Lần đầu Tạ Sùng gặp người thương của Tưởng Vu là trong đám cưới của cô ấy.
Đó là một người vượt xa mọi hình dung của Tạ Sùng.
Người đàn ông đó gầy nhom, nước da đen sạm, vẻ mặt nghiêm nghị và chẳng có gì trong tay. Chiếc nhẫn cưới anh ta tặng Tưởng Vu chỉ là một vòng bạc trị giá mười tệ, ngoài ra không còn gì khác. Anh ta là huấn luyện viên các môn thể thao mạo hiểm: trượt tuyết, lướt sóng, cưỡi ngựa, nhảy dù, thi thoảng còn làm nhiếp ảnh gia du lịch. Anh ta di cư khắp thế giới theo cảm hứng, nghèo khó và tự do.
Anh ta chẳng giống bất kỳ ai từng theo đuổi Tưởng Vu trước đây, không phải đại gia xe sang, cũng chẳng phải nghệ sĩ lãng tử, chỉ là một người Tưởng Vu tình cờ gặp trên bãi biển, rồi ngày hôm sau quyết định kết hôn.
Tạ Sùng không thể hiểu nổi.
Anh không hiểu tại sao Tưởng Vu lại đối xử với bản thân cô ấy như vậy, cứ như thể cô ấy có mối thù sâu nặng với chính cô ấy.
Tiền Tụng cũng chẳng hiểu được.
Tiền Tụng nhìn người đàn ông kia, thì thầm với Tạ Sùng: “Thằng cha này không đập đá đấy chứ, sao trông hãm tài thế nhỉ? Nhìn chẳng khác gì con khỉ!”
Thực ra người đàn ông đó không xấu, ngoại hình rất nam tính. Đôi mắt to đầy vẻ hung dữ ngự trên khuôn mặt góc cạnh, đôi môi mỏng luôn mím chặt.
Tưởng Vu hỏi Tạ Sùng thấy người đó thế nào, Tạ Sùng đáp chỉ cần cậu thích là được. Tưởng Vu khẽ cười, bảo tớ cực kỳ thích anh ấy. Tưởng Vu cảm thấy chồng mình không giống Tạ Sùng, Tạ Sùng quá lịch sự, cứ như một con người giả tạo. Còn chồng cô ấy thì không lịch sự, anh ta rất điên cuồng.
Đám cưới của họ hầu như không thể gọi là một đám cưới, chỉ là bao trọn một quán bar nhỏ, mười mấy người bạn ngồi đó uống rượu. Người đàn ông đó có vài gã “bạn bè xấu”, đều là đồng nghiệp và những người đam mê thể thao mạo hiểm.
Tạ Sùng vốn không uống rượu, anh lặng lẽ ngồi đó nhìn cảnh náo nhiệt trước mắt, chợt nghĩ về bố mẹ của Tưởng Vu.
Mùa hè năm 1998, trường đua ngựa bị cháy, bố Tưởng Vu kéo bọn họ ra khỏi trường đua ngựa, nhưng khi quay lại cứu ngựa, ông bị cột nhà đè trúng, bỏng diện rộng, phải nằm viện nửa năm, sau đó vẫn quay lại trường đua làm việc. Vì vết bỏng khiến khuôn mặt biến dạng sợ làm trẻ con hoảng sợ, ông chuyển sang làm công việc chăm sóc ngựa.
Mùa hè năm 2004, bố Tưởng Vu dẫn ngựa ra suối uống nước, không may trượt chân ngã xuống nước.
Có người bảo không phải trượt chân, nhưng ông đã mất rồi, mọi lời nói cũng chỉ là suy đoán.
Năm 2006, mẹ Tưởng Vu tìm được công việc dắt ngựa ở Tân Cương nên đã rời khỏi Bắc Kinh.
Năm 1998 Tạ Sùng đã không còn học cưỡi ngựa nữa, nhưng khi ấy anh chẳng có chỗ nào để ăn cơm, đôi khi không muốn ra tiệm thì lại đến trường đua, ở lì trong ký túc xá. Ngày xảy ra hỏa hoạn, mẹ Tưởng Vu đã làm cho anh món thịt cừu hầm.
