Người gửi: Touma
Người nhận: Lâm Huống Dã [email protected]
Chủ đề: Sorry it took me so long. I’ve been trying to find you.
Ngày gửi: Ngày XX tháng XX năm XXXX 01:30
Đêm đầu tiên gặp anh, em đã lặng lẽ đứng trong góc phòng, bàn tay trong túi áo nắm chặt con dao rọc giấy.
Em đã phân vân không biết có nên giết anh hay không.
Anh cứ thế tự ý trèo lên giường, rồi tự ý ngủ thiếp đi. Anh còn để đèn cho em nữa.
Em đã nhìn anh.
Nhìn ánh đèn bàn dịu nhẹ bao phủ lấy góc nghiêng của anh, em mới từ từ buông con dao trong tay ra.
Em vốn chẳng tin anh, nên sau đó vẫn dùng dao làm anh bị thương. Anh sững sờ một lát, rồi đưa tay về phía em.
Anh nhẹ nhàng gỡ từng ngón tay em, lấy đi con dao ấy. Rồi anh mỉm cười, dịu giọng nói: “Ngoan lắm…”
Đã có rất nhiều người khen em ngoan. Khi em tự nhốt mình vào tủ quần áo, Keiko khen em là đứa trẻ ngoan. Khi em nhẫn nhịn những cái v**t v* ghê tởm, Sato cũng khen em là đứa trẻ ngoan.
Nhưng anh thì khác. Tại sao anh lại khác đến thế?
Rõ ràng em đã làm anh bị thương, vậy mà anh vẫn khen em là một đứa trẻ ngoan.
Đêm quay trở lại Kyoto, em cuối cùng đã hạ quyết tâm đi tự thú.
Em gọi điện cho Mei. Em muốn hỏi xem cô ấy có ổn không. Cô ấy hẹn gặp mặt em vào ngày hôm sau. Thế là em đã bước vào hiệu sách đó.
Mei kể vắn tắt cho em nghe về tình hình của Keiko, bao gồm cả bệnh tình của bà đã ở giai đoạn cuối, chẳng còn sống được bao lâu.
Bằng giọng khẩn cầu, Mei nói với em: “Làm ơn hãy tiếp tục chuyến hành trình đi, hãy cứ coi như mình chẳng biết gì cả. Nếu không, tất cả những gì chúng ta đã làm sẽ trở nên vô nghĩa.”
Cô ấy còn nói: “Touma. Hãy tiến về phía trước, đừng ngoảnh đầu lại.”
Sau khi Mei đi, em rút một cuốn sách trên giá, lật vài trang, nhưng những con chữ cứ thế lướt qua mắt em một cách vô nghĩa. Em lật đến trang bản đồ Trung Quốc, ngón tay miết chặt mặt giấy hằn thành một vết lõm nông. Em nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ màu sắc ấy, nghiến chặt răng, dốc hết sức để ngăn những giọt nước mắt trào ra.
Bản đồ Trung Quốc rộng lớn quá đỗi.
Anh đi tới, nói với em vài câu. Tim em đập loạn nhịp, vội vàng đánh trống lảng. Em biết những màn kịch giả vờ thản nhiên đó vô cùng vụng về. Chắc hẳn lúc ấy anh đã nhận ra nhiều điểm bất thường, đúng không? Nhưng anh không hỏi gì cả, chỉ bảo rằng gấu trúc rất đáng yêu.
Đêm đó, anh mở máy tính cho em xem những bức ảnh anh chụp. Em đã thấy núi sông nơi đất khách, thấy nhật nguyệt tinh tú, và cả những kỳ quan nhân văn. Em ngẩn ngơ đắm chìm trong thế giới của những bức ảnh, tạm quên đi tội ác mình đã phạm phải.
Em chưa bao giờ thấy một vùng trời đất bao la đến nhường ấy.
Những con người và sự việc, gió và ánh sáng trong ảnh, rõ ràng chỉ cách vùng đất này một dải đại dương. Vậy mà trước khi gặp anh, em lại chẳng biết gì về chúng.
