Gió bấc cuối đông thổi thốc từ lòng sông Hồng lên triền đê rát rạt như xát muối.
Trời vừa qua canh năm, không gian bến đò Vạn Cát vẫn còn ngập ngụa trong một màu trắng đùng đục của màn sương muối dày đặc. Hơi nước buốt giá bốc lên từ dải phù sa đỏ quạnh phả vào mặt người ngầy ngậy mùi bùn non và cỏ dại thối mục. Dưới chân dốc, nơi con đò ngang của bà cụ Vấn còn nằm gối đầu im lìm lên bờ cát, những lượn sóng xao xác vỗ bì bõm vào mạn thuyền, nghe như tiếng thở dài nằng nặng của đất trời trong cơn giáp hạt.
Nguyễn Thị Thu kéo lại chiếc khăn len sợi màu cháo lòng đã sờn rách quấn chặt lấy cổ. Dáng người mảnh khảnh của cô lọt thỏm trong chiếc áo bông chần vải xanh công nhân cũ kỹ, hai bên nách đã phải đắp thêm những miếng vá bằng vải phin nõn nhuộm củ nâu. Đôi má cô gái hai mươi ba tuổi đỏ ửng lên vì lạnh, nhưng đôi mắt đen láy dưới hàng mi đọng sương lại sáng quắc, bền bỉ và kiên định đến lạ thường.
Thu đặt đôi quang gánh xuống nền đất ẩm ướt trước cửa lán rơm hoang. Chiếc đòn gánh tre bóng loáng kẽo kẹt trút bỏ gánh nặng, khẽ nảy lên trên bờ vai gầy.
Đây vốn là chiếc lán gác đò cũ bị bỏ phế từ dạo hợp tác xã gom thuyền bè về một mối rồi lập trạm kiểm soát trên đê. Mái rạ bên trên sau mấy mùa mưa nắng đã rữa nát quá nửa, chỉ còn trơ lại bộ rui mè bằng tre đực gầy guộc như những chiếc xương sườn xương xẩu. Rễ phụ của cây đa cổ thụ buông rủ lòng thòng, quấn chặt lấy một góc cột cái xiêu vẹo, tạo thành một góc khuất hiếm hoi che chắn được những cơn gió quẩn từ lòng sông thốc ngược lên.
Thu không chần chừ. Đôi bàn tay xương xẩu, các đầu ngón tay đỏ ửng vì buốt giá bắt đầu thoăn thoắt dọn dẹp. Cô dùng một cành tre khô quét sạch lớp lá rụng và rác rưởi mục nát trên nền đất nện, rồi cẩn thận vần ba viên gạch ba banh vỡ sót lại từ chân kè đá chụm vào nhau thành hình chiếc kiềng ba chân. Cô đặt bếp ngay sát vách đất tổ tò vò còn lành lặn, nơi khuất gió nhất của căn lán.
Từ trong bồ sọt tre lót rơm khô, Thu lấy ra một nắm bổi rơm nếp vàng óng, khô khén mà cô đã cẩn thận gom góp từ đáy đụn rơm sau nhà, cùng một bó củi rười nhặt nhạnh ven bãi bồi hôm qua. Đó là những cành củi trôi sông đã được vớt lên, phơi qua mấy đợt nắng hanh heo hắt cho kiệt nước, khô giòn rụm.
Thu quỳ một bên gối xuống nền đất lạnh, rút chiếc bao diêm Thống Nhất bọc kỹ trong mảnh nilon giấu ở túi áo ngực. Bàn tay cô run run vì cóng, quẹt đến que thứ hai thì một đốm lửa đỏ au mới bừng lên kèm theo mùi lưu huỳnh ngai ngái. Cô vội vàng che vạt áo gió bấc, đưa que diêm bén vào túm rơm nếp.
"Lách tách..."
Lửa bén vào rơm khô, bùng lên một ngọn khói mỏng thơm mùi đồng nội. Thu chụm môi, nhẹ nhàng thổi đều hơi. Ngọn lửa vàng rực l**m láp lấy những thanh củi rười, tỏa ra hơi ấm râm ran khắp khuôn mặt thanh tú lấm tấm tro than. Ánh lửa bập bùng hắt lên đôi mắt trong veo của người con gái mồ côi, xua bớt đi bóng tối nhờ nhờ và cái lạnh chết người của bến sông buổi sớm.
Đặt chiếc nồi đồng méo mó đựng lưng nồi nước mưa hứng từ bể cạn lên kiềng gạch, Thu bắt đầu chuẩn bị ấm chè.