Mẹ Tưởng Vu không đến dự đám cưới, cũng có thể Tưởng Vu vốn chẳng hề nói với bà.
Tiền Tụng cũng không uống rượu.
Anh ta nhìn mấy người bạn của chồng Tưởng Vu mà thấy ngứa mắt. Mấy tên đó như lũ điên, cứ nhảy lên nhảy xuống.
“Bọn dở hơi.” Tiền Tụng suýt chút nữa thì nhổ bãi nước bọt. Hành động này bị một gã trong số đó nhìn thấy, gã nháy mắt ra hiệu cho những kẻ khác kéo đến tìm Tiền Tụng ép rượu. Tiền Tụng không muốn uống, gã kia liền khích: Bạn của Tưởng Vu mà cũng kém thế à.
Tiền Tụng nghe vậy liền nổi đóa, định làm màu với ai chứ, thế là đòi uống với bọn họ. Tạ Sùng ngăn cản vì không muốn anh ta hành động theo cảm tính, nhưng chồng Tưởng Vu lại bảo: “Uống một ly đi, tôi tin là các anh thực lòng chúc phúc cho Tưởng Vu.”
Tiền Tụng bị đẩy vào thế bí, mấy người bạn cùng học cưỡi ngựa năm xưa cũng phụ họa theo, bắt đầu uống với đối phương. Chồng Tưởng Vu cứ nhìn chằm chằm Tạ Sùng, Tạ Sùng không uống, bọn họ liền ép Tiền Tụng uống. Thấy sắp ẩu đả đến nơi, Tạ Sùng đành bưng ly rượu lên.
Là vì Tiền Tụng.
Và cũng để không phá hỏng đám cưới của Tưởng Vu.
Tạ Sùng nghĩ: Bố Tưởng Vu là người tốt như thế, nếu trên trời có linh thiêng mà biết đám cưới của con gái bị thằng nhóc mình cứu năm xưa phá hỏng, chắc ông sẽ buồn lắm. Thôi thì coi như báo đáp ơn nghĩa vậy.
Anh vừa bưng ly rượu lên, lũ người đó liền không ngừng ép anh uống. Chồng Tưởng Vu dường như có thù với Tạ Sùng, vừa gọi anh gọi em, vừa nháy mắt cho người ta chuốc say anh. Tạ Sùng nhìn cảnh này, biết rằng tình bạn giữa Tưởng Vu và hội học cưỡi ngựa này đến đây là chấm dứt, chồng cô ấy sẽ không đời nào muốn cô ấy chơi với họ nữa. Lòng anh thấy hơi xót xa.
Sao Tưởng Vu lại đến nông nỗi này.
Nhưng anh vẫn thản nhiên uống rượu.
Đến hơn ba giờ sáng, cảnh tượng đã vô cùng hỗn loạn. Anh lấy điện thoại ra bảo tôi đi gọi lại cuộc điện thoại, nhưng chưa kịp bấm số đã bị Tiền Tụng giật mất. Tiền Tụng bảo trên đời này có bao nhiêu phụ nữ thích cậu…
Tạ Sùng lồm cồm bò dậy khỏi ghế sofa ngăn Tiền Tụng lại: “Không phải chuyện đó, không phải chuyện đó…”
“Thế thì là chuyện gì?” Tiền Tụng cũng say khướt: “Chuyện gì cơ chứ?”
“Tôi…” Tạ Sùng uống đến mức buồn nôn, cuối cùng mới nói được một câu trọn vẹn: “Tôi thấy tiếc cho Tưởng Vu quá.”
“Tiếc…”
Tạ Sùng dùng chút lý trí cuối cùng dìu mấy người bạn học cưỡi ngựa ra khỏi quán bar.
Đêm đông Bắc Kinh cứ thế đột ngột ập đến.
