Ngọn lửa trong lò gió đã tắt, nhưng nước trong ấm vẫn còn sôi lăn tăn, hơi nước đội nắp ấm bật lên tiếng “bụp bụp”.
Khương Như Ý kinh ngạc liếc nhìn vị Bùi Thiếu doãn trước mặt, không hiểu vì sao chàng lại đột nhiên hỏi đến chuyện thời thơ ấu của nàng.
Nhưng nghĩ kỹ lại, chàng cũng giống như nàng, đều đã mất đi song thân, chẳng lẽ vì chùa cổ này vắng vẻ tĩnh mịch, nên chàng bỗng thấy thương cảm về thân thế của mình?
Sau khi Bùi Chiêu hỏi ra câu ấy, chính chàng cũng cảm thấy bất ngờ.
Lần trước ở nha môn Khai Phong, chàng còn lo hỏi nhiều sẽ khơi lại ký ức đau buồn của nàng, vậy mà giờ đây lại buột miệng hỏi ra. Chẳng lẽ là vì nhìn thấy dáng vẻ nhàn nhã tự tại của nàng lúc này, nên trong lòng chàng sinh ra chút… ngưỡng mộ?
Bùi Chiêu rũ mắt xuống: “Là ta đường đột rồi, nếu Khương tiểu nương tử không muốn trả lời thì…”
Khương Như Ý lại bất chợt cắt ngang lời chàng: “Thường ngày Bùi Thiếu doãn ở trong thành Biện Kinh, trước đây có từng đến những thôn trang ngoài thành như thế này chưa?”
Thấy Bùi Chiêu bất ngờ nhìn sang mình, Khương Như Ý mỉm cười với chàng.
Nàng hạ giọng hỏi: “Chuyện gia phụ từng nhậm chức ở nha môn Khai Phong, chắc Bùi Thiếu doãn cũng đã biết rồi chứ?”
Bùi Chiêu gật đầu: “Đường công từng nhắc với ta về chuyện của Khương… bá phụ.”
Nghe cách chàng xưng hô với phụ thân mình, Khương Như Ý không khỏi liếc nhìn chàng thêm một cái. Thấy chàng đang nghiêm túc nhìn mình, nàng mím môi rồi thu ánh mắt lại.
Nàng nói tiếp: “Ngày thường gia phụ ta rất thích uống rượu, nhất là những loại rượu tự nấu ở thôn quê. Không chỉ ở các thôn làng ngoài thành, mà cả đạo quán hay chùa chiền nữa, hễ nơi nào có rượu mới, ông ấy đều tìm cách mang về một vò, rồi kéo a nương ta cùng nếm thử.”
Nói đến đây, Khương Như Ý khẽ nháy mắt với Bùi Chiêu, hạ thấp giọng bổ sung: “Nhưng chùa ta nói đến không phải là nơi này đâu, không tính là xúc phạm thần Phật.”
Bùi Chiêu nghe nàng nói có phần tinh nghịch, cũng không nhịn được mà bật cười. Ở chốn thôn dã, vào thu đông vắng vẻ lạnh lẽo, các hòa thượng tự nấu chút rượu lương thực để sưởi ấm thân mình, vốn cũng là chuyện bình thường.
Thấy chàng gật đầu, Khương Như Ý tiếp tục hồi tưởng lại chuyện thuở nhỏ, trên gương mặt dần hiện lên ý cười.
“A nương ta thì không thích uống rượu lắm, nhất là những vò rượu thôn quê mà phụ thân mang về. Có loại còn miễn cưỡng uống được, có loại thì lại có mùi rất kỳ quái. Đương nhiên, cũng có đôi khi hiếm hoi nếm được rượu ngon thực sự, nhưng phần lớn thì mùi vị đều chẳng ra sao.”
“A nương lập tức trách phụ thân, nói chút bổng lộc ít ỏi đều bị ông tiêu vào rượu. Nhưng mỗi lần trách thì trách vậy, rốt cuộc vẫn chiều ông mua. Cho dù có giận đi nữa, sang ngày hôm sau cũng sẽ được phụ thân dỗ dành cho nguôi giận.”