Đó là một chiếc ấm tích bằng đất nung tráng men da lươn đã sứt một mẩu nhỏ nơi miệng vòi, kỷ vật nghèo nàn duy nhất của người cha làm nghề bốc thuốc đông y để lại trước khi qua đời. Mẹ cô khi xưa vẫn thường dùng chiếc ấm này để hãm nước lá cho cả nhà uống mỗi vụ gặt.
Lá chè xanh là thứ chè trung du lá nhỏ, dày và xanh thẫm như cánh sẻ, được Thu trèo hái vội từ hai gốc chè cổ thụ mọc hoang nơi góc vườn nhà lúc gà vừa gáy canh tư. Từng búp chè bánh tẻ còn ướt đẫm sương đêm được cô rửa qua ba lượt nước mưa cho sạch bụi bặm, rồi đặt vào lòng bàn tay vò nhẹ. Thu không vò nát vụn, chỉ vò cho dập gân lá vừa đủ để tinh dầu chè tứa ra, như thế khi hãm nước mới giữ được sắc xanh biếc như ngọc và không bị nồng gắt.
Thả nắm lá chè vào đáy ấm, Thu lại rút từ túi vải ra một nhánh gừng già se sẻ, củ nhỏ thó nhưng chắc nịch và cay xè. Cô không dùng dao thái, mà vùi thẳng nhánh gừng vào lớp than hoa đang đỏ rực dưới đáy nồi. Chỉ một thoáng, mùi vỏ gừng cháy xém thơm lừng, ngai ngái và cay nồng bốc lên ngào ngạt. Thu dùng que tre khều nhánh gừng ra, thổi sạch lớp tro mịn rồi đặt lên một phiến đá hộc phẳng phiu, dùng sống chiếc liềm cắt cỏ đập dập một nhát dứt khoát.
Khi nước trong nồi đồng bắt đầu sôi mắt cua, sủi tăm lục bục, Thu nghiêng nồi rót một dòng nước sôi sùng sục vào miệng ấm tích. Đợt nước đầu tiên, cô chỉ tráng qua đáy ấm rồi chắt bỏ ngay để gột hết vị chát đắng của nhựa lá non. Kế đó, cô trút nhánh gừng nướng còn nóng hổi vào cùng, rồi mới rót dòng nước sôi đầy ắp tận miệng ấm, đậy nắp lại và nhấc đặt vào chiếc giỏ ủ đan bằng cật tre nhồi đầy rơm rạ vụn.
Hơi nóng bị giam cầm trong lòng ấm đất nung bắt đầu đánh thức từng tế bào của búp chè xanh và nhánh gừng già. Một làn hương thanh khiết, ngòn ngọt, chan chát quyện chặt lấy cái nồng đượm, ấm áp của gừng lan tỏa ra khắp không gian chật hẹp của túp lán rơm, rồi nương theo làn gió bấc bay là là mặt sông, đẩy lùi bức màn sương muối đặc quánh.
Thu ngồi tựa lưng vào gốc đa, hơ hai bàn tay thô ráp lên miệng bếp than hồng. Lòng cô trào dâng một cảm giác hồi hộp khôn tả. Hôm nay là buổi đầu tiên cô liều mình mang gánh nước ra bến đò.
Năm 1981, thời buổi ngặt nghèo, lúa má thất bát vì rầy nâu, hợp tác xã phân phối từng cân thóc kẹp lép. Một người con gái côi cút như cô, không người thân thích, lại gánh trên lưng món nợ tiền thuốc men thang chén ngày cha mẹ nằm bệnh, nếu cứ trông chờ vào những điểm công ba cọc ba đồng bị đội chấm công săm soi hạch sách thì chẳng mấy chốc sẽ chết đói trong mùa giáp hạt này. Cô nhớ đến cuốn sổ tay ố vàng của cụ ngoại giấu dưới đáy hòm gỗ mọt, nhớ những trang chép tay nắn nót về cách làm kẹo mộc, bánh đa. Nhưng trước mắt, khi không có vốn liếng, không có đường mật trong tay, thì một ấm nước chè xanh nóng hổi bán cho khách qua sông chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất mà Thu có thể bấu víu lấy.
"Cót két... lạch cạch..."
Tiếng mái dầm gác lên mạn thuyền vang lên khô khốc từ phía mép nước, cắt đứt dòng suy nghĩ miên man của Thu.
Thu giật mình ngước nhìn qua khe liếp rách. Dưới bến, bóng một người già lưng còng như cánh cung đang lom khom cắm sào neo đò. Là bà cụ Vấn.