Mùa đông hiu hắt, gió lạnh thấu xương, bọn họ gục bên thùng rác mà nôn thốc nôn tháo. Đám bạn hỏi Tạ Sùng sao không cho bọn chúng một trận, cái lũ ngu xuẩn đó.
Tạ Sùng bảo: “Huấn luyện viên Tưởng sẽ không vui đâu.”
Mọi người đều im bặt, cuối cùng mỗi người tự bắt xe ra về.
Tiền Tụng lảm nhảm đòi về nhà Tạ Sùng ngủ, hai người về bằng cách nào, Tạ Sùng đã chẳng còn chút ấn tượng nào nữa.
Ngày hôm sau ngủ mãi đến trưa, mở mắt ra anh nhớ mang máng Mâu Văn từng gọi cho mình, gọi lại thì báo thuê bao. Anh xem nhật ký cuộc gọi, thấy đêm qua mình đã gọi đi năm sáu cuộc, cuộc gọi cuối cùng đã kết nối thành công.
Ba giờ sáng, anh không nhớ mình đã gọi cuộc điện thoại đó. Anh gọi Tiền Tụng dậy hỏi, Tiền Tụng cũng ngơ ngác.
Ba Đồ Lỗ gì cơ, Ba Đồ Lỗ là gì, đêm hôm cậu gọi điện cho Ba Đồ Lỗ làm gì? Không có chuyện đó đâu. Tiền Tụng nói vậy.
Tạ Sùng đứng dậy dọn dẹp hành lý, anh phải đi Hồng Kông một chuyến để tham gia một buổi đấu giá.
Tạ Sùng từng được mời tham gia vài buổi đấu giá, nhưng bản thân anh chưa bao giờ ra giá, anh chỉ giơ bảng hộ người khác, đơn thuần là để mở mang tầm mắt. Anh có được rất nhiều cảm hứng từ các hiện vật đấu giá, về nhà tự tay vẽ phác thảo, rồi gửi đến xưởng, thiết kế và sản xuất trọn gói.
Lần này thì khác, là Vương Tiên Hạc bỏ tiền mời anh đi. Anh là khách hàng lớn của văn phòng luật Vương Tiên Hạc, mỗi năm đều nộp cho cô ấy không ít tiền. Lần này Vương Tiên Hạc bảo Sotheby’s* sắp đấu giá một món đồ sứ, người ủy thác của cô ấy nhờ cô ấy tìm người đi thẩm định giúp. Trong số khách hàng của Vương Tiên Hạc cũng có những nhà sưu tập, nghệ sĩ thực thụ, nhưng cô ấy cảm thấy “người chẳng thuộc phe nào” như Tạ Sùng là hợp nhất, nên mời Tạ Sùng giúp đỡ.
*Một hãng đấu giá
Tạ Sùng khó khăn lắm mới bắt được cơ hội hút máu lại từ Vương Tiên Hạc, anh mở miệng đòi ngay 100 nghìn tệ, lại còn phải ở Khách sạn Four Seasons đời đầu. Vương Tiên Hạc đành bất lực đồng ý.
Dọn xong hành lý Tạ Sùng gọi lại cho Mâu Văn, vẫn không liên lạc được. Anh lờ mờ cảm thấy Mâu Văn gặp chuyện gì đó, bèn quyết định đến công ty tìm cô. Đến cổng công ty gặp Lâm Vi Sâm tán gẫu vài câu, hỏi thăm tình hình cô trợ lý nhỏ Mâu Văn, Lâm Vi Sâm bảo cô liều mạng lắm, hôm nay đi đo nhà rồi, hỏi có phải Tạ Sùng tìm cô không.
Tạ Sùng thấy sự tò mò thoáng qua trong mắt Lâm Vi Sâm, liền bảo không tìm, tôi với cô ấy không thân. Có người bạn muốn trang trí nhà, sau này sẽ giới thiệu cho kỹ sư Lâm. Rồi anh bỏ đi.
Còn Mâu Văn sau khi làm xong thủ tục đổi số đã quay lại văn phòng để “vật lộn” với “anh Chử”. Tiểu Cố đi công tác về họp thấy đầu cô sắp chui tọt vào máy tính, liền bước đến bóp vai cho cô, bảo cô nghỉ một lát.