Bùi Chiêu nghe Khương Như Ý kể, khẽ mỉm cười, chỉ cần nghe nàng nói thôi, chàng cũng có thể hình dung ra được tình cảm của phu thê Khương bá phụ rất tốt, ngày tháng bình yên ấm áp.
Chàng lại mở miệng hỏi: “Thế còn Khương bá phụ thì sao? Chẳng lẽ bá phụ chưa từng thu lại tật uống rượu à?”
Khương Như Ý nghiêng đầu, nghiêm túc nghĩ một lát, rồi lắc đầu: “Cũng không phải là không có. Mỗi lần a nương trách phụ thân, phụ thân cười nói rằng, mình có một căn nhà nhỏ, có thê tử nữ nhi bên cạnh, trong lòng đã cảm thấy đủ đầy rồi. Nhưng khi ta lớn hơn một chút, phụ thân mua rượu ít đi hẳn, nói là phải để dành tiền, tích góp làm của hồi môn cho ta.”
Trong đầu nàng hiện lên bóng dáng cao lớn tuấn tú của phụ thân, ông từng ôm đứa bé là nàng lúc đó, cười sảng khoái: “A Ý ngày càng xinh đẹp rồi, đợi sau này lớn lên, nhất định sẽ là một mỹ nhân giống mẫu thân của con. Từ nay phụ thân không uống rượu nữa, số bạc tiết kiệm được đều để dành làm của hồi môn cho A Ý.”
Khương Như Ý nói đến đây, nghĩ tới nghĩ lui, sống mũi bỗng cay cay.
Chỉ tiếc rằng, sau một kiếp nạn, phụ thân và a nương đều qua đời, ngay cả căn nhà trong nhà cũng bị thiêu rụi.
Khương Như Ý dừng lời, đưa tay lau khóe mắt, trước mắt lại có người đưa một chiếc khăn tay màu xanh tới. Khương Như Ý do dự giây lát rồi vẫn nhận lấy.
Trong mắt Bùi Chiêu lộ ra vẻ áy náy, chàng đứng dậy khỏi ghế đá, trịnh trọng thi lễ với Khương Như Ý: “Là tại ta đường đột, khiến Khương tiểu nương tử nhớ lại chuyện buồn.”
Khương Như Ý lắc đầu, nàng cẩn thận gấp chiếc khăn đã dùng xong rồi cất đi, sau đó cũng đứng dậy cúi người thi lễ với Bùi Chiêu.
“Đa tạ khăn tay của Bùi Thiếu doãn, đợi về giặt sạch rồi, ta sẽ trả lại cho ngài.”
“Ừm.”
Hai người nói xong mấy lời ấy, trà lá trúc trong chén cũng đã uống hết. Khương Như Ý nhớ tới A Thược và Tề Phi ở bên ngoài, bèn xách nửa ấm trà còn lại định ra ngoài tìm họ.
Bùi Chiêu lên tiếng nói: “Nghe nói đồ chay trong chùa này hương vị không tệ, Khương tiểu nương tử đã ra ngoài dạo chơi một chuyến, hay là nếm xong đồ chay rồi hãy về?”
Khương Như Ý nghĩ một lát, cũng thấy khó có dịp ra ngoài chơi, ăn xong bữa trưa rồi về cũng không muộn.
Nàng gật đầu: “Đa tạ Bùi Thiếu doãn đã nhắc nhở.”
Bùi Chiêu ôn hòa mỉm cười: “Khương tiểu nương tử không cần khách sáo, cứ tự nhiên.”
Chàng lùi sang một bên nửa bước, nhường đường cho Khương Như Ý. Nàng gật đầu với Bùi Chiêu, rồi xách trà lá trúc rời đi.
Khi trở lại bên bờ suối, nàng thấy A Thược và Tề Phi đã từ rừng bia đá quay lại.
Thấy Khương Như Ý mang đồ uống trở lại, A Thược vội vàng bước lên đón lấy, bảo Tề Phi bày chén ra rồi rót ba chén đồ uống.
