Tiểu Thư Địa Chủ - Thu Diệp Hoàng

Chương 50: Ngoại Truyện 2

Là một kẻ thất bại, cuộc sống của Lâm Tích Duyên ở Đài Loan chẳng hề dễ chịu. Cuộc sống càng không thuận ý, ông lại càng nhớ về cố hương, nhớ về làng Lâm gia, nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ và những người thân yêu.

Nhớ nhà suốt mấy chục năm trời, đến lúc lâm chung, ông vẫn không thể trở về ngôi làng Lâm gia hằng mơ ước. Cuối cùng, trong lúc hấp hối, ông chỉ đành cầu xin các con đưa tro cốt của mình về lại làng Lâm gia, chôn cất trong phần mộ tổ tiên của họ Lâm. Lá rụng về cội, đó là tâm nguyện cuối cùng của đời ông.

Ban đầu rời xa quê hương đến mảnh đất xa lạ này không phải là lựa chọn của ông, trong tình cảnh đó, ông hoàn toàn không kịp suy nghĩ, sự việc cũng chẳng để ông có quyền lựa chọn; dòng chảy của thời đại đã đẩy ông rời xa nơi sinh thành và nuôi dưỡng mình. Dưới làn sóng của thời đại, không chỉ riêng ông mà ở nơi này, còn có biết bao nhiêu người thân bất đắc dĩ giống như ông. Họ nhỏ bé như hạt cát trong đại dương, tuy lòng hướng về cố hương nhưng chẳng thể làm gì, chỉ biết đứng bên bờ biển dõi nhìn về nơi mà tầm mắt không thể chạm tới.

Ông đã già rồi, những người cùng ông trốn chạy đến đây năm nào đã lần lượt rời bỏ ông mà đi, giờ đây ông nằm liệt giường, bên cạnh chỉ còn vợ con, ông muốn đứng dậy để đến thăm người bạn cũ một lần cuối cũng không thể, muốn đứng bên bờ biển nhìn về hướng quê hương một lần nữa cũng lực bất tòng tâm.

Hiện tại đúng là mùa hoa quế tỏa hương, trong sân có trồng hai cây quế, hoa nở chi chít, chẳng cần gió thổi, hương hoa quế đã thơm ngát lan xa, nếu đứng dưới gốc cây, cả người dường như có thể ngất lịm trong hương thơm ấy.

Khi hương hoa quế len lỏi vào trong nhà, khóe mắt Lâm Tích Duyên trào ra hai hàng lệ đục ngầu, hệt như tâm trạng của ông cụ Lâm khi xưa nhìn cánh đồng nhà mình mà rơi lệ, tuy ông không biết ông nội mình từng có khoảnh khắc như vậy, nhưng là một người con nhà họ Lâm, ông cũng không thể tránh khỏi sự bất lực và tuyệt vọng. Hai cây quế trong sân là do chính tay ông trồng, vì nhớ quê mà không thể về, ông đã tốn không ít công sức nhờ người vận chuyển hai cây này từ quê nhà sang đây, tốn kém bao nhiêu tiền bạc, vợ của ông hiểu lòng ông, nên đối với việc này không một lời oán trách.

Lâm Tích Duyên ngửi mùi hương hoa quế, đầu óc bắt đầu hồi tưởng lại cuộc đời mình, hồi nhỏ đến mùa hoa quế nở, trong nhà đều chuẩn bị bánh nếp, bánh hoa quế, nhưng ông không thích ăn ngọt, ngược lại em gái ông rất thích. Vào dịp Tết Trùng Dương, cả nhà đều phải lên chùa thắp hương, lần nào ông và em gái cũng nhận được một tấm bùa bình an, tấm bùa này phải đeo suốt một năm, cho đến khi ông rời nhà đi tòng quân thì trên người ông không còn đổi bùa mới nữa, lúc đó đánh mất tấm bùa ông cũng không thấy tiếc, cứ nghĩ rằng trong nhà sẽ giúp ông cầu cái khác, sau này về nhà rồi lấy cũng được, nào ngờ ngày trở về nhà đã là cảnh còn người mất.

