng hồ:Tổ thứ nhất là Tổ sơ chế và vót nan, do cụ giáo Khiêm và các bậc cao niên nhiều kinh nghiệm phụ trách. An tự tay dùng gỗ nghiến đẽo ra hàng loạt chiếc “cữ vót” chuẩn mực. Mỗi chiếc cữ là một thanh gỗ xẻ rãnh kim loại sắc lẹm với khẩu độ cố định: nan cật rộng đúng ba milimét, dày một milimét; nan ruột rộng hai milimét. Mây sau khi luộc nước vôi trong hai tiếng và ủ khói bồ kết một đêm được đưa qua cữ tuốt soàn soạt. Nhờ có cữ gỗ, một đứa trẻ mười hai tuổi cũng có thể kéo ra những sợi nan đều tăm tắp mười sợi như một, trơn láng không gợn một vết xơ ráp.
Tổ thứ hai là Tổ tạo khung và quai chịu lực, gồm những trai tráng khỏe mạnh do đích thân Trần Bình chỉ huy. Khung làn được uốn từ những gióng cật tre già ngâm kỹ, uốn nhiệt trên ngọn đèn dầu hỏa để đạt độ cong chuẩn xác hình bầu dục. Từng mối nối được ghim chặt bằng dây thép mảnh và bọc kín bằng mây cật, vừa giấu mối tinh xảo vừa bảo đảm khi xách nặng mười lăm đến hai mươi cân cũng không bị xộc xệch.
Tổ thứ ba là Tổ đan thân và hoa văn, tập hợp những bàn tay khéo léo nhất của cánh phụ nữ do chị Đượm và u Mẫn đứng đầu. Họ ngồi quây quần bên các sạp tre, thoăn thoắt gài nan theo hoa văn mắt cáo – mẫu hoa văn truyền thống trang nhã mà các nước Đông Âu cực kỳ ưa chuộng. Từng đường đan cài chặt chẽ, khít khao, không để lộ một đầu mấu hay sợi chỉ thừa.
Tổ cuối cùng là Tổ sấy định hình và kiểm tra chất lượng, do chính Hoài An trực tiếp giám sát. Từng chiếc làn sau khi đan xong được đưa vào buồng sấy trấu đối lưu lần cuối trong vòng sáu tiếng để rút hết độ ẩm thặng dư do mồ hôi tay người thợ bám vào, sau đó dùng kéo bấm tỉa sạch từng sợi xơ nhỏ li ti rồi mới xếp vào hòm bảo quản có lót vôi sống hút ẩm.
Sân đình An Hòa chưa từng có những đêm không ngủ náo nức đến thế. Tiếng chẻ nan lách cách, tiếng dao vót soàn soạt, tiếng cười giòn tan của chị Đượm hòa cùng những câu chuyện tiếu lâm thời chiến của cánh trai tráng xua tan đi cái mệt mỏi và giấc ngủ gật.
Bà cụ Mẫn ngồi bên góc sạp, đôi tay nhăn nheo thoăn thoắt cài từng sợi mây dẻo quánh, vừa nhìn con dâu đang tất bật chạy đi chạy lại giữa giàn sấy vừa tủm tỉm cười với mấy bà bạn già:
“Đấy, các bà xem! Con An nhà tôi nó tính toán cứ như quan đốc công thời trước ấy nhỉ. Ngày xưa tôi đan một cái làn mây bán chợ phiên mất đứt hai ngày, nay chia ra mỗi người một chân một tay, một ngày tổ phụ nữ chúng tôi cho ra lò ngót nghét bốn chục cái trơn tru!”
Chị Đượm đang thoăn thoắt luồn nan, ngẩng lên phụ họa:
“U nói phải đấy! Cứ đà này thì chẳng những kịp chuyến tàu viễn dương, mà phen này Đội 3 chúng con ẵm trọn cái giải nhất thi đua toàn huyện! Bác Khoát mấy hôm nay đi đâu cũng ưỡn ngực, gặp ai cũng khoe Đội 3 là con chim đầu đàn của hợp tác xã An Hòa!”
Mọi người cười rộ lên, tiếng cười giòn tan át cả tiếng gió rít qua những khe cửa đình.
Đến nửa đêm, khi bà con đã thấm mệt và lục tục chia nhau những bát cháo hoa nấu độn khoai lang nghi ngút khói, Bình lặng lẽ bước đến bên giàn sấy nơi An đang cẩn thận dùng nhiệt kế thủy ngân đo độ nóng của buồng khí.