Mâu Văn thấy Tiểu Cố không được vui, bèn hỏi nhỏ: “Sao thế chị?”
Tiểu Cố ghé tai cô nói: “Bị trừ lương thưởng rồi.”
“Tại sao ạ?”
“Tháng trước bé con bị ốm chị xin nghỉ, họ trừ tiền chuyên cần của chị.” Tiểu Cố nói.
“Không đúng, chị đã đổi ca mà, chẳng phải chị đã làm bù rồi sao?” Mâu Văn bảo: “Tại sao lại trừ?”
“Sếp bảo nếu ai cũng thế thì sau này mọi người cứ tùy tiện đổi ca, trật tự sẽ loạn hết.” Tiểu Cố thở dài: “Không sao, chỉ trừ bốn trăm năm mươi tệ thôi.”
“Sếp nào vậy ạ? Chẳng phải thầy em quyết định sao?” Mâu Văn nói: “Trước đây thầy xin nghỉ em làm thay… cũng đâu có trừ chuyên cần đâu.”
“Trừ hay không sao em biết được?” Tiểu Cố véo Mâu Văn: “Em đừng có lo chuyện bao đồng, quên công ty yêu cầu phải bảo mật bảng lương rồi à?”
Mâu Văn thấy hơi giận, Tiểu Cố liền bảo cô: “Em đừng giận thay chị, sau này em tự chú ý một chút là được. Chính sách quản lý của công ty giờ thay đổi hằng ngày, em phải để ý.”
“Vâng.” Mâu Văn nói: “Em mời chị đi ăn cơm, chúng mình đi ăn món gì ngon nhé. Không được buồn nữa.”
“Ăn Haidilao đi.”
“Duyệt!” Mâu Văn sảng khoái đồng ý.
Ngày hôm sau cô đến hiện trường, lại gặp anh Chử và cô Vương.
Cô Vương thì thầm với Mâu Văn: “Anh Chử không tìm đơn vị thiết kế khác đâu.”
Mâu Văn hơi ngạc nhiên: “Tại sao ạ? Chẳng phải trước đó nói là phải so sánh các bản vẽ sao?”
Cô Vương cười: “Anh Chử bảo: Ở Bắc Kinh gặp được đồng hương không dễ chút nào.” Rồi cô ấy thắc mắc: “Cô cũng là người Nha Khắc Thạch sao?”
Mâu Văn cười: “Đúng thế, tôi cũng vậy.”
Cô Vương dường như đã hiểu ra.
Cô gái trước mắt này quá đỗi thông minh. Cô không một tiếng động đã tung ra quân bài “đồng hương”, khéo léo loại bỏ mọi đối thủ cạnh tranh ra ngoài vòng chiến. Cô Vương là người từng trải, nhìn người cực chuẩn, lúc này cảm thấy cô gái trước mặt không hề tầm thường.
Ánh mắt cô sáng rực, tâm tư hoạt bát, một tham vọng đã chắp cánh, sẵn sàng vỗ cánh bay cao.
Cô Vương không ghét kiểu người thế này, vì chính cô ấy cũng là người như thế.
“Cố lên nhé, cô bé Nha Khắc Thạch.” Cô Vương trêu: “Cô có thể trao đổi thêm với anh Chử về yêu cầu của anh ấy, nếu không có vấn đề gì lớn thì tháng mười hai có thể ký hợp đồng chính thức.”
“Tuyệt quá! Cảm ơn cô.”
Mâu Văn quay sang tìm Chử Ngọc Khê.
Chử Ngọc Khê đang đi dạo trên bãi đất trống, từng bước từng bước như đang đo đạc thứ gì đó. Thấy Mâu Văn, anh ấy hỏi: “Hiện giờ ngựa ở khu chăn nuôi còn nhiều không?”
Nhắc đến khu chăn nuôi là Mâu Văn hào hứng hẳn lên, cô chạy đến trước mặt Chử Ngọc Khê, kể cho anh ấy nghe ngựa ở đó lợi hại thế nào, người chăn nuôi tình cảm với ngựa ra sao, giờ đây họ vẫn cưỡi ngựa xuống phố. Trên đường phố Nha Khắc Thạch thường xuyên thấy cảnh người dân cưỡi ngựa.
Chử Ngọc Khê gật đầu.
“Ông nội tôi là người chăn ngựa.” Chử Ngọc Khê nói: “Nhưng năm năm tuổi tôi đã rời khỏi khu chăn nuôi, không còn nhớ rõ chuyện trước kia nữa. Tôi cũng không tìm thấy họ.”
“Nếu anh Chử muốn biết, hoặc muốn tìm ai đó, anh có thể nói với tôi. Bố tôi là thông tin viên của Nha Khắc Thạch đấy, ông ấy lái chiếc xe nhỏ đi khắp vùng Hô Luân Bối Nhĩ và dãy Đại Hưng An Lĩnh, ông ấy quen biết rất nhiều người.” Mâu Văn nói: “Tiệm bánh bao của mẹ tôi cũng là một trạm thông tin đấy ạ.”
“Được thôi. Nếu tôi muốn tìm.” Chử Ngọc Khê lại bắt đầu đo đạc trên đất, Mâu Văn rón rén hỏi: “Anh… muốn trồng rau… ạ?”
Chử Ngọc Khê liếc nhìn Mâu Văn một cái, không trả lời.
Thế là Mâu Văn lặng lẽ đứng đó đợi Chử Ngọc Khê nói chuyện với mình. Cô cảm nhận được Chử Ngọc Khê không nói chuyện tuyệt đối không phải vì ngạo mạn, mà là đang đắm mình trong suy tưởng. Lần này Mâu Văn không còn sợ Chử Ngọc Khê đến thế nữa.
Lúc chia tay cô xin địa chỉ của cô Vương, về công ty liền gửi tặng bà đặc sản quê hương, nhờ cô ấy chia sẻ với anh Chử.
Chử Ngọc Khê đã chủ động gọi điện cho cô một lần để cảm ơn món quà quê. Anh ấy nói trong điện thoại: Tôi đã nhớ lại cảnh uống trà sữa ở trang trại hồi mấy tuổi. Cảm ơn kỹ sư Mâu đã giúp tôi tìm lại ký ức tuổi thơ.
Mâu Văn chân thành đáp: “Tôi mới đến Bắc Kinh, gặp nhiều chuyện không vui. Mỗi lúc buồn tôi lại ăn chút đặc sản quê hương, thế là thấy vui ngay ạ.” Cứ như thể quê hương luôn đứng sau lưng cô vậy.
Chử Ngọc Khê bảo: “Vậy thì cảm ơn cô. Đợi tháng mười hai khoản tiền của tôi về, chúng ta có thể ký hợp đồng và thanh toán đợt một.”
“Cảm ơn anh Chử, không gấp ạ, tôi sẽ làm mọi việc thật hoàn hảo trước đã.”
Cô thực sự bận rộn suốt mấy ngày.
Có đôi khi cô nhớ đến Tạ Sùng, lấy điện thoại ra, ngón tay đặt lên số của anh định gọi. Nhưng rồi lại úp điện thoại xuống mặt bàn.
Mâu Văn nhận ra rằng nỗi nhớ có thể kiểm soát được.
Cô có thể sắp xếp rất nhiều việc khác, khiến mình quay cuồng như một con quay, như vậy Tạ Sùng sẽ bị cô quẳng ra sau đầu.
Một ngày đầu tháng mười hai, cô tăng ca đêm về đến nhà, thấy một bóng dáng quen thuộc trước cửa.
Dù chỉ nhìn thoáng qua Mâu Văn cũng nhận ra đó là Tạ Sùng.
Tạ Sùng đứng dưới gốc cây trước cổng tòa nhà đợi cô. Mùa đông hiu hắt, chiếc khăn quàng cổ màu xám khói của anh là điểm nhấn màu sắc duy nhất trong đêm.