Chúng ta cùng đi Kobe xem gấu trúc, ăn sủi cảo đông lạnh trong một nhà hàng Trung Hoa. Anh phàn nàn vỏ bánh không đủ dai, nhân thịt không đủ thơm. Anh còn lén nói xấu ông chủ quán đủ điều. Em thì cứ cười mãi, cười không dứt được. Cuối cùng, anh đặt đũa xuống, chống cằm nhìn em rồi từ từ mỉm cười.
Có lẽ anh vốn sở hữu một trái tim ấm nóng, nên mới có thể chẳng chút nề hà mà lấy nó ra, đặt vào lòng em. Anh chỉ muốn sưởi ấm đôi tay cho đứa trẻ đang chết lặng vì giá rét là em đây.
Em may mắn biết bao. Trên con phố chờ đợi thần linh, em đã chờ được anh.
Người em chờ được là anh. Chỉ mình anh mà thôi.
Vì kẻ tên Sato đó, em đã chết đi một lần. Và gặp được anh, em đã được tái sinh.
Những tế bào mới sinh sôi trong cơ thể, một nhân cách mới được nhào nặn trong linh hồn. Những giấc mơ ồn ào năm xưa cuối cùng đã lắng xuống.
Em đã có đích đến, có nơi để về, có một địa chỉ với những tọa độ chính xác để tìm thấy anh.
Sau khi anh đi, kỳ nghỉ xuân cũng kết thúc. Em chính thức dọn đến Kumamoto sống cùng ông ngoại và chuyển sang một ngôi trường trung học mới. Dù chỉ là một trường công lập bình thường, nhưng em không còn phải lo lắng về tiền bạc, có thể toàn tâm toàn ý học tập.
Mỗi tuần em đều bắt tàu điện vào thành phố, đến quán net chúng ta từng cùng đi để viết mail cho anh. Về sau, việc viết thư cho anh đã trở thành thói quen, mặc dù em chẳng nhận được bất kỳ lời hồi âm nào.
Em cũng từng cảm thấy bất an. Nhưng khi đó việc học tập và cuộc sống đều bận rộn, nên em không nghĩ quá nhiều. Em không dám nghĩ quá nhiều.
Em tự tìm cho mình vô vàn lý do. Chắc hẳn anh quá bận, hoặc địa chỉ email có trục trặc gì đó.
Không sao đâu. Em luôn tự nhủ với mình như thế.
Sẽ gặp lại thôi. Em lặp đi lặp lại với chính mình như vậy.
Em không được phép dừng bước, em phải tiến về phía trước. Từng bước, từng bước một, mỗi bước đi đều là hướng về phía anh.
Mỗi đêm, em đều nghe đoạn ghi âm anh để lại để chìm vào giấc ngủ. Em ngẩng đầu dõi theo từng chuyến bay lướt qua trên đỉnh đầu. Em kiên nhẫn chờ đợi mùa hoa anh đào nở rộ tràn về mỗi năm.
Anh nói đúng. Mùa đông nào rồi cũng sẽ qua đi, và mùa xuân chắc chắn sẽ tới.
Nhưng em đã mất tin tức của anh.
Em liên tục tưởng tượng về cuộc sống của anh.
Anh và mẹ đã làm hòa chưa? Anh đã kế nghiệp chuỗi cửa hàng hoa chưa? Anh lại đi du lịch nơi nào rồi? Có chụp được nhiều ảnh không?
Anh đã gặp được người mình thích chưa?
Em thực sự rất muốn gặp anh.
Năm thứ hai sau khi dọn đến Kumamoto, Keiko qua đời trong tù. Chồng cũ của bà, cũng là cha ruột của em đã lo liệu hậu sự. Mặc dù Keiko mang tội giết người, ông ấy vẫn tổ chức một đám tang tử tế. Em và ông ngoại đến dự tang lễ mà trông chẳng khác nào những người khách lạ.