Bà cụ kéo lại chiếc áo tơi lá cọ rách tươm, hai hàm răng đen nhánh va vào nhau lập cập vì dầm mình dưới sương sông suốt từ nửa đêm. Vừa bước lên được vài bậc dốc đá trơn trượt, cụ bỗng khựng lại, đôi mắt hấp háy hít một hơi thật sâu làn sương sớm.
"Chết nỗi... cái mùi gì mà ấm sực cả cánh mũi thế này? Nhà ai nhóm lửa nướng gừng sớm thế?"
Tiếng bà cụ Vấn khàn đặc, rung lên bần bật trong gió rét. Thu vội vã đứng dậy, bước ra mép lán rơm, hai tay khẽ chắp trước bụng, cất tiếng chào rụt rè:
"Cụ... cụ Vấn ơi! Cháu... cháu Thu ở xóm Đông đây ạ. Cháu nhóm bếp đun ấm nước chè xanh. Cụ lên đây hơ lửa cho đỡ cóng chân tay đi cụ!"
Bà cụ Vấn ngạc nhiên ngẩng đầu lên. Nhìn thấy bóng dáng nhỏ nhắn của Thu bên cạnh đốm lửa bập bùng trong túp lán hoang tàn, cụ chớp chớp mắt mấy lượt rồi chống cây dầm bơi bước lên dốc đá. Đôi bàn chân gầy guộc của bà cụ, các kẽ ngón chân nứt nẻ vì nước ăn chân rớm máu, run rẩy bước vào trong lán.
"Con bé Thu nhà ông lang đấy phỏng? Rõ khổ, mày làm cái giống gì giữa bến sông heo hút vào cái giờ rét căm căm này thế hả con?"
"Dạ, cháu... cháu đun ấm nước chè xanh, định bụng kê mấy hòn gạch bán cho bà con sang đò nhỡ bước uống cho ấm bụng cụ ạ," Thu ngập ngừng, hai má nóng bừng vì ngượng ngùng và lo sợ, "Cháu không có vốn, chỉ có mấy búp chè sau vườn... mong kiếm củ khoai củ sắn qua ngày giáp hạt..."
Bà cụ Vấn đảo mắt nhìn quanh căn lán rơm xơ xác, nhìn ba viên gạch ba banh vỡ làm kiềng bếp, rồi dừng lại ở chiếc ấm tích bọc rơm ấm sực. Một tiếng thở dài trút ra từ lồng ngực gầy guộc của người đàn bà đã chèo đò suốt nửa thế kỷ trên khúc sông Hồng này. Ánh mắt từng trải của cụ dịu lại, chan chứa một niềm xót xa, thương cảm.
"Thời buổi này... đến con cá dưới sông còn khó sống, huống hồ đứa con gái côi cút như mày. Thôi, mở hàng cho bà già này một bát xem nào. Cả đêm dầm sương dưới bãi, ruột gan tao nó thắt lại như bị ai xát ớt đây này."
"Dạ! Cụ đợi cháu một tý tẹo thôi ạ!"
Mắt Thu sáng rực lên. Cô vội vàng dùng chiếc gáo dừa múc nước sôi trong nồi tráng qua chiếc bát sành hoa dong thô mộc. Chiếc bát sành cổ dày dặn, viền men ngả màu vàng đục, sau khi được nước sôi sưởi ấm liền bốc lên mùi đất nung thân thuộc. Thu cẩn thận nhấc ấm tích khỏi giỏ ủ, nghiêng vòi rót một dòng nước sóng sánh vào bát.
Một dòng nước màu xanh hanh vàng như mật ong non tuôn ra, bốc khói nghi ngút. Trong lòng bát sành tráng men trắng đục, màu nước chè xanh biếc sóng sánh ánh lên như ngọc bích, bên trên điểm xuyết vài tinh dầu chè li ti óng ánh và một mẩu gừng nướng vàng ươm chìm dưới đáy. Hơi nước mang theo vị chát nhẹ và vị cay nồng xộc thẳng vào khứu giác.
Thu cung kính dùng cả hai tay bưng bát nước trao cho bà cụ Vấn:
"Cháu mời cụ ạ. Nước mới sôi, cụ uống từ từ kẻo bỏng miệng."
Bà cụ Vấn đón lấy bát sành. Đôi bàn tay còng queo, xám ngắt vì ngâm nước lạnh vừa áp vào thành bát đã run lên một nhịp khoan khoái. Cụ ghé môi vào miệng bát, khẽ thổi cho dạt làn khói nghi ngút rồi nhấp một ngụm nhỏ.