Mâu Văn thầm nghĩ: Tạ Sùng lại có thời gian đến làm bạn với mình rồi. Nhưng lúc này, cô đã không còn bất kỳ ý muốn mãnh liệt chủ động bước tới gần Tạ Sùng nữa.
Cô bước đến nói với anh: “Tạ Sùng, lâu rồi không gặp.”
“Cũng một tháng rồi nhỉ.” Tạ Sùng nói: “Tôi đi công tác, đến Hồng Kông, Tokyo và London.”
Chắc hẳn Mâu Văn lại đổi số điện thoại, nhưng cô không thông báo cũng không liên lạc với anh. Anh đã gọi cho cô vài cuộc nhưng đều không liên lạc được. Tạ Sùng cảm thấy Mâu Văn là một người rất kỳ lạ, cô đổi số liên tục và cũng không chủ động báo cho ai, cứ như thể ở Bắc Kinh này chẳng có ai mà cô muốn giữ liên lạc lâu dài vậy.
“Thế nào? Mọi việc thuận lợi chứ?” Mâu Văn hỏi anh.
“Cũng ổn.” Tạ Sùng lấy một chiếc túi từ trên cành cây xuống đưa cho cô: “Quà lưu niệm.”
“Ồ, cảm ơn anh.” Mâu Văn nhận lấy, nhìn Tạ Sùng.
“Đêm trước khi tôi đi cô có gọi điện cho tôi, sau đó tôi gọi lại thì không gọi được nữa. Hôm đó có chuyện gì xảy ra sao?” Tạ Sùng hỏi.
Mâu Văn suy nghĩ một chút rồi lắc đầu: “Không có gì đâu, tôi vô tình bấm nhầm thôi. Có chuyện thì tôi đã gọi lại cho anh rồi.”
“Cô lại mất điện thoại à?”
“Lần này không mất. Lần này là đổi số.” Mâu Văn đáp. Nhưng cô không giải thích gì thêm, cô cảm thấy Tạ Sùng chắc cũng chẳng để tâm.
Tay Tạ Sùng để trong túi áo khoác rất lâu, cuối cùng cũng lấy điện thoại ra đưa cho Mâu Văn, bảo cô nhập thông tin liên lạc mới vào.
“Ơ?” Mâu Văn trêu anh: “Chẳng phải anh có trí nhớ siêu đẳng sao! Tôi đọc cho anh là được mà.”
“Chẳng cần nhớ số của cô làm gì, dù sao vài ngày nữa cô cũng sẽ đổi số thôi.”
Mâu Văn gật đầu, nhập số mới vào điện thoại Tạ Sùng. Tạ Sùng cất điện thoại, nói: “Có việc gì thì thường xuyên liên lạc.” Rồi quay người bỏ đi.
Mâu Văn về đến nhà, mở chiếc túi Tạ Sùng tặng cô ra.
Khăn quàng cashmere từ London, bánh quy kẹp nhân Shiroi Koibito từ Nhật Bản, bánh sừng bò bơ từ Hồng Kông. Món nào trông cũng rất đẹp. Cô thấy ở giữa hộp thiếc Shiroi Koibito là một bức tranh thủy mặc vẽ một chú cừu nhỏ đứng trên đồng cỏ, trông vô cùng xinh xắn.
Khi Sở Lăng về, cô khoe với Sở Lăng: “Sở Lăng cậu nhìn này, cái vỏ hộp Shiroi Koibito này vẽ quê tớ đấy.”
“Hàng đặt riêng đấy!” Sở Lăng bảo: “Nhìn là biết hàng đặt làm riêng tại chỗ rồi.”
“Hả?”
Sở Lăng cười, mở máy tính tìm kiếm mẫu gốc cho cô xem. Mâu Văn ôm chiếc hộp thiếc thầm nghĩ: Hóa ra trong chuyến hành trình dài dằng dặc ấy, cũng có đôi ba khoảnh khắc Tạ Sùng nhớ đến mình.