Em thấy người đàn ông đó khúm núm đón tiếp từng người. Đôi mắt ông hằn tia máu, vành mắt đỏ hoe, chẳng rõ là do bận rộn thiếu ngủ hay vì quá đau lòng.
Ông hỏi em: “Touma, con có muốn về sống với cha không?” Em nhìn người đàn ông đó, nhìn vẻ mặt cẩn trọng của ông, trong phút chốc bỗng thấy ngẩn ngơ. Em chợt không hiểu nổi, người đàn ông đã bỏ mặc mẹ con em, lạnh lùng đến cực điểm trong suốt những năm tháng qua, rốt cuộc là ai?
Trong lễ truy điệu, em đã gặp Marina. Bà mặc bộ Kimono đen, tóc búi cao, trang điểm nhạt. Nhìn bà, lòng em tràn ngập nỗi bi thương.
Cả đời này Keiko rốt cuộc đã tranh giành cái gì cơ chứ? Đến phút cuối cùng bà đã nghĩ gì?
Liệu bà có nhận ra bất hạnh của mình không phải đến từ Marina không?
Bà có ý thức được rằng những người hại chết bà trong đời này… chính là chồng và con trai của bà không?
Marina ngước lên thấy em, bà đi tới rồi quỳ xuống: “Touma-kun, cô dự định sau khi Yuto tốt nghiệp cấp ba sẽ đưa nó ra nước ngoài. Đi Mỹ. Nếu cháu muốn đi cùng…”
Em lắc đầu từ chối: “Không cần đâu ạ.” Khựng lại một lát, em mím môi nói thêm: “Làm ơn hãy gửi lời chào của cháu đến Yuto.”
Sau đám tang, em trở về Kumamoto tiếp tục sống với ông ngoại. Mỗi dịp năm mới, em đều gửi cho cha một tấm thiệp để bày tỏ chút lòng thành.
Em cảm ơn ông vì tất cả những gì đã làm cho Keiko vào phút cuối.
Nhưng em không có ý định tha thứ cho ông.
Sau khi tốt nghiệp trung học, em thuận lợi trúng tuyển vào một trường đại học ở Tokyo. Ngày lễ tốt nghiệp kết thúc, em không kìm được mà vào bốt điện thoại cũ ở nhà ga, bấm dãy số anh đã cho. Điện thoại thông suốt, đầu dây bên kia vang lên giọng một người phụ nữ. Bà ấy hỏi bằng tiếng Trung: “Xin hỏi ai đấy ạ?”
Ngón tay em siết chặt ống nghe, hé miệng nhưng không thốt ra được lời nào.
Bà ấy lại hỏi: “A lô, xin hỏi ai vậy?”
Em vội vàng xin lỗi bằng tiếng Anh rồi cúp máy.
Em lôi sổ tay ra, xác nhận đi xác nhận lại dãy số. Dãy số đó em đã xem vô số lần, sớm đã thuộc lòng. Thế nhưng em vẫn nghi ngờ không biết mình có bấm nhầm hay không.
Em không còn đủ can đảm để gọi thêm một lần nữa.
Lòng trĩu nặng thất vọng, em đi bộ về nhà thì gặp một cô bạn cùng khóa. Đó là một cô gái có nước da hơi ngăm, trên mặt có vài nốt tàn nhang nhỏ. Ở trường chúng em thi thoảng có chạm mặt, nhưng ngoài chào hỏi ra thì chưa bao giờ trò chuyện.
Cô ấy bấu chặt vạt áo, do dự một lúc rồi mới bước lại gần. Cô ấy đứng trước mặt em, hít một hơi thật sâu: “Kiryu-kun, cậu có thể cho tớ xin chiếc cúc áo thứ hai trên đồng phục của cậu không?”
Theo bản năng, em đưa tay nắm lấy chiếc cúc áo trước ngực, lịch sự từ chối: “Xin lỗi, chiếc cúc áo này tớ để dành cho người khác rồi.”