Dòng nước nóng bỏng trôi qua đầu lưỡi, ban đầu khẽ dội lại một vị chan chát đặc trưng của búp chè xanh đồi bãi. Nhưng chỉ một tích tắc sau, khi ngụm nước vừa trôi xuống cổ họng, vị cay nồng ấm sực của nhánh gừng già lập tức bùng nổ, lan tỏa râm ran xuống tận lồng ngực và đáy dạ dày. Và rồi, đọng lại nơi cuống họng là một vị ngọt hậu sâu thẳm, dịu mát và thanh khiết vô cùng, khiến người ta bất giác muốn chép miệng để thưởng thức lại cái dư vị ngọt ngào ấy.
"Khà..." Bà cụ Vấn khẽ thở hắt ra một hơi dài, sắc mặt nhợt nhạt vì gió lạnh bỗng chốc hồng hào trở lại. Đôi mắt già nua hấp háy nhìn chăm chú vào lòng bát sành.
"Ngon! Thật sự là ngon lắm con ạ!" Bà cụ tấm tắc gật đầu, giọng nói đã có lại sinh khí, "Chè xanh thì làng này thiếu gì nhà có, nhưng hãm được bát nước xanh trong không bị đỏ quạch, lại có cái vị ngọt hậu sâu thế này thì không phải ai cũng biết làm. Nhất là cái nhánh gừng nướng này... mày khéo tay lắm, con bé ạ. Uống vào một ngụm mà như có ngọn lửa nhóm trong ruột, gió bấc ngoài sông cũng phải chào thua."
Nghe lời khen mộc mạc của người chèo đò già, khóe mắt Thu bất giác cay xè. Mọi nỗi lo âu, tự ti và sợ hãi đè nặng trong lòng cô từ lúc trời chưa sáng dường như tan biến theo làn khói chè.
"Cụ ưng là cháu mừng lắm rồi ạ..." Thu ngượng ngùng xoa hai bàn tay vào vạt áo.
Bà cụ Vấn uống thêm một ngụm lớn, rồi hạ giọng, mắt liếc nhìn lên phía con đường đê hun hút:
"Nhưng mà Thu này, mày liều đấy con ạ. Cái bến đò này tuy heo hút, nhưng trạm kiểm soát trên kia nó săm soi ghê lắm. Thằng Bền đội phó kiểm soát mắt cú vọ, ngày nào nó chả rình mò ở đây. Mày bán quán thế này, nhỡ nó quy cho cái tội buôn bán tư thương, phá trật tự phân phối của xã thì khổ đấy con ơi."
Nụ cười trên môi Thu khựng lại. Cô cắn nhẹ bờ môi dưới, ánh mắt nhìn vào những đốm than đỏ đang rực cháy:
"Cháu biết chứ cụ. Nhưng ruộng khoán vụ này sâu bệnh phá sạch, thóc ăn không đủ nuôi thân, tiền thuốc nợ của thầy u cháu ngày trước người ta vẫn đòi ráo riết. Cháu không trộm cắp, không lừa lọc của ai. Cháu chỉ hái lá chè trong vườn, đun ấm nước cho khách lỡ bước qua sông đỡ lạnh. Nếu ông trời có mắt, chắc chẳng nỡ đày đọa kẻ muốn sống lương thiện đâu cụ..."
Bà cụ Vấn nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của cô gái trẻ, khẽ thở dài một tiếng rồi gật gù:
"Ừ... con người ta sống ở đời, cốt ở cái tâm ngay thẳng. Cứ bám lấy bến sông này mà làm ăn, có bà già này ở đây, đứa nào muốn ức h**p mày cũng phải nể mặt con đò của tao ba phần. Cố lên con ạ."
Đúng lúc ấy, từ phía con đường mòn dẫn từ dốc đê xuống bến vang lên những tiếng bước chân nặng nề, ngắt quãng.
"Cộp... xoạt... cộp... xoạt..."
Tiếng gậy tre gõ cộc cộc vào đá cuội quyện với tiếng lê bước nhọc nhằn, xiêu vẹo trong màn sương muối.
Bà cụ Vấn nheo mắt nhìn ra ngoài, còn Thu thì nín thở, tim đập thình thịch vì ngỡ là người của đội kiểm soát đi tuần sớm. Nhưng khi bóng người dần hiện rõ qua làn sương mờ mờ, bóng dáng cao lớn nhưng gầy guộc, bước đi tập tễnh của một người đàn ông mặc quân phục bạc màu khiến Thu sững lại.