Hôm nay mang theo khá nhiều bát đĩa và chén, ngoài mấy chiếc cốc Khương Như Ý vừa mang vào trong chùa, bên ngoài vẫn còn lại ba chiếc, vừa hay mỗi người một chén.
Khương Như Ý chỉ vào chén, nhắc A Thược và Tề Phi: “Vừa mới nấu xong đấy, uống chậm thôi, cẩn thận kẻo bỏng.”
A Thược nghe lời Khương Như Ý, lúc này mới cúi xuống nhìn vào chén, tò mò hỏi: “Ơ, vừa nãy tiểu nương tử không có ở đây, hóa ra là vào trong chùa nấu trà lá trúc sao?”
Khương Như Ý chỉ “ừm” một tiếng coi như trả lời, nghĩ tới chuyện ban nãy mình gặp Trang Tam nương và Bùi Thiếu doãn, nàng cảm thấy tốt hơn hết là đừng kể cho A Thược và Tề Phi biết.
Nghĩ vậy, Khương Như Ý lại chỉ về phía rừng bia, hỏi A Thược: “Vừa rồi hai người vào rừng bia chơi thế nào?”
Nhắc tới chuyện này, A Thược lập tức xụ mặt xuống: “Chẳng thú vị chút nào cả, tuy trong rừng bia trồng không ít cây ngân hạnh, nhưng lá vẫn chưa vàng. Biết thế này, ta đã đi cùng tiểu nương tử nấu trà lá trúc rồi.”
Nghe A Thược than thở như vậy, Khương Như Ý cười rất không có lương tâm.
Thấy tiểu nương tử cười vui vẻ, A Thược chợt nhận ra điều gì đó, kinh ngạc nhìn nàng hỏi: “Chẳng lẽ tiểu nương tử đã sớm biết lá ngân hạnh vẫn chưa vàng sao?”
Khương Như Ý cười gật đầu, rồi đưa tay chỉ về khu rừng phong ở phía xa. Nghĩ đến việc nàng và A Thược trước sau đều bị hai khu rừng khác nhau “lừa”, không nhịn được mà cười khổ.
A Thược nghe xong, tức giận giậm chân: “Tiểu nương tử còn cười được nữa!”
Thấy A Thược bĩu môi, Khương Như Ý vội thu lại ý cười, dỗ dành nàng ấy: “Thôi nào, tuy không thấy phong đỏ hay ngân hạnh vàng, nhưng cũng coi như đã ngắm cảnh thu rồi. Hơn nữa, nghe nói cơm chay trong chùa khá ngon, lát nữa chúng ta ăn xong trong chùa rồi hãy về.”
A Thược vừa nghe nói tới ăn cơm chay thì vui vẻ đáp ngay một tiếng. Tề Phi có chút bất đắc dĩ nhìn A Thược rồi lại nhìn Khương Như Ý, thầm nghĩ tiểu nương tử đúng là giỏi dỗ người khác.
Ba người lại uống trà lá trúc thêm một lát, ngồi bên dòng suối ngắm những con cá nhỏ ánh bạc bơi lội. Khương Như Ý lấy từ trong hộp thức ăn ra mấy món mật tiễn cho mọi người ăn. Đợi chơi đùa đủ rồi, ba người thu dọn thảm và hộp thức ăn, cùng nhau đi về phía ngôi chùa.
Trong trai đường đã có lác đác vài ba bàn du khách ngồi ăn, nhỏ giọng trò chuyện.
Khương Như Ý dẫn A Thược và Tề Phi tìm một chiếc bàn gỗ còn trống ngồi xuống. Vừa ngẩng đầu lên, nàng trông thấy Bùi Chiêu ở cách đó không xa.
Nàng lại đưa mắt nhìn quanh một vòng, không thấy bóng dáng Trang Tam nương đâu, không biết có phải vì bị vị Bùi Thiếu doãn này lạnh lùng từ chối nên cố ý tránh mặt không.
Bùi Chiêu cũng nhìn thấy Khương Như Ý, khẽ gật đầu chào từ xa.