“Nghỉ tay một lát đi em, cháo chín rồi,” Bình cất tiếng, giọng nói dịu dàng hiếm thấy so với vẻ cương nghị thường ngày của người chỉ huy.
An quay lại, trán cô rịn một lớp mồ hôi mỏng, hai má ửng hồng lên vì hơi ấm từ lò trấu hắt ra. Cô đón lấy bát cháo từ tay Bình, khẽ mỉm cười:
“Anh xem này, mẻ làn thứ tám trăm vừa ra lò lúc nãy. Em đã cân thử, mỗi chiếc chỉ nặng đúng bốn trăm gam, độ ẩm đo được đạt mười một phần trăm – mức lý tưởng nhất để đóng kiện vượt đại dương. Dù tàu có đi qua vùng xích đạo nóng ẩm hay cập cảng tuyết rơi ở Ba Lan, sợi mây này cũng không bao giờ bị mốc hay giòn gãy.”
Bình nhìn những chiếc làn mây xếp tầng tầng lớp lớp trên sạp tre, vàng óng ả như những giọt mật ong rừng dưới ánh đèn măng-xông, lòng dâng lên niềm khâm phục và thương yêu vô hạn. Anh đưa tay gạt nhẹ một sợi rơm vướng trên mái tóc tết bím của vợ:
“Nếu không có kiến thức và sự kiên trì của em, chắc chắn chuyến này Đội 3 đã gục ngã. Người lính trên chiến trường đánh giặc bằng súng đạn, còn em ở hậu phương đánh giặc đói, giặc dốt bằng trí tuệ và sự nhẫn nại. Có em ở bên, tôi chẳng còn sợ bất cứ thử thách nào nữa.”
An ngước nhìn chồng, ánh mắt anh phản chiếu ngọn lửa ấm áp của lò sấy trấu, chân thành và vững chãi như rặng núi Ba Vì sừng sững che chở cho mảnh đất ven sông. Cô khẽ tựa đầu vào bờ vai rộng của anh trong giây lát, cảm nhận mùi hương nồng nàn của mồ hôi, của khói bồ kết và sương đêm bám trên áo anh. Đó là chỗ dựa bình yên nhất mà cô tìm thấy sau hai kiếp người phiêu bạt.
*
Hai mươi tư ngày trôi qua như một cái chớp mắt.
Đúng ngày thứ hai mươi tư, toàn bộ một nghìn chiếc làn mây xuất khẩu loại A đã hoàn thành trọn vẹn, không thiếu một chiếc, sớm hơn thời hạn ấn định đúng một ngày. Chúng được xếp ngay ngắn thành từng hàng dài tăm tắp bên trong gian đại bái của đình làng, phủ kín bằng những tấm vải bạt khô ráo. Cả ngôi đình cổ ngập tràn mùi thơm thanh khiết của mây sấy thảo mộc, hoàn toàn không có lấy một vệt bụi bẩn hay sợi xơ thừa.
Sáng ngày thứ hai mươi lăm, một chiếc xe con mang biển số của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình cùng chiếc xe tải năm tấn của Ty Ngoại thương chầm chậm tiến vào cổng làng An Hòa.
Bước xuống xe không chỉ có Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát và Trưởng ban Thanh tra Vũ Đình Trọng, mà còn có một nhân vật đặc biệt khiến tất cả mọi người phải nín thở: chuyên viên kiểm định chất lượng cao cấp của Ty Ngoại thương – ông Bùi Khắc Kỷ.
Ông Kỷ trạc ngoài năm mươi tuổi, dáng người gầy gò, đôi mắt một mí sắc như dao cau ẩn sau cặp kính gọng đồi mồi dày cộp. Ông nổi tiếng khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ là người nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn trong giới ngoại thương. Tháng trước, chính tay ông Kỷ đã thẳng thừng gạt bỏ toàn bộ lô hàng thảm cói của một huyện lân cận chỉ vì phát hiện vài sợi cói bị ẩm chân, khiến cả huyện đó mất trắng chỉ tiêu vật tư.
Không khí trong sân đình lập tức đông cứng lại. Bà con xã viên Đội 3 đứng chật kín ngoài hiên, nín thở theo dõi từng cử động của vị chuyên viên quyền lực.