Người lính phục viên.
Anh mặc chiếc áo trấn thủ đã rách tươm một bên cầu vai, chiếc ba lô con cóc lép kẹp đeo một bên vai lệch. Một tay anh nắm chặt cây gậy tre đực bóng loáng, mỗi bước bước đi, chiếc chân trái của anh dường như không thể gập lại được, phải dùng hết sức của nửa thân trên để kéo lê theo một cách đau đớn. Gương mặt anh góc cạnh, nước da ngăm đen sương gió hằn sâu những vết khắc nghiệt của chiến trường, và đôi mắt thâm trầm, sâu thẳm chất chứa một nỗi u uất, cô độc đến rợn ngời.
Thu nhận ra anh ngay lập tức. Đó là anh Hùng, con trai cả của ông thợ mộc Quỳ ở xóm Mộc. Hôm qua cả làng Yên Sa đã xôn xao tin anh trở về từ chiến trường Tây Nam với một bên chân tàn phế. Người ta bàn tán, người ta thương xót, và cũng có cả những lời xì xào độc địa về một "phế nhân" sẽ làm gánh nặng cho gia đình giữa lúc đói kém này.
Hùng dừng lại ở mép lán rơm. Gió sông quất mạnh vào vạt áo lính phong phanh của anh. Cơ thể cao lớn ấy đang run lên từng chặp, từng khớp xương nơi đầu gối trái buốt nhức dữ dội sau một đêm thức trắng dầm sương dưới bãi sông. Anh ngước mắt lên, bất ngờ bắt gặp ánh nhìn của Thu.
Bốn mắt chạm nhau giữa màn sương lạnh.Ánh mắt Hùng đầy vẻ phòng thủ, lạnh lùng và dường như muốn trốn tránh ánh nhìn của người khác về phía cái chân tật nguyền của mình. Nhưng trong mắt Thu, Hùng không hề nhìn thấy sự tò mò xoi mói hay vẻ thương hại rẻ rúng mà anh từng bắt gặp trên đường làng hôm qua. Đôi mắt người con gái ấy trong veo, chỉ đong đầy một sự cảm thông sâu sắc, một niềm kính trọng mộc mạc và nỗi xót xa chân thành của một người cũng đang ngụp lặn trong bùn lầy số phận.
Sự bối rối thoáng lướt qua đôi gò má ửng hồng của Thu, nhưng rồi lòng trắc ẩn đã lấn át tất cả. Cô khẽ bước tới mép hiên, giọng nói trong trẻo, nhỏ nhẹ cất lên như sưởi ấm cả không gian giá buốt:
"Anh... anh Hùng đấy phải không ạ? Ngoài này gió bấc độc lắm, anh... anh vào lán ngồi tạm cho khuất gió đi anh."
Hùng khẽ giật mình. Anh không ngờ cô gái lại biết tên mình, càng không ngờ giữa cái bến đò hoang lạnh này lại có một tiếng gọi dịu dàng đến thế. Anh toan lắc đầu quay đi, lòng tự trọng của một người lính không cho phép anh tỏ ra yếu đuối trước mặt phụ nữ. Thế nhưng, mùi khói rơm rạ ấm áp cùng hương chè xanh ngát quyện gừng nướng lúc này như một bàn tay vô hình níu giữ bước chân rệu rã của anh lại. Cơ thể anh đã kiệt sức, cái lạnh thấu tủy đang đe dọa quật ngã anh bất cứ lúc nào.
"Kìa chú Hùng, vào đây hơ lửa một tý cho ấm cái chân!" Bà cụ Vấn từ trong lán nói vọng ra, giọng đầy thân tình của người cùng làng, "Trời đánh còn tránh miếng ăn, cái rét này đến đá còn nứt nữa là xương thịt người lính. Vào đây uống bát nước với bà già này!"
Lời giục giã của bà lão chèo đò như một bậc thang nhân ái cho Hùng bước xuống. Anh cắn chặt môi, khẽ gật đầu rồi chống gậy, nhọc nhằn nhấc từng bước bước qua ngưỡng cửa lán rơm.
Chiếc chõng tre mục nát kê sát vách đất kêu lên một tiếng "kẽo kẹt" khe khẽ khi thân hình cao lớn của Hùng ngồi xuống. Anh đặt cây gậy tre dựa vào mép vách, đôi bàn tay thô ráp, gầy guộc đầy vết sẹo đan chặt vào nhau, đặt lên đầu gối đang run rẩy vì co rút.
Thu không dám nhìn thẳng vào đôi chân của anh, sợ làm tổn thương lòng tự trọng của người thương binh. Cô vội vã quay về phía bếp than, dùng chiếc khăn vải màn sạch lau khô một chiếc bát sành hoa dong khác. Tay cô khẽ run lên một chút vì hồi hộp.
Thu nghiêng chiếc ấm tích đất nung, dòng nước chè xanh nghi ngút khói lại tuôn trào, róc rách rót đầy ắp miệng bát sành. Cô cẩn thận gắp thêm một lát gừng nướng thơm lừng đặt vào giữa, rồi dùng cả hai bàn tay bưng bát nước tiến lại gần Hùng.
"Anh uống đi cho ấm bụng ạ... Sáng nay sương muối độc lắm, uống ngụm nước nóng có gừng sẽ giải được hơi lạnh bến sông."
Thu cúi đầu, hai tay dâng bát nước ngang tầm ngực Hùng. Đôi bàn tay cô mảnh mai, da dẻ dẫu có chai sạn vì lao động nhưng vẫn giữ được nét thanh tú, trắng ngần nổi bật trên nền men sành thô ráp. Thoang thoảng từ mái tóc dài cài gọn sau gáy của cô, một mùi hương hoa bưởi phơi khô dịu nhẹ, thanh khiết len lỏi vào khứu giác Hùng, xua đi mùi tanh nồng của bùn lầy và cái lạnh lẽo của đêm đông vừa qua.
Hùng ngước nhìn cô gái. Khoảng cách gần gũi khiến anh nhìn rõ những sợi tóc mai lòa xòa vương trên trán Thu, đôi má ửng hồng vì lửa bếp và ánh mắt đen láy đượm buồn nhưng lấp lánh sự chân thành. Trái tim người lính từng chai sạn trước bom đạn bỗng khẽ rung lên một nhịp lạ lùng.
"Cảm... cảm ơn cô," Hùng cất tiếng, giọng anh trầm đục, khàn khàn vì sương gió và những cơn ho kéo dài.
Anh đưa hai bàn tay gân guốc, thô ráp đón lấy bát sành. Khi những đầu ngón tay nứt nẻ của anh vô tình chạm nhẹ vào ngón tay mềm mại của Thu, một luồng điện ấm áp dường như truyền thẳng qua da thịt, khiến cả hai người đều khẽ rụt lại một chút trong sự ngượng ngùng e ấp.
Hơi ấm từ thân bát sành đất nung dày dặn tỏa ra mơn man đôi bàn tay tê cóng của Hùng. Cái cảm giác ấm áp thực sự, cái cảm giác của sự sống đang hồi sinh sau chuỗi ngày dài đằng đẵng chìm trong tuyệt vọng khiến sống mũi anh cay cay.
Hùng nâng bát lên sát mặt, làn khói thơm dịu nhẹ phả vào gương mặt phong trần, làm tan đi lớp sương mỏng đọng trên hàng lông mày rậm rạp. Anh nhấp một ngụm.
Nước chè nóng hổi trôi qua môi. Một vị chát dịu dàng đọng lại nơi đầu lưỡi, rồi vị cay ấm nồng nàn của gừng già lập tức đánh thức từng mao mạch trong vòm họng. Dòng nước ấm nóng ấy chảy đến đâu, sự tê dại và buốt giá trong huyết quản tan biến đến đấy. Đến khi nuốt trọn ngụm nước, cái hậu vị ngọt thanh, bùi béo và thơm ngát của lá chè tươi tự nhiên đọng lại thật lâu nơi cổ họng, khiến Hùng bàng hoàng.
Đó không chỉ là một bát nước chè. Giữa lúc anh đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt vọng, giữa lúc anh cảm thấy cuộc đời mình đã bị phế bỏ như một khúc gỗ mục trôi sông, thì bát nước chè xanh ấm nóng của người con gái mồ côi này giống như một mồi lửa nhen lại chút than hồng âm ỉ trong tâm hồn tăm tối của anh.
Anh nhấp thêm ngụm thứ hai, rồi ngụm thứ ba. Từng giọt nước chè thơm thảo như thấm sâu vào da thịt, xua tan đi cái lạnh ngắt của dòng nước sông Hồng mà đêm qua anh suýt chút nữa đã gieo mình xuống. Anh thấy lồng ngực mình căng tràn trở lại, tiếng đập của con tim rõ ràng, mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Mình phải sống! Ý nghĩ ấy lại một lần nữa bùng lên trong đầu Hùng, nhưng lần này không chỉ vì lời trăn trối của đồng đội Toàn, mà còn vì sự ấm áp mộc mạc của cuộc đời trần thế này vẫn còn hiện hữu nơi đây, ngay bên bến đò Vạn Cát.