Khương Như Ý cũng gật đầu đáp lại, rồi thu ánh mắt về.
A Thược cũng trông thấy Bùi Thiếu doãn, không nhịn được hỏi Khương Như Ý: “Tiểu nương tử, tiểu nương tử nhìn kìa, sao hôm nay Bùi Thiếu doãn cũng ở đây vậy?”
Khương Như Ý khẽ ho một tiếng, đáp: “Có lẽ chỉ là trùng hợp thôi.”
“Thật sao?” A Thược chớp chớp mắt, “Sao muội cứ cảm thấy dường như tiểu nương tử và Bùi Thiếu doãn đặc biệt có duyên với nhau nhỉ?”
Ba người còn đang nói chuyện thì nhà sư đã bưng cơm chay lên, bữa cơm đơn giản với ba món một canh và ba bát cơm mạch, tất cả đều là đồ chay, trông rất thanh đạm, sạch sẽ.
Khương Như Ý vội vàng chuyển chủ đề, cầm đôi đũa nhà sư đưa tới nhét vào tay A Thược: “Duyên với chả phận gì, mau ăn đi, không thì lát nữa nguội mất.”
A Thược nhìn mâm cơm, sự chú ý lập tức bị thu hút, cũng không nghĩ nhiều nữa, gắp một miếng củ sen ăn. Chỉ có Tề Phi là nhìn Khương Như Ý thêm một cái, vẻ mặt đầy nghi ngờ.
Bữa cơm này quả thực rất ngon, tuy chỉ là rau xanh đậu phụ, nhưng không biết có phải vì ăn ở chùa cổ ở cạnh suối hay không, Khương Như Ý cảm thấy bữa ăn này đặc biệt ngon miệng.
Nhất là món canh đậu phụ kia, đậu phụ mềm mịn trơn mướt, bên trong cho thêm một loại rau xanh thái vụn, nhai vào có cảm giác dày dặn, vị thanh xen chút đắng nhẹ rất thú vị.
Ba người ăn xong bữa cơm, lại dạo thêm một vòng trong chùa rồi mới lưu luyến rời đi.
Khi đi ngang qua cổng chùa, Khương Như Ý còn cố ý quay đầu liếc nhìn về phía cửa phụ, phát hiện chiếc xe ngựa tinh xảo, cầu kỳ ban nãy đã không còn ở đó nữa, lúc này trên mặt nàng mới hiện ra vẻ chợt hiểu ra.
Hóa ra không phải vì ra ngoại ô lễ Phật, mà là vì muốn gặp người.
A Thược tò mò nhìn nàng: “Tiểu nương tử đang nhìn gì vậy?”
Khương Như Ý quay sang lắc đầu với A Thược: “Không có gì, cũng muộn rồi, chúng ta về thôi.”
Ba người cùng lên xe ngựa, lại kiểm tra một lượt đồ đạc mang theo xem có bỏ sót gì không rồi mới quay về thành Biện Kinh.
…
Khi về đến cửa quán ăn, đã có khách sốt ruột đứng chờ.
Vừa thấy ba người Khương Như Ý trở về, ánh mắt mấy thực khách lập tức sáng lên, vội vàng bước nhanh về phía nàng.
“Khương tiểu nương tử, cuối cùng các người cũng về rồi, nếu còn không về nữa thì cái dạ dày này của ta sắp làm loạn lên mất”
“Khương tiểu nương tử nói đóng cửa nửa ngày, sao giờ này mới về? Nhưng về là tốt rồi, về là tốt rồi. Khương tiểu nương tử, giờ có thể mở quán chưa?”
Nghe những lời mong ngóng tha thiết của các thực khách, Khương Như Ý vội vàng nở nụ cười áy náy với mọi người.
Nàng lên tiếng: “Hôm nay về muộn một chút, để các vị đợi lâu rồi, thật xin lỗi. Xin các vị ngồi chờ giây lát, nguyên liệu trong bếp đã chuẩn bị sẵn từ trước, chỉ cần hầm trong nồi đất một lