Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy
Chương 1: Chiều lạnh bến Vạn Cát
Gió bấc cuối đông năm một nghìn chín trăm tám mươi mốt rít qua những rặng tre già bao quanh làng Yên Sa, nghe như tiếng thở dài ai oán giữa trời chiều xám ngoét. Mặt sông Hồng mùa cạn trơ ra những dải cát bồi và bãi phù sa đỏ quạch nứt nẻ chân chim. Từng luồng gió từ mạn ngược hun hút thốc về, mang theo hơi nước buốt giá táp thẳng lên mặt đê cao vút, cào xé những tán phi lao khẳng khiu trơ trụi lá. Cả vệt làng ven sông như thu mình lại dưới lớp sương mù đùng đục, lặng lẽ và câm nín trong cái đói dai dẳng của những ngày giáp hạt triền miên.
Trong căn nhà tranh ba gian xiêu vẹo nép sát chân đê ngoài bãi, tiếng gió lùa qua khe liếp nứa va vào nhau lạch cạch từng hồi. Nguyễn Thị Thu ngồi bệt bên bậu cửa đất, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt vết nứt nẻ vì sương muối siết chặt lấy nhau để tìm chút hơi ấm tàn. Cô khẽ hà một hơi dài, làn khói mỏng manh vừa thoát ra khỏi bờ môi khô rát đã lập tức bị cái rét căm căm nghiền nát tan biến vào không gian.
Gian bếp nhỏ bên cạnh tro tàn lạnh ngắt tự bao giờ. Trên chiếc kiềng sắt rỉ sét chỉ trơ trọi một niêu đất nhỏ sứt miệng, bên trong là lưng bát cháo hoa loãng thếch, được độn nhiều hơn những lát sắn khô mốc meo, thâm sì như vỏ trấu. Vụ mùa vừa rồi thất bát cay đắng, rầy nâu cắn cụt đòng đòng khi lúa vừa ngậm sữa. Thóc thu hoạch xong phải ưu tiên nộp kho nghĩa vụ lương thực cho nhà nước, phần dôi dư chia theo đầu công điểm của hợp tác xã chẳng còn lại bao lăm. Người trong làng nhà nào cũng phải ăn cơm độn ngô bung, độn khoai lang khô xắt lát, nhưng đến cái cảnh cháo loãng cầm hơi bữa đực bữa cái như Thu thì cả xóm bãi ai nhìn vào cũng phải chép miệng xót xa.
Thu chống tay đứng dậy, bước lại chiếc bàn mộc ba chân khập khiễng kê sát vách đất loang lổ. Trên vách nứa, hai tấm di ảnh ố vàng của thầy u cô lặng lẽ nhìn xuống qua làn bụi mờ thời gian. Bát nhang nặn bằng đất thó cắm vài que chân hương trơ trọi, tàn lạnh tự lâu. Thu khẽ đưa mu bàn tay áo quệt giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi, rồi run rẩy lật mở cuốn sổ tay bìa bọc giấy xi măng đã sờn rách bốn góc được giấu kỹ dưới đáy chiếc hòm gỗ mục.
Từng trang giấy ố vàng chi chít những dòng chữ mực tím nhòe nhoẹt bởi những giọt nước mắt rơi xuống trong đêm: mười đồng bạc nợ tiền thuốc thang của hiệu Đông y cụ Lang Nhâm đợt cha Thu lên cơn hen suyễn tắc thở giữa đêm đông; ba mươi cân thóc giống vay non của ban quản trị hợp tác xã lo đám ma cho mẹ khi bà kiệt sức gục ngã ngay trên luống cày mùa đông năm ngoái; rồi tiền ván thiên, tiền dầu hỏa thắp đèn canh mộ, tiền mượn đôi quang gánh của xóm giềng... Từng con số nợ nần như những vết dao cứa sâu vào tâm can cô gái vừa tròn hai mươi ba tuổi, trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc.
Hôm qua, tại buổi họp bình xét công điểm của đội sản xuất số hai diễn ra ở sân kho hợp tác xã, Lê Tiến Bền – viên Đội phó Kiểm soát kiêm thư ký đội – đã dõng dạc đứng trước bàn gỗ trải khăn hoa tạp, tay cầm cuốn sổ bìa xanh đập đập vào ống quần dạ cũ, lạnh lùng gạt phắt một phần ba công điểm gặt của Thu. Hắn hếch chiếc cằm nhọn hoắt, giọng the thé vang khắp sân kho: “Đồng chí Nguyễn Thị Thu thể lực yếu kém, gặt sót bông rơi vãi, bó lúa không chặt tay, không đảm bảo định mức lao động xã viên tiên tiến. Chiểu theo nội quy hợp tác xã, hạ một bậc công điểm để răn đe tư tưởng lười nhác!”
Mấy bác xã viên già ngồi dưới bực bội chặc lưỡi, ngó quanh nhưng chẳng ai dám công khai lên tiếng đối đầu với gã cán bộ nổi tiếng máy móc, săm soi nhất xã Yên Sa. Ai mà chẳng thấu cái bụng dạ hẹp hòi, đen tối của Bền. Mùa thu năm trước, Bền cậy chân cán bộ kiểm soát có quyền hành phân phối chút tiêu chuẩn hàng mậu dịch, từng nhờ bà mối dấm dớ mang nửa cân đường kính trắng sang dạm hỏi Thu. Thu cắn răng từ chối thẳng thừng, bởi cô thà ăn cháo rau má trọn đời chứ không thể gửi gắm thân mình cho một kẻ hách dịch, chuyên rình rập bắt bẻ từng mớ rau ngọn cỏ của bà con lối xóm. Mối thù bị khước từ khiến Bền ghim gút trong lòng, nhân danh việc công để tìm đủ mọi cớ siết chặt cái vòng vây túng quẫn quanh cuộc đời cô gái mồ côi.
“Cứ thế này... mình chết đói mất thôi, u ơi...”
Thu thì thào trong bóng tối lờ mờ của gian nhà lá. Bụng cô cồn cào từng cơn quặn thắt. Nồi cháo hoa ban sáng chỉ đủ làm ướt cổ họng, chẳng thể lấp đầy dạ dày đang réo rắt từng hồi. Nếu chỉ trông chờ vào những buổi đi làm cỏ vẹt móng chân hay gánh phân bùn trên đồng hợp tác xã để đợi vài phân công điểm bèo bọt bị cắt xén, cô không chỉ chết đói mà mảnh đất cha ông để lại cũng sẽ bị người ta siết nợ đem gán trừ.
Không thể ngồi yên đợi cái chết đến gõ cửa. Nghĩ đoạn, Thu quàng vội chiếc khăn vuông len sờn rách qua cổ, khoác thêm chiếc áo cánh nâu đã đắp tới bốn miếng vá trên hai vai, rồi xỏ chân vào đôi dép cao su đúc mòn vẹt gót. Cô với chiếc đòn gánh tre cùng đôi sọt nứa cũ kỹ nơi góc nhà, dắt chiếc liềm con gỉ sét vào cạp quần rồi bước nhanh ra ngõ.
Ngoài trời, gió bấc như roi quất từng vệt rát bỏng vào da thịt. Thu co ro sải bước thoăn thoắt qua con đường lát gạch nghiêng của xóm bãi, hướng thẳng ra triền đê bến đò Vạn Cát. Mùa này nước sông Hồng cạn kiệt, bãi cát bồi trôi dạt vô số củi rười, cành xoan mục và những gốc tre khô từ thượng nguồn dạt về. Nhặt nhạnh củi khô ven sông đem về phơi nỏ là cách duy nhất để cô có chất đốt nhóm bếp, may ra mót được ít rễ cây khô đem đổi cho lò gạch lấy vài củ khoai ăn qua bữa.
Khi đôi chân trần trong đôi dép cao su bước lên đến đỉnh đê lộng gió, cảnh tượng bến Vạn Cát hiện ra trước mắt Thu mờ mịt trong màn mưa phùn lất phất.
Bến đò Vạn Cát vốn là huyết mạch giao thương nối liền đôi bờ sông Hồng, bên này là huyện đồng bằng Yên Sa trù phú ruộng lúa nhưng ngột ngạt vì cơ chế bao cấp, bên kia là mạn đồi bán sơn địa với những nương sắn, nương ngô và đồi chè bạt ngàn. Dưới bến sông, con đò gỗ cũ kỹ của bà cụ Vấn vừa cập mép nước lầy lội. Tiếng sào tre c*m v** bùn lạo xạo quyện với tiếng th* d*c nặng nhọc của dòng người sang sông.