Ông Kỷ không nói một lời xã giao, bước thẳng vào gian đình, đưa mắt quét qua khối hàng một nghìn chiếc làn mây đang tỏa ánh vàng ngà rực rỡ. Ông chậm rãi tháo găng tay len, tiến lại chiếc bàn kiểm định được trải khăn vải trắng tinh khôi mà An đã chuẩn bị sẵn.
“Đồng chí Đội trưởng, mang cho tôi mười chiếc ngẫu nhiên ở các góc khác nhau: bốn chiếc trên đỉnh, bốn chiếc dưới đáy và hai chiếc ở giữa kiện hàng!” Ông Kỷ cất giọng lạnh tanh, dứt khoát.
Bình lập tức đích thân bê mười chiếc làn mây đặt lên bàn kiểm tra.
Ông Kỷ rút từ trong chiếc cặp da bóng lộn ra một chiếc thước kẹp kim loại, một chiếc cân lò xo mini và một chiếc kính lúp phóng đại chuyên dụng có viền bọc đồng sáng loáng.
Quy trình kiểm tra diễn ra tỉ mỉ và căng thẳng đến nghẹt thở.
Chiếc thước kẹp lướt qua miệng làn: đường kính chuẩn xác ba mươi lăm phân, sai số không quá một milimét.
Chiếc cân lò xo móc vào quai: đúng bốn trăm gam, không lệch một chỉ.
Ông Kỷ dùng hai bàn tay gầy guộc nhưng đầy gân guốc của mình, bất ngờ đè nghiến cả trọng lượng cơ thể lên miệng chiếc làn mây, ép bẹp dúm xuống mặt bàn gỗ lim!
Mấy chị em phụ nữ Đội 3 đứng ngoài cửa sổ sợ hãi thốt lên một tiếng “Ái chà!”. Chị Đượm vội đưa tay bịt chặt miệng, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Nhưng ngay khi ông Kỷ buông tay ra, chiếc làn mây đàn hồi một cách kỳ diệu, lập tức bật nảy trở lại hình dáng bầu dục hoàn mỹ ban đầu mà không hề có lấy một tiếng răng rắc hay một vết nứt rạn nơi các mối nối! Các thớ mây dẻo dai bện chặt vào nhau như những sợi dây thép mềm, chứng minh độ đàn hồi thượng thặng của kỹ thuật luộc vôi và sấy trấu đối lưu nhiệt độ thấp.
Một tia kinh ngạc thoáng lướt qua đôi mắt sắc lạnh sau tròng kính đồi mồi của ông Kỷ. Ông khẽ gật đầu, nhưng vẻ mặt vẫn lạnh như tiền.
Cuối cùng, ông Kỷ nhấc chiếc làn mẫu thứ mười – chiếc làn được rút ra từ tận đáy sâu nhất của đống hàng, nơi dễ bị tích tụ hơi ẩm nồm của nền gạch nhất.
Ông bật chiếc đèn pin soi chuyên dụng, đưa kính lúp sát vào từng đường đan hoa văn mắt cáo, săm soi từng chân nan, từng nút thắt giấu mối.
Thời gian dường như ngưng đọng lại. Tiếng tích tắc từ chiếc đồng hồ Poljot trên cổ tay ông Kỷ vang lên rõ mồn một giữa sự im lặng tuyệt đối của gian đình.
Đột nhiên, động tác của ông Kỷ khựng lại.
Đôi lông mày rậm rạp của vị chuyên viên ngoại thương cau tít lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán. Ông nhích chiếc kính lúp lại gần hơn, hạ thấp luồng ánh sáng đèn pin, chiếu thẳng vào góc khuất nhất dưới đáy chiếc làn mẫu.
Tại vị trí giao nhau giữa nan cật đáy và khung chịu lực, ẩn sâu dưới lớp hoa văn tinh xảo, bỗng lộ ra một vệt ố xám mờ mờ, loang lổ như hình một vết nấm mốc đang âm thầm gặm nhấm thớ mây!
Sắc mặt ông Kỷ lập tức đanh lại, ngón tay trỏ khô khốc gõ mạnh lên mặt bàn gỗ lim đánh “cốc” một tiếng đanh gọn, phá tan bầu không khí tĩnh lặng:
“Đồng chí Chủ nhiệm! Đồng chí Đội trưởng! Các đồng chí giải thích thế nào về vệt mốc đen chết người này?”