Hùng uống cạn giọt nước cuối cùng, lòng bát sành chỉ còn trơ lại nhánh gừng nướng đã thôi bốc khói. Anh thở ra một hơi dài, sắc mặt xám xịt dần lấy lại được chút sinh khí hồng hào.
Đặt chiếc bát sành xuống tấm phản nứa bên cạnh, Hùng luồn tay vào túi ngực chiếc áo lính đã sờn rách. Bàn tay anh lần tìm những đồng tiền lẻ ít ỏi còn sót lại từ khoản phụ cấp phục viên ít ỏi. Anh rút ra một tờ giấy bạc năm hào đã nhàu nát, được gấp làm tư cẩn thận, chìa ra trước mặt Thu:
"Gửi cô tiền nước... Nước ngon lắm."
Thu nhìn tờ tiền giấy năm hào trên bàn tay chai sần đầy sẹo của người lính, đôi mày lá liễu khẽ nhíu lại. Cô vội vàng xua xua đôi bàn tay nhỏ nhắn, dứt khoát lùi lại một bước:
"Kìa anh! Em... em không lấy tiền của anh đâu ạ!"
Hùng ngẩn người, mày hơi chau lại:
"Cô mở quán buôn bán, tôi uống nước thì phải trả tiền. Đó là lẽ thường, cô đừng ngại."
"Không phải em ngại đâu anh," giọng Thu nhỏ nhẹ nhưng rành rọt, từng lời thốt ra từ đáy lòng chân thật, "Bát nước này là em mời anh. Anh đi bộ đội ngoài chiến trường về, đổ bao nhiêu xương máu vì đất nước, nay về làng chịu thương tật thế này... Em mở ấm nước đầu ngày, có đáng là bao đâu mà nhận tiền của anh. Anh cất đi ạ, em nhận đồng tiền này của anh thì lòng em áy náy lắm."
"Đúng đấy chú Hùng ạ!" Bà cụ Vấn bên cạnh cũng lên tiếng phụ họa, miệng nhai trầu bỏm bẻm, "Cái Thu nó nói phải đấy. Người làng với nhau cả, chú là người có công, bát nước chè của con bé tuy nghèo nhưng là cái tình cái nghĩa. Chú nhận cho nó vui lòng."
Hùng nhìn tờ tiền lẻ trên tay mình, rồi lại nhìn vào đôi mắt đen láy, kiên định mà chan chứa sự cảm thông của Thu. Trong ánh mắt ấy hoàn toàn không có sự thương hại bề trên, chỉ có một tấm lòng trân trọng thuần khiết. Lòng tự ái và mặc cảm tật nguyền trong anh bỗng chốc mềm ra như đất gặp mưa rào.
Anh không ép cô nữa, lặng lẽ thu tờ tiền lại, cất cẩn thận vào túi ngực áo lính, nơi gần trái tim mình nhất.
"Vậy... tôi nợ cô một ân tình." Hùng khẽ nói, hai từ "ân tình" thốt ra nặng trịch và sâu lắng.
Thu khẽ mỉm cười. Nụ cười đầu tiên trong buổi sớm mai làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú, xua tan đi vẻ ảm đạm của căn lán rơm rách nát.
"Ơn nghĩa gì đâu anh, bát nước giếng làng lá chè vườn nhà thôi mà."
Lúc này, từ trên mặt đê bắt đầu có tiếng còi xe đạp lách cách và tiếng người gọi nhau ơi ới. Trời đã sáng rõ. Màn sương muối bắt đầu tan dần dưới ánh bình minh màu lòng đỏ trứng gà đang le lói nơi chân trời xa. Những người buôn gánh bán bưng đi chợ huyện, những xã viên đi làm đồng bắt đầu lục tục kéo xuống bến đò để đợi chuyến đò ngang đầu tiên trong ngày.
"Thôi, đò sắp sang rồi, tao xuống bến tháo dây sào đây!" Bà cụ Vấn đứng dậy, quệt ngang miệng dải nước trầu đỏ thắm, rút trong cạp quần ra đồng bạc hào lẻ đặt lên chõng tre của Thu, "Tiền nước của tao đây con nhé. Đừng có mà chối, tao là khách qua sông!"