Hơn hai chục con người vừa bước chân lên bờ cát ẩm ướt đều run rẩy bần bật. Gió từ mặt sông lồng lộng thổi tốc những vành nón mê rách rưới. Một chị phụ nữ trạc tuổi Thu, nách cắp chiếc thúng rỗng úp manh bao tải gai, tay kia bế đứa con nhỏ chừng hai tuổi quấn trong mớ tã rách nát. Đứa bé đói sữa, mặt mũi tím tái vì lạnh, ngằn ngặt khóc không thành tiếng. Người mẹ vừa dỗ con vừa dậm chân tại chỗ trên nền cát buốt giá, bờ môi run rẩy lập cập:
“Có ai... có ai có chút nước ấm không? Cho tôi xin một hớp cho cháu nó đỡ cóng họng với... Trời đất ơi, rét buốt thấu xương thấu tủy thế này!”
Xung quanh, những người buôn gánh bán bưng, những người thợ thuyền áo mỏng manh vá chằng vá đụp chỉ biết nhìn nhau lắc đầu ái ngại. Một ông giáo già mặc chiếc áo bông xơ xác lòi cả ruột bông gạo vàng khè, tay ôm khư khư bọc tài liệu trước ngực, hai hàm răng va vào nhau đánh bọ cạp côm cốp:
“Đến... đến khổ! Xe thồ thủng lốp nhỡ chuyến tàu từ sáng sớm, cuốc bộ mười mấy cây số đường đê xuống bến lại gặp đúng lúc gió mùa tăng cường. Quanh bến sông này tịnh không có lấy một mái che, một ngụm nước dằn bụng... Chuyến đò sau phải đợi hơn tiếng nữa cụ Vấn mới quay đầu về bến, cứ đứng phơi mình giữa trời thế này khéo chết cóng mất thôi!”
Bà cụ Vấn đứng ở mũi đò, chiếc lưng còng gập xuống như cánh cung, mái tóc bạc phơ phơ bay trong gió lạnh. Cụ đưa tay áo quệt vệt trầu đỏ thắm bên khóe miệng, cất giọng khàn đục nhưng sang sảng át tiếng sóng vỗ:
“Bà con chịu khó dậm chân cho ấm người, đừng ngồi bệt xuống cát ẩm mà hàn khí ngấm vào phổi đấy! Già này thân già một mái chèo, sông cạn lạch đổi dòng, phải lựa con nước mới dám ghé bến, chậm trễ của bà con mươi mười lăm phút cũng là vạn bất đắc dĩ!”
Đoàn người co ro dồn lại dưới chân dốc đá dẫn lên đê, tìm chút góc khuất chắn gió nhưng chẳng thấm vào đâu. Gió sông như lưỡi dao sắc lướt qua lớp vải gai thô mỏng, cắt vào da thịt buốt rát. Nhìn đứa trẻ tím ngắt lả đi trên tay người mẹ trẻ, rồi nhìn những người phu thồ hàng mặt mày xám xịt vì vừa đói vừa khát rét, lồng ngực Thu bỗng thắt lại một nỗi xót xa khôn xiết.
Đời người thời buổi này sao mà khổ cực trăm bề! Ngăn sông cấm chợ ngặt nghèo, muốn sang sông đổi bơ gạo, cân sắn cũng phải lén lút trốn tránh trạm kiểm soát; đi đường xa lỡ bước giữa mùa đông buốt giá lại chẳng có lấy một nơi chốn dừng chân che mưa che gió, sưởi ấm đôi bàn tay.
Ánh mắt Thu vô thức trượt qua triền dốc bến sông, dừng lại bên một gốc đa cổ thụ xù xì hàng trăm năm tuổi. Những chùm rễ phụ của cây đa buông rủ xuống như bức rèm tự nhiên dày đặc, chắn bớt những luồng gió độc thốc từ lòng sông lên. Và ngay dưới vòm rễ ấy, nằm lọt thỏm là chiếc chòi rơm xiêu vẹo của tuần đò cũ bỏ hoang từ nhiều năm trước. Chiếc chòi chỉ trơ lại bốn chiếc cột tre ngả màu đen mốc, mái rạ mục nát rách tơi tả, vách liếp bên phải đã sập một nửa để lộ nền đất nện đầy lá khô và rác rưởi.
Một tia sáng đột ngột lóe lên trong tâm trí Thu, mạnh mẽ và bỏng rát như than hồng vùi sâu dưới lớp tro trấu.
Chiếc chòi này... nếu được dọn dẹp lại sạch sẽ, lợp thêm vài tấm rạ, che lại phên liếp nứa... chẳng phải sẽ là nơi chắn gió tuyệt vời cho những người khách lỡ độ đường hay sao?
Và nếu... nếu cô nhóm lên một bếp lửa hồng ấm áp ở đó?
Trong mảnh vườn sau nhà Thu còn ba gốc chè xanh cổ thụ do chính tay cha cô trồng từ ngày mới khai hoang bên bãi sông. Lá chè trung du dày cộm, xanh ngắt, đượm vị chát ngọt đậm đà mà chẳng nơi nào sánh bằng. Đằng sau bếp vẫn còn mấy củ sắn khô sót lại từ vụ trước cất trên gác bếp, cùng bụi gừng già ngoài bờ ao đang độ đâm nhánh cay nồng.
Tại sao cô không nấu một ấm nước chè xanh nóng hổi? Thả vào đó vài nhánh gừng già đập giập, bắc lên bếp than củi đượm nồng, nướng thêm mấy củ sắn thơm lừng... Khách qua đò nhỡ bước chỉ cần một bát nước ấm bốc khói dằn bụng, một chỗ ngồi che mưa phùn gió bấc, họ sẽ sẵn lòng đổi lấy một, hai xu lẻ, hay nửa bơ ngô, vài củ sắn vạc. Những đồng tiền lẻ mộc mạc ấy, từng chút từng chút gom góp lại, sẽ là manh áo ấm cho mùa đông, là bát gạo thật sự không phải độn sắn mốc, và là niềm hy vọng trả dần món nợ thuốc men đang đè nặng trên lưng!
Ý nghĩ liều lĩnh vừa trỗi dậy đã khiến tim Thu đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực.
Nhưng liền sau đó, một nỗi sợ hãi lạnh toát chạy dọc sống lưng cô.
Thời bao cấp. Lệnh ngăn sông cấm chợ ngặt nghèo. Bán buôn tự do bị coi là tội phạm kinh tế.
Gương mặt gầy quắt với đôi mắt lươn giảo quyệt của Lê Tiến Bền bỗng hiện lên mồn một trong tâm trí cô. Bền vẫn thường lăm lăm cuốn sổ kiểm tra bìa xanh, dẫn giải những người gánh vài nải chuối, vài cân lạc qua đê về trạm liên ngành để xử lý tội danh “buôn bán tư thương”, “đầu cơ tích trữ”, “phá hoại kinh tế tập thể”. Một cô gái mồ côi đơn thân như Thu, không chức không quyền, nếu dám công khai dựng lán nhóm lửa b*n n**c bên bến đò, liệu có bị Bền quy chụp rồi tịch thu hết xoong chảo ấm tích, bắt giam giải lên ủy ban xã hay không?
Thu cắn chặt môi dưới đến mức bật máu. Vị mằn mặn, tanh nồng của máu lan nơi đầu lưỡi kéo cô trở về với thực tại nghiệt ngã.Sợ ư? Nếu sợ hãi thì ngày mai cô lấy gì bỏ vào miệng? Ngày kia lấy gì trả nợ cho trạm y tế và hợp tác xã khi kỳ hạn cuối năm đang cận kề từng ngày? Chẳng lẽ cô cứ ngồi yên trong căn nhà dột nát, nhìn lên di ảnh thầy u rồi chết mòn vì cái đói và sự chèn ép bất công của miệng đời? Người ta buôn hàng chuyến, buôn cả tạ gạo, hàng thùng thuốc lá mới sợ đầu cơ buôn lậu, còn cô chỉ nấu ấm nước lá cây vườn nhà phục vụ bà con lao động nghèo lỡ bước, trời đất nào nỡ khép vào tội ác? Lòng trắc ẩn trước tiếng khóc ngằn ngặt của đứa trẻ bên bến sông và khát vọng sinh tồn mãnh liệt đã thổi bùng lên ngọn lửa can trường bên trong cô gái hai mươi ba tuổi.
“Cùng lắm là bị tịch thu cái ấm đất! Mình không ăn cắp, không lừa lọc của ai, mình đem sức lao động và sự thơm thảo ra đổi lấy miếng ăn!” Thu siết chặt cán liềm, tự nhủ thành tiếng giữa gió bấc gầm rít.
Không chần chừ thêm một khắc nào, Thu thoăn thoắt rảo bước dọc theo bờ bãi sông Hồng. Bỏ qua những thanh củi nhỏ mục mủn, cô tỉ mỉ chọn những đoạn cành xoan khô chắc nịch, những gốc tre trôi sông đã được dòng phù sa bào nhẵn nhụi. Đôi bàn tay nứt nẻ thoăn thoắt vung liềm chặt tỉa cành nhánh, xếp gọn gàng vào đôi sọt nứa. Chẳng mấy chốc, hai sọt củi đã chất cao ngất ngưởng. Thu còn cắt thêm một bó lau sậy khô ven bãi bồi để làm bổi nhóm lửa.
Khi hoàng hôn màu chì đổ sụp xuống mặt sông, biến dòng nước phù sa thành một dải lụa sẫm màu đặc quánh, Thu quẩy gánh củi nặng trĩu trên vai trở về nhà. Bước chân cô trên con đường đê lộng gió dường như đã bớt đi vẻ liêu xiêu, thay vào đó là sự gấp gáp, dứt khoát của một người vừa tìm thấy chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước xoáy.
Về đến túp lều tranh, Thu vội vã chốt chặt then cài liếp cửa. Cô quẹt diêm thắp sáng ngọn đèn dầu hỏa leo lét. Ngọn bấc hạt đỗ tỏa ra chút ánh sáng vàng vọt, tù mù soi rõ những góc tường đất loang lổ vết ẩm mốc.
Thu đặt gánh củi xuống góc bếp, không kịp nghỉ ngơi lấy một hơi, cô bắc chiếc thang tre cũ kỹ trèo lên sát xà nhà. Nơi góc khuất tối tăm nhất, được che chắn cẩn thận sau lớp rơm khô rải trần, là một chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy Liên Xô đã rỉ sét nham nhở. Thu ôm chiếc hộp vào lòng, trèo xuống cẩn thận như đang ôm một báu vật vô giá của đời mình.
Cô ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu rách trải giữa nền đất, run rẩy mở nắp hộp sắt.
Bên trong không có vàng bạc hay tiền đồng, mà chỉ có một cuốn sổ tay nhỏ khổ hẹp, gáy được khâu bằng chỉ gai thô sơ, bìa bọc bằng lớp giấy xi măng dầu bóng loáng. Đó là di vật quý giá nhất mà cụ ngoại truyền lại cho mẹ Thu, rồi trước lúc nhắm mắt xuôi tay, mẹ đã run rẩy trao tận tay cô cùng lời trăn trối nghẹn ngào: “Gắng giữ lấy con nhé... cái nghề mộc mạc của tổ tiên... đời người có lúc cùng cực, nhưng còn giữ được cái vị ngọt thơm của hạt gạo, giọt mật thì không bao giờ chết đói được đâu con...”
Năm làng Yên Sa vào hợp tác xã toàn diện, phong trào hợp nhất tài sản và tiểu thủ công nghiệp diễn ra gắt gao. Người ta lùng sục khắp nơi, bắt giao nộp mọi công cụ nấu mật, khuôn đúc kẹo vào hợp tác xã để thành lập tổ sản xuất bánh kẹo tập thể. Nhưng rồi tổ sản xuất ấy hoạt động cầm chừng, cán bộ làm dối, nguyên liệu thất thoát, kẹo làm ra vừa chua vừa khét chẳng ai buồn ăn, cuối cùng giải thể bỏ xó. Cuốn sổ tay ghi chép bí truyền này từng suýt bị một người họ hàng nông nổi đem nộp để lấy điểm thi đua, mẹ Thu đã phải liều mình giấu kín trong ống tre chôn dưới gốc chuối mới giữ lại được vẹn nguyên.