Gương mặt cô ấy cứng đờ, cười một cách lúng túng: “Ra vậy…”
Em lại xin lỗi lần nữa: “Thực sự rất xin lỗi cậu.”
“Không có gì đâu.” Cô ấy xua tay liên hồi, mặt đỏ bừng: “Tớ mới là người phải xin lỗi vì đã đường đột quá.”
Em im lặng. Đầu ngón tay không ngừng mân mê chiếc cúc áo đó.
Sau lễ tốt nghiệp, có rất nhiều nữ sinh hỏi xin chiếc cúc đó, nhưng em muốn để dành nó cho anh. Em nôn nóng muốn kể cho anh nghe rằng chúng em có phong tục như thế. Khi tốt nghiệp trung học, con trai sẽ tặng chiếc cúc áo thứ hai cho người mình thích, bởi đó là vị trí gần với trái tim nhất. Lý do này nghe có vẻ ngớ ngẩn anh nhỉ, chắc chắn anh sẽ bật cười cho xem. Nhưng không hiểu sao, em thấy anh nhất định sẽ thích câu chuyện này, cũng như sẽ thích chiếc cúc áo của em.
Kể từ ngày anh đi, nó đã nằm sát lồng ngực em, cùng đập một nhịp với sinh mệnh này suốt hai năm ròng.
Cô gái đó rụt rè hỏi: “Kiryu-kun đã có người mình thích rồi sao?”
Em lắc đầu đáp: “Không phải đâu.”
Sau khi chào tạm biệt, em đi tiếp một đoạn rồi đột nhiên dừng bước ngoảnh lại nhìn. Cô gái đó vẫn đứng ở ngã tư, ngơ ngác nhìn theo bóng em. Khoảnh khắc ấy, em dường như thấy bóng dáng mình trong cô ấy.
Mùa xuân năm tốt nghiệp trung học, em vừa tròn mười tám tuổi. Đó là mùa xuân mà chúng ta đã hẹn gặp lại nhau. Em nhanh chóng gạt đi nỗi thất vọng vì cuộc gọi nhầm, hăng hái bắt tàu Shinkansen đến Tokyo.
Sáng sớm ngày 31 tháng 3 năm đó, em mua một bó hoa, bắt tàu điện đến sân bay quốc tế Tokyo. Em đứng đợi ở cổng ra suốt cả ngày trời. Bó hoa bị em siết quá chặt, rũ đầu xuống như thể đã héo rũ.
Em đã không đợi được anh.
Em bắt chuyến tàu cuối cùng về lại Tokyo, đến Shinjuku – nơi chúng ta gặp nhau lần đầu. Ở đó vẫn tập trung rất nhiều đứa trẻ vô gia cư, nhưng Nana không còn ở đó nữa. Em đứng giữa phố lộng gió lạnh, chờ cho đến sáng. Lần lượt có vài cô gái đến bắt chuyện, họ hỏi em từ đâu đến, đang chờ đợi điều gì. Em kiên nhẫn trả lời từng người một.
“Em đang đợi vị thần của mình.”
Em rút từng bông hoa trong bó hoa tặng cho họ. Sau khi tặng hết hoa, em rời khỏi Shinjuku.
Kể từ đó, em vẫn tiếp tục gửi mail cho anh. Em từng chất vấn tại sao anh không trả lời, từng phát điên mà viết cả trang giấy toàn câu “Anh ở đâu”, rồi lại cuống cuồng xin lỗi ở bức thư tiếp theo. Dần dần, em chấp nhận sự thật rằng anh đã bặt vô tín thư, không còn dám xa xỉ hy vọng vào một lời hồi âm nữa.
Em sống lặng lẽ, và nỗ lực sống hơn bao giờ hết. Mặc dù nhút nhát và không giỏi ăn nói, em vẫn kết giao được với vài người bạn Trung Quốc. Em bắt đầu học tiếng Trung. Năm thứ hai đại học, em đã thi đỗ chứng chỉ HSK 6.