Anh ấy cũng từng nghĩ về mình.
Ba ngày sau, Mâu Văn quàng chiếc khăn cashmere Tạ Sùng tặng đi làm. Hôm nay tâm trạng cô rất tốt, vì anh Chử sẽ đến công ty ký hợp đồng dịch vụ, thanh toán trước 50 nghìn tệ, sau khi phương án trang trí cuối cùng được xác nhận sẽ thanh toán theo từng đợt.
Trên đường đi Mâu Văn nhận được điện thoại của một khách hàng, bảo đường ống nước nóng trong nhà bị đi sai chỗ, nhờ cô qua hiện trường xem giúp, Mâu Văn đồng ý. Cô nhìn đồng hồ thấy vẫn kịp thời gian nên qua chỗ khách hàng trước. May mà chỉ là một phen hú vía, không có vấn đề gì, chỉ là khách hàng nhìn nhầm bản vẽ. Khi cô tất tả chạy đến công ty thì thấy phòng họp trống trơn.
Cô gọi điện cho cô Vương, cô ấy bảo hợp đồng đã ký xong rồi, mong được hợp tác.
Mâu Văn có trực giác không lành, cô tìm đồng nghiệp lấy hợp đồng ra xem, thấy trong điều khoản bổ sung, người thiết kế chính ghi là: Lâm Vi Sâm.
Mâu Văn không thể hiểu nổi, cô đến thẳng chỗ Lâm Vi Sâm.
Lâm Vi Sâm nói với cô: “Anh Chử là một khách hàng có thực lực, em làm thiết kế chính thì thâm niên còn non quá. Công ty sẽ trích cho em 10% tiền thưởng dịch vụ, những việc khác em không cần quan tâm nữa.”
Mâu Văn đứng hình.
Trước đây cô vẫn thường nghe Sở Lăng kể về những chiêu trò mờ ám trong công ty của họ, lúc đó cô còn bảo sao mà ghê tởm thế, sao lại có thể như vậy? Không ngờ trong tương lai gần cô lại gặp phải chuyện còn ghê tởm hơn: Cướp trắng trợn.
Cướp trắng trợn, mà còn nói một cách đầy đường hoàng như thế.
Lúc này Lâm Vi Sâm mới bảo: “Văn Văn à, thầy dẫn dắt em từ lúc em còn thực tập. Thầy biết em có năng lực, nhưng hiện tại em quả thực chưa đủ khả năng để phục vụ một khách hàng lớn như thế này. Thầy giúp em lần cuối này, nâng đỡ em lên, sau này em có thể tự lập được rồi.”
“Cảm ơn thầy. Nếu đã vậy, để em làm thiết kế chính, thầy chỉ dẫn cho em, em chia cho thầy 10% tiền thưởng, được không ạ? Thầy, em mới đến Bắc Kinh, em rất cần số tiền này.”
“Em mà làm hỏng việc của khách thì chẳng còn gì đâu!” Lâm Vi Sâm nói: “Thầy muốn tốt cho em thôi. Nếu em thấy thầy làm sai, em có thể đi tìm sếp mà trao đổi.”
Mâu Văn đã hiểu, bọn họ đã dám làm vậy thì tức là đã thông đồng với nhau cả rồi. Bọn họ ỷ vào việc cô ở Bắc Kinh chẳng có gì trong tay, dù có chịu uất ức thấu trời cũng sẽ phải mỉm cười mà nuốt xuống.
Đúng vậy, bọn họ đã đoán đúng, Mâu Văn mỉm cười nói: “Vậy vất vả cho thầy rồi ạ, sau này nếu làm tốt, thầy nhớ chia thêm cho em chút tiền thưởng nhé.”
Mâu Văn bước ra khỏi công ty, suýt chút nữa bị gió lớn quật ngã.
Đêm đông Bắc Kinh nổi trận cuồng phong, biển quảng cáo bị lật tung, cành cây bị bẻ gãy cuốn lên trời rồi rơi xuống mắc kẹt đâu đó, những chiếc túi nilon cuối cùng cũng được tự do mà bay lượn giữa không trung, con người cũng chẳng còn hiên ngang sải bước mà phải khom lưng ôm vai đầy thảm hại.