Thu cẩn trọng lật từng trang giấy dó ngả màu vàng sẫm. Chữ viết bằng mực tàu nắn nót, thanh thoát hiện ra dưới ánh đèn dầu le lói:
“...Kẹo lạc Yên Sa, cốt ở cái tâm người nấu. Mật mía phải chọn loại mật hoa cau sánh vàng hổ phách, không chua gắt, giọt mật nhỏ vào bát nước lạnh phải đọng tròn như hạt ngọc chứ không tan loãng. Lạc sẻ củ nhỏ, vỏ lụa hồng hào, rang trên tro nóng cho chín thấu từ tâm, giòn tan mà không sém cạnh. Khi mật sôi tăm nhỏ, thả nhánh gừng già đập dập lấy hương cay nồng, rồi trút lạc rang, vừng trắng xao vàng... Đổ ra nia xoa bột áo, tay dao phải dứt khoát, cắt từng thanh kẹo khi còn ấm dẻo. Miếng kẹo cắn vào phải kêu giòn một tiếng 'tách', ngọt lịm đầu lưỡi, bùi béo chân răng, hậu vị ấm nồng hương gừng quyện mãi không tan...”
Từng dòng chữ như sống dậy trước mắt Thu, đưa cô trở về những ngày ấu thơ xa xôi êm đềm. Khi ấy chiến tranh chưa lan tới vùng quê nghèo này, mỗi dịp cận Tết, gian bếp của mẹ lại đỏ lửa thâu đêm. Mùi mật mía sôi sùng sục thơm nức mũi quyện với mùi lạc rang béo ngậy ngập tràn khắp gian nhà. Thu nhỏ bé ngồi bên bậu cửa, mắt tròn xoe chờ mẹ đưa cho mẩu kẹo vụn dính nơi mép dao, vừa thổi vừa nhai giòn rụm, ngọt ngào đến tận chân tủy.
Không chỉ có kẹo lạc, cuốn sổ còn ghi chép tỉ mỉ cách ngâm gạo tráng bánh đa vừng đen, bánh đa gấc đỏ tươi giòn rụm quạt trên than hoa rực hồng, cùng cách ủ chè lam cay nồng bột nếp cái hoa vàng. Đó là cả một kho tàng hương vị của làng quê Bắc Bộ, kết tinh từ mồ hôi và sự nhẫn nại chắt chiu của bao thế hệ tiền nhân.
Bây giờ nguyên liệu khan hiếm, gạo đường quý như vàng ròng, cô chưa thể có vốn để nấu kẹo tráng bánh ngay được. Nhưng bí quyết chọn lửa, cách canh nhiệt độ của tro trấu, và nghệ thuật om ấm chè xanh gừng tươi thì cô đã nằm lòng trong dạ!
Thu gấp cuốn sổ lại, cẩn thận bọc vào lớp vải nhựa rồi cất sâu vào trong vạt áo trước ngực, áp sát vào lồng ngực ấm áp. Nhịp tim cô đập rộn ràng, một niềm tin mãnh liệt dâng trào xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương của căn nhà lá.
Ngày mai, cô sẽ bắt đầu bước đi đầu tiên!
Thu với chiếc ấm tích đất nung màu da lươn sứt vòi của cha để lại trên chạn bát mang ra giếng khơi cọ rửa. Chiếc ấm đất thô ráp này được nung bằng đất sét sông Hồng, giữ nhiệt cực tốt qua bao mùa đông giá. Cô dùng bùi nhùi rơm chà sạch lớp bụi bám bên ngoài, rửa sạch sáu chiếc bát sành men sẫm màu hạt nhãn cũ kỹ. Xong xuôi, Thu ra góc vườn, khẽ khàng vạch từng tán lá chè cổ thụ xanh mướt đẫm sương đêm. Cô tỉ mỉ ngắt từng lá chè bánh tẻ dày dặn, không quá non cũng không quá già, gom lại thành một rổ đầy ắp. Dưới chân bụi chè, cô đào thêm một củ gừng già nhánh nhỏ nhưng thơm nồng cay xé.
Tất cả đã sẵn sàng. Đêm ấy, Thu nằm trên chiếc chõng tre ọp ẹp, đắp manh chiếu rách và chiếc chăn chiên Nam Định đã mỏng tang thủng lỗ chỗ. Tiếng gió bấc vẫn gầm rít ngoài bờ đê, nhưng trong tâm can cô gái trẻ, một ngọn lửa hy vọng đã bắt đầu nhen nhóm, ấm áp và kiên cường lạ kỳ.
*
Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy canh năm vừa cất lên xao xác giữa làn sương sớm dày đặc, Thu đã thức dậy.
Cô nhóm bếp lò, vùi củ sắn khô vào tro nóng lùi cho chín dẻo, rồi vò nhẹ rổ lá chè xanh cho hơi giập gân lá, thả vào lòng chiếc ấm tích đất nung cùng nhánh gừng già đã nướng sơ đập dập. Nước sôi bùng trong chiếc niêu đất được cô rót từ từ tráng qua một lượt chè để khử vị chát gắt, rồi mới châm đầy nước sôi sùng sục vào ủ kín trong bồ rơm lót vải vụn. Hương chè tươi thanh khiết quyện với vị nồng ấm của gừng bốc lên nghi ngút, đánh thức cả gian bếp nghèo lạnh lẽo.
Thu quảy gánh hàng xuất phát khi trời còn mờ mờ nhân ảnh. Một bên thúng là chiếc ấm tích ủ trong bồ rơm, chồng bát sành buộc lạt giang cẩn thận, cùng chiếc nồi đất nhỏ đựng than hồng giữ nhiệt; bên kia thúng là bó củi khô, chiếc chổi rơm và vài củ sắn lùi thơm phức bọc trong manh lá chuối tươi.
Bến đò Vạn Cát buổi sớm tinh mơ chìm ngập trong làn sương mù sông Hồng đùng đục như sữa. Gió bấc vẫn thổi từng cơn rát buốt, mặt sông phẳng lặng như tờ, chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền nghe xa xăm, cô tịch.
Thu thoăn thoắt bước xuống dốc bến, đặt gánh hàng trước chiếc chòi rơm xiêu vẹo dưới gốc đa. Cô lập tức xắn tay áo, cầm chiếc chổi rơm quét sạch lớp lá khô mục nát và rác rưởi trên nền đất nện. Đôi bàn tay khéo léo của cô dựng lại những thanh nứa liếp bị gãy, dùng dây lạt giang buộc chặt lại vách chắn gió phía đông – hướng gió bấc thốc mạnh nhất từ sông lên. Cô xếp ba hòn gạch ba banh vỡ thành chiếc kiềng vững chãi góc chòi, đặt chiếc nồi đất nhóm than hồng lên đó. Chỉ chốc lát sau, ánh lửa đỏ rực bắt đầu bập bùng nhảy múa, xua tan bóng tối và hơi lạnh ẩm ướt bám riết lấy lòng chòi suốt bao năm tháng bỏ hoang.
Hơi ấm lan tỏa. Mùi khói rơm quyện với mùi than củi và hương chè gừng thơm ngát bắt đầu bảng lảng bay ra triền sông.
Thu khẽ thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi lấm tấm trên trán. Cô bước ra ngoài mép dốc, ôm thêm một bó củi rười khô vừa gom được ven bờ đá để chuẩn bị tiếp củi cho bếp than.
Đúng lúc ấy, từ phía đỉnh đê mờ mịt sương muối, một chuỗi âm thanh kỳ lạ vang lên giữa sự tĩnh lặng của buổi sớm mai.
Cộc... xoạt... Cộc... xoạt...
Đó là tiếng một cây gậy gỗ thô sơ gõ nhịp xuống nền đường lát gạch nghiêng, xen lẫn tiếng bước chân lê nặng nề, tập tễnh trên cát sỏi.
Thu ngẩng đầu lên, đưa bàn tay gầy gò lên che trán nhìn về phía triền dốc bến sông.
Giữa màn sương mai bảng lảng mờ mịt, một bóng người đàn ông cao lớn sừng sững hiện ra. Người ấy khoác chiếc áo trấn thủ màu cỏ úa cũ kỹ rách toạc một bên vai để lộ lớp bông chần xơ xác dính bụi đường trường. Lưng anh đeo chiếc ba lô cóc sờn bạc lép kẹp, chiếc mũ cối bạc màu kéo sụp xuống trán che khuất nửa khuôn mặt góc cạnh sạm đen vì nắng gió chiến trường.
Mỗi bước đi của người đàn ông đều dồn hết trọng lực vào bên chân phải vững chãi, trong khi chiếc chân trái dường như cứng đờ, mỗi lần nhấc lên là một lần toàn thân anh khẽ run rẩy kìm nén cơn đau buốt nhói. Cây gậy tre mộc trên tay anh chống mạnh xuống đất, để lại từng vết lõm sâu hoắm, nặng trĩu cô độc in dài trên triền cát lạnh của bến đò Vạn Cát.