Tiếng Trung của em ngày càng tốt hơn rồi. Em thực sự ước gì anh có thể nghe thấy.
Sau đó, vào ngày 31 tháng 3 hàng năm, em đều bắt tàu điện đến sân bay quốc tế Tokyo, giống như một cuộc hành hương.
Em ôm hoa, và ôm cả hy vọng.
Em ở sân bay suốt một ngày rồi mới trở về.
Năm thứ ba đại học, em mất đi ông ngoại. Ông bị ngã khi đang sửa mái nhà, ngày hôm sau khi mọi người phát hiện ra thì ông đã qua đời. Em tức tốc trở về lo hậu sự, kế thừa những thửa ruộng và ngôi nhà cũ. Những thửa ruộng đó sau này được công ty đường sắt thu mua, nhờ vậy mà em có được một khoản tiền khổng lồ.
Thế nhưng em lại một lần nữa mất đi người thân. Người thân duy nhất của em.
Sau khi ông ngoại qua đời, trái tim em như bị thủng một lỗ hổng lớn.
Em đổ bệnh, một mình nằm viện. Ngày xuất viện, hoa anh đào ngoài cửa sổ đã nở rộ, em mở cửa sổ, một cánh hoa nương theo gió bay vào giường bệnh.
Nhìn cánh hoa đó, em quyết định sẽ tới Trung Quốc.
Em sẽ đi tìm anh. Em không chờ đợi nữa, em phải đi tìm anh.
Năm thứ tư đại học, em nhận được thông báo trúng tuyển của sở thú Seinohara. Đồng thời, em bắt đầu chuẩn bị cho việc đi du học Trung Quốc.
Một người bạn cùng phòng nghiên cứu cứ nhiệt tình mời em tham gia buổi giao lưu nhóm. Em đã từ chối vài lần. Sau khi cậu ta nài nỉ mãi, cuối cùng em đồng ý đi một lần duy nhất.
Trong buổi gặp gỡ đó, em đã gặp lại Shimono Mei.
Chúng em lấy cớ lẻn ra ngoài, tìm một quán cà phê yên tĩnh.
Được gặp lại Mei, em thực sự rất vui. Đôi mắt Mei ngân ngấn nước, cô ấy luôn mỉm cười khi nhìn em. Chúng em đã chuyện trò rất nhiều về trường lớp, về cuộc sống ở Tokyo và công việc sắp tới.
Em lờ mờ cảm thấy như được trở lại thời thơ ấu, trở lại góc khuất trong thư viện năm nào, khi hai đứa ngồi bên nhau giữa những giá sách, tự do giãi bày tâm sự.
Trước lúc chia tay, Mei nắm lấy tay em nói: “Touma, được gặp lại cậu thật tốt quá.”
Em nắm lại tay cô ấy: “Cảm ơn cậu.”
Mei khẽ lắc đầu, ra hiệu cho em đừng nói tiếp. Cô ấy đổi chủ đề, cười tươi hỏi: “Bây giờ cậu đã có người mình thích chưa?”
Em cũng cười: “Có lẽ là có rồi.”
Sau khi liên lạc lại với Mei, thi thoảng chúng em hẹn nhau đi uống rượu trò chuyện như những người bạn bình thường. Giữa chúng em có một sự ngầm hiểu: cả hai đều tuyệt đối không nhắc lại kỳ nghỉ xuân năm ấy. Em không kể cho Mei nghe về anh, và Mei cũng không nhắc đến việc Yuto đã làm chứng giả cho em.
Lúc đó em hoàn toàn không biết về sự hy sinh của Mei. Để che giấu tội trạng cho em, cô ấy thậm chí đã buộc phải hẹn hò với Yuto một thời gian.
Mùa xuân năm tốt nghiệp đại học. Ngày 31 tháng 3 năm 2012, em lại đến sân bay quốc tế Tokyo.
Em vẫn không đợi được anh.
Nhưng em đã đợi được một người khác.