Trận gió lớn đã lật ngược bộ mặt của Bắc Kinh.
Mọi thứ chẳng còn chút thể diện nào.
Từ nhỏ Mâu Văn đã là người hiếu thắng, ai cướp đồ của cô cô phải đòi lại cho bằng được, thích cái gì là sẽ nỗ lực để đạt được cái đó, cô chưa bao giờ ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế nên cô cũng chẳng biết rằng cái ngậm bồ hòn làm ngọt mới là thứ khó ngậm nhất.
Giờ thì cô đã biết rồi.
Cô đi ngược gió trong đêm tối, cố gắng rũ bỏ cái cảm giác ghê tởm vì bị “bắt nạt” kia. Không được, cô không thể cứ thế mà bỏ qua.
Đúng lúc này Tạ Sùng gọi điện đến, Mâu Văn tiện tay cúp máy, cô không muốn nghe, không muốn nói chuyện với bất kỳ ai. Cô dừng bước, đứng trong gió lạnh một lúc, chỉ trong chốc lát đó, trong đầu cô hiện lên hàng vạn ý nghĩ, mỗi ý nghĩ đều là một lối thoát hoặc một hướng tiến mà cô mong muốn.
Cô gọi lại cho Tạ Sùng.
Tạ Sùng nghe thấy tiếng gió rít trong điện thoại, hỏi: “Cô đang ở đâu?”
“Tôi đói rồi, tôi muốn ăn gì đó.” Mâu Văn nói: “Tôi có thể qua nhà anh ăn chút gì không? Nhà anh có không? Tôi tự nấu cũng được.”
Giọng cô hơi khàn, như đang kìm nén điều gì. Tạ Sùng lo lắng cô gặp chuyện, liền bảo: “Được. Tôi đi đón cô.”
“Không cần đâu. Tôi tự qua.”
Mâu Văn gọi taxi, lần hiếm hoi cô chủ động gọi taxi.
Chiếc taxi cứ thế lao về hướng Vạn Liễu, Mâu Văn nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ. Nội tâm cô không ngừng giằng xé, khi xuống xe, cô lại bị gió thổi cho giật mình tỉnh táo.
Cô nghĩ: Nếu nhất định phải có một người chiến thắng, tại sao người đó không thể là mình? Tại sao người thắng cuộc không thể là mình chứ?
Cô bấm chuông nhà Tạ Sùng, ngay khoảnh khắc anh vừa mở cửa, cô đã bước lên và hôn anh!
Đầu óc Tạ Sùng bỗng chốc nổ tung, trận cuồng phong ngoài kia dường như cũng lật nhào thế giới của anh. Anh ôm chầm lấy Mâu Văn vào lòng, cuồng nhiệt đáp lại nụ hôn của cô.
Cô dường như hối hận, cơ thể hơi lùi lại né tránh. Anh đưa tay nắm lấy gáy cô, ép chặt cả người cô vào cánh cửa, đưa lưỡi vào miệng cô.
Hoảng loạn, bối rối, lạ lẫm, l* m*ng, cứ để ý chí dẫn dắt mà hôn cô, chẳng buồn hỏi tại sao cô lại làm vậy. Hơi thở gấp gáp, hai gò má áp vào nhau mà th* d*c, rồi anh lại nghiêng đầu ngậm lấy đôi môi cô.
Trong lòng Mâu Văn có những dòng nước cuồn cuộn và những tiếng gào thét, chúng đều muốn tranh nhau xông ra phía trước. Cô biết điều này chẳng có gì sai trái cả!
“Làm bạn cũng được.” Mâu Văn ôm cổ Tạ Sùng nói: “Làm bạn cũng chẳng sao.”
“Chỉ cần là anh thôi.” Cô thì thầm.
Tuy nhiên, trong lời nói của cô, đã thiếu đi vài phần chân thật.
Chỉ mình cô biết, còn anh thì không.