Gia đình của ông là nhà địa chủ giàu có nhất làng, đương nhiên ăn uống dùng đồ đều là loại tốt nhất, từ nhỏ ông đã biết sau này mình sẽ thừa kế gia nghiệp, nhỏ thì là con nhà giàu, lớn lên là sẽ là ông chủ nhà giàu, cả đời không lo cơm áo, mỗi lần ra ngoài chơi, phía sau ông luôn có một đám trẻ theo cùng, trong đó có người sau này trở thành chiến hữu, cũng có người thành kẻ địch, trong đám đó có người cũng cùng ông trốn chạy đến nơi này.

Nếu như khi đó ông chịu nghe lời ông nội, ngoan ngoãn ở lại nhà, thì đã chẳng rơi vào cảnh xa xứ như ngày hôm nay, nhưng nếu ông thực sự ở lại, e rằng cũng không thoát khỏi sự hành hạ của những kẻ đi cướp nhà của ông. Khi đó đang cơn giận dữ, ông chẳng còn tâm trí quan tâm đến em gái, vội vã rời đi. Giờ nghĩ lại, thực sự vô cùng hối hận, nhà họ Lâm chỉ còn lại hai người họ, ông nội, cha và mẹ dưới suối vàng chắc hẳn không muốn nhìn thấy họ chia lìa. Đều tại ông phút giây nông nổi, sao trong hoàn cảnh đó còn cố tình gây sự, để đến nỗi một mặt cuối cùng cũng chẳng được trân trọng.

Em gái từ nhỏ đã được chiều chuộng, chưa từng chịu chút ấm ức, chưa từng nếm chút khổ cực nào, em gái không giống với ông, người trong nhà đều cho rằng con trai phải chịu khổ mới làm nên nghiệp lớn, vì vậy dù ở bên ngoài chịu không ít đắng cay, ông vẫn cứ thế vượt qua được. Thế còn em gái thì sao? Một mình đối mặt với những chuyện như thế, trơ mắt nhìn ông nội, cha mẹ lần lượt rời bỏ mình mà đi, để em gái một mình cô quạnh trên đời, không ai bảo vệ thì khó tránh khỏi bị bắt nạt.

Chính vì thế, ông nhìn Lý Nhị Cẩu mới cảm thấy ghét cay ghét đắng, em gái sao có thể ở cùng hạng người đó, còn đứa trẻ kia nữa, ông tuyệt đối sẽ không thừa nhận. Cho dù họ nói thế nào, ông cũng không thể chấp nhận nó. Ngay cả khi Lục Thanh Dương bị bắt giam, ngay cả khi Lục Uyển Hề không rõ tung tích đã phải chịu quả báo, đứa trẻ kia cũng chẳng liên quan gì đến ông. Em gái cũng thật ngốc, sao cứ khăng khăng đòi nuôi nó làm gì? Nếu không phải ông để lại số tài sản bí mật của nhà họ Lâm cho họ, thì với điều kiện như thế, ngay cả bản thân còn không nuôi nổi, còn cố chấp lo cho đứa trẻ kia làm gì chứ?

Lý Nhị Cẩu chính là Lý Nhị Cẩu, dù có đổi tên thì ông cũng không bao giờ gọi khác đi. Nếu không phải có tiền do ông đưa, Lý Nhị Cẩu đời nào có ngày hôm nay. Nói đến là bực tức, khi đó ông đã dặn dò em gái, một mình âm thầm cầm tiền rồi rời khỏi làng Lâm gia, rời xa Lý Nhị Cẩu, ra ngoài tìm một người đàn ông xứng đáng với mình, nhưng em gái lại không nghe lời, cầm tiền của nhà họ Lâm đi cung phụng cho kẻ lưu manh. Số tiền đó đều là ông để dành cho em gái! Hơn nữa em gái rõ ràng biết ông không ưa Lý Nhị Cẩu, mà mỗi lần viết thư lại cứ nhắc đến kẻ này, cái tức này cứ nghẹn trong lòng không sao nuốt trôi.

Nghĩ lại bản thân mình, trên người không mang một xu đến mảnh đất xa lạ này, thật là một chuyện không vẻ vang chút nào. Khi xưa ông vào trường quân sự Hoàng Phố đâu phải để có một tương lai như thế, nhưng tất cả cũng là số phận. Khi đó không ai có thể dự đoán được chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, không ai biết ai thắng ai thua, nhất là với tư cách là một sĩ quan tình báo, ông cảm nhận rõ rệt sự biến động của thời cuộc.

Lúc mới nhập ngũ, cũng như mọi chàng trai nhiệt huyết muốn bảo vệ đất nước, ông muốn đánh đuổi quân xâm lược. Nhưng mạo hiểm tính mạng thu thập biết bao tin tình báo cho quốc gia, thậm chí tiêu tốn cả tuổi trẻ, nhưng cuối cùng vì chọn nhầm phe mà không thể quay đầu.

Một núi không thể có hai hổ, đạo lý này ông hiểu rõ, nhưng ông chỉ là một kẻ tép riu, tại sao cũng bị ép phải rời khỏi ngọn núi đã sinh thành và nuôi dưỡng mình? Tuy cuộc sống ở đây an ổn hơn trên chiến trường, nhưng nơi đây cuối cùng vẫn không phải là quê hương. Là một nhân viên tình báo, ông không được phép quay về. Ngay cả khi hai bờ eo biển cho phép đi lại, ông cũng không thể về nhà. Hơn nữa, mỗi lần thư từ qua lại với người thân bên kia bờ, ông đều bị các cơ quan chính phủ làm khó, chỉ vì ông từng l*m t*nh báo.

Giờ đây, trên cơ thể già nua của ông đầy rẫy những vết thương từ thời chiến tranh, trong lòng ông cũng mãi lưu giữ nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai chỉ vì xa xứ. Các con của ông cũng có khoảng cách không thể vượt qua với ông. Tuổi càng lớn, ông càng nhận thấy rõ hai đứa con của mình có những tình cảm khác biệt, chúng dường như chẳng hề nhung nhớ hay mong đợi gì quê nhà bên kia bờ biển. Chúng không bao giờ giống ông mà thương nhớ người thân, bạn bè ở bên kia đại lục, đối với những lá thư từ đại lục gửi đến, chúng tỏ thái độ lạnh nhạt đến đáng sợ.

Ông biết, thời gian càng trôi lâu, những kẻ già nua như họ chết đi, sẽ chẳng còn ai muốn quay về trong vòng tay của tổ quốc nữa. Vì vậy, khi còn chút sức lực, ông nhất định phải nỗ lực vì sự nghiệp thống nhất Đài Loan về với tổ quốc. Những chiến hữu cùng ông đến Đài Loan đều ủng hộ ý tưởng của ông. Hội đồng hương của họ bỏ tiền bỏ công sức, giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử văn hóa, dạy họ lòng yêu nước, khuyên họ hãy nhớ mình là người Trung Quốc. Ban đầu cũng có chút tác dụng, nhưng rồi luồng máu mới xuất hiện, tất cả lại thành công dã tràng.

Giống như con cái của ông vậy, nhiều người trẻ ở Đài Loan coi nơi này là quê hương, còn quê hương của thế hệ già bên kia bờ eo biển lại chẳng phải quê hương của chúng. Chúng luôn nghe thấy những tin tức xấu về đại lục, từ đó mà lấy làm tự hào vì mình được sinh ra ở Đài Loan. Con trai Lâm Liên Hương của ông từng ở ngay trước mặt mà châm biếm ông, nguyên văn ông vẫn nhớ rất rõ: “Nếu đại lục tốt như vậy, sao cha lại rời đi? Tin tức nói Đài Loan chúng ta phát triển tốt hơn đại lục nhiều, cha tới đây không phải vì lý do đó sao? Giờ lại suốt ngày càm ràm đại lục thế này thế kia, giới trẻ thế này thế kia, con thấy là do cha vô dụng, sống không thuận ý nên mới suốt ngày chửi Đài Loan. Lúc trước cha làm kẻ đào ngũ của đại lục, giờ lại muốn làm kẻ phản bội Đài Loan sao? Con bây giờ sống rất tốt, con chẳng thèm nhớ cái làng Lâm gia, cái người cô tốt bụng mà cha nói đâu. Sai lầm cha gây ra thì cha phải tự chịu trách nhiệm. Đời con cháu bọn con bình thường nhường nhịn cha đã đành, nhưng cứ mãi thế này thì cũng phiền lắm.”