Nói rồi, không đợi Thu kịp phản ứng, bà cụ đã thoăn thoắt bước xuống dốc đá, cất tiếng hò quen thuộc gọi khách sang đò:
"Đò sang sông đây bà con ơi! Ai sang chợ Huyện thì xuống mau chân kẻo trễ chuyến chợ sớm!"
Tiếng bước chân xôn xao của dòng người đi đò bắt đầu rộn rã trên triền đê. Tiếng chào hỏi, tiếng thở dài vì giá rét và tiếng bước chân bì bõm dưới cát ướt làm bến Vạn Cát bỗng chốc bừng lên một nhịp sống mới. Mùi chè xanh và gừng nướng thơm nức từ lán Thu lập tức thu hút sự chú ý của những người khách bộ hành đang co ro vì gió lạnh.
"Kìa, lán ai đun nước chè thế kia? Vào làm bát cho ấm người rồi sang đò bà con ơi!"
Hùng nhìn ra dòng người đang đổ xuống bến, biết mình không nên nán lại lâu làm cản trở việc buôn bán của cô gái. Anh với tay lấy cây gậy tre đực, nén một tiếng thở hắt vì cơn đau nhức nơi khớp gối, gượng đứng dậy.
Thu vội vàng quay vào trong lán, chuẩn bị đón những người khách đầu tiên:
"Dạ, mời các bác, các cô vào trong lán ạ! Nước chè xanh mới sôi ấm lắm ạ!"
Hùng đứng lặng bên hiên lán một thoáng, ngắm nhìn dáng vẻ thoăn thoắt, cần mẫn của người con gái nhỏ bé đang tất bật bên bếp lửa hồng. Trong lòng người lính phục viên dâng lên một cảm xúc kỳ lạ, vừa xót xa, vừa nể phục, lại vừa có một sự gắn kết mơ hồ khó tả.
Anh thò tay vào chiếc túi vải bạt bên hông ba lô – nơi đựng những đồ nghề mộc đơn sơ mà anh vẫn mang theo bên mình từ chiến trường về. Những ngón tay thô ráp của anh chạm vào một mẩu gỗ nhỏ.
Không một ai để ý, Hùng khẽ nghiêng người, kín đáo đặt mẩu gỗ ấy lên góc tấm phản nứa mục nát nơi anh vừa ngồi, ngay cạnh chiếc bát sành còn vương làn khói ấm.
Đoạn, anh xoay người, chống gậy tre, từng bước tập tễnh nhưng vững chãi bước ra khỏi lán, lặng lẽ hòa vào làn sương sớm đang tan dần để leo lên triền đốc đê dẫn về xóm Mộc.
Trong quán, sau khi thoăn thoắt rót liền ba bát nước chè xanh trao tận tay những người khách bộ hành đang xuýt xoa vì rét, Thu lau vội mồ hôi lấm tấm trên trán rồi quay lại chiếc chõng tre để dọn dẹp chiếc bát sành của Hùng.
Bước chân cô bỗng khựng lại.
Trên mặt phản tre xơ xác, nằm trơ trọi bên cạnh chiếc bát sành men da lươn, là một vật nhỏ bằng ngón tay cái.
Thu tò mò bước tới, cúi xuống nhặt vật đó lên.
Đó là một mẩu gỗ mít già vàng óng, được gọt đẽo vô cùng tỉ mỉ và khéo léo thành hình một nụ hoa bưởi chúm chím đang e ấp chuẩn bị bung nở. Từng cánh hoa khép nép được người thợ khắc họa bằng những đường dao dứt khoát nhưng mềm mại lạ kỳ. Bề mặt mẩu gỗ được mài giũa nhẵn thín, trơn láng, không hề vương lại một chút dằm xơ nào, và từ thớ gỗ mộc mạc ấy, một mùi hương gỗ mới thơm ngai ngái quyện với mùi trầm tích của thời gian khẽ phảng phất bay lên.
Thu ngẩn ngơ nhìn búp hoa bưởi bằng gỗ nằm gọn trong lòng bàn tay mình. Hơi ấm từ mẩu gỗ dường như vẫn còn vương lại hơi thở của người vừa chạm vào nó.
Cô ngước mắt nhìn ra ngoài cửa lán.
Trên con đường đê hun hút lộng gió bấc, bóng dáng cao lớn, tập tễnh của người lính thương binh đang chầm chậm khuất dần sau rặng tre già đầu làng Yên Sa, chỉ còn lại những vạt nắng sớm đầu tiên rớt xuống, lấp lánh như dát vàng trên dòng phù sa đỏ quạnh của dòng sông Hồng.