Lúc con trai cãi lại ông là độ tuổi đang còn bốc đồng, giọng điệu nói chuyện giống hệt ông lúc trẻ, nhưng khẩu âm lại chẳng hề có lấy một chút giọng quê. Khi đó ông cãi nhau với con trai, đã đánh cho nó một trận nên thân, sau đó nó mới không dám nhắc lại chuyện này trước mặt ông nữa. Thế nhưng Lâm Liên Hương ơi Lâm Liên Hương, sao con không thể giống như cái tên của con, biết thương nhớ dòng nước quê hương? Người trẻ không hiểu chuyện, ông cũng không có khả năng dạy dỗ tốt, lại là một điều đáng tiếc nữa.

Ông đã già, không còn hữu dụng, có những thứ cũng không nhớ nổi nữa. Ký ức của ông cũng như giọng quê hương, đang dần phai nhạt, vừa đáng giận lại vừa đáng buồn.

Sau khi Lâm Tích Duyên qua đời, con trai ông theo di chúc đã mang tro cốt của cha ngồi tàu đi đến đại lục. Vì vẫn luôn giữ liên lạc thư từ, nên vào ngày Lâm Liên Hương đến đại lục, cô và dượng đã đứng đợi ở bến tàu.

Lâm Liên Hương vốn coi thường người bên đại lục, nên dù biết nhà cô dượng giàu có, anh ta cũng không ngờ họ còn giàu hơn tưởng tượng của mình nhiều. Khi gặp cô dượng, anh ta còn nhìn thấy một chàng trai trông hơi giống mình, lớn hơn mình vài tuổi. Ban đầu cứ ngỡ là anh họ, nhưng người đó cũng gọi cô dượng như anh ta. Thế nhưng theo anh ta biết, cha mình chỉ có mỗi một người em gái, ngoài ra không hề nhắc đến bất kỳ ai khác, vì vậy đối với chàng trai không rõ thân phận này, trong lòng anh ta có rất nhiều nghi vấn.

Sau một thời gian ở nhà cô, Lâm Liên Hương mới dần thay đổi cái nhìn tốt đẹp hơn về đại lục. Khi ôm tro cốt của cha đi chôn cất ở phần mộ tổ tiên nhà họ Lâm, cô đã nhân tiện đưa anh ta đi thăm ngôi nhà cũ ở làng Lâm gia. Nhà họ Lâm tuy cũ kỹ và đổ nát theo thời gian, nhưng vẫn có thể nhìn ra sự huy hoàng thời cực thịnh trước đây.

Mỗi người trong làng Lâm gia đều nói giọng y hệt cha mình, rất thân quen, trong lòng anh ta dấy lên chút cảm xúc khó tả. Trong thời gian ở làng Lâm gia, anh ta còn tìm hiểu được một vài chuyện quá khứ thời trẻ của cha, nghe xong không khỏi cảm thấy ngậm ngùi. Hóa ra cha anh ta cũng từng có một tuổi thơ tươi đẹp đến thế. Và thân phận của người trông giống anh họ nhưng lại không phải anh họ kia, mãi đến ngày anh ta đi, cô mới kể cho nghe. Hóa ra đó lại là anh em cùng cha khác mẹ với anh ta, có lẽ là món nợ tình cảm cha đã gây ra khi còn ở đại lục, vì sợ mẹ giận nên không dám nhắc đến trong nhà. Nhưng người anh trai này cũng thật đáng thương, từ nhỏ đã gửi nuôi ở nhà người khác, lại còn bị tật ở chân.

Lâm Liên Hương hoàn thành tâm nguyện cha giao rồi trở về, vẫn thường nhớ tới những người thân bên đại lục này. Dù chỉ gặp một lần, nhưng anh ta cảm thấy họ vô cùng thân thiết. Cô và dượng ôn hòa lễ độ, lại vô cùng gắn bó, là một gia đình đáng ngưỡng mộ. Thảo nào cha lại nhớ quê hương đến thế, nếu ngày đó cha ở lại, gia đình anh ta cũng nên là một gia đình tốt đẹp như vậy, chỉ có điều khi đó sẽ không có anh ta tồn tại.

Cuộc đời của Lâm Tích Duyên, nửa đời trước thuận buồm xuôi gió, nửa đời sau phiêu bạt khắp nơi. Như bao kẻ du tử rời xa quê nhà, trái tim ông mãi mãi khuyết đi một mảnh, cho đến ngày được trở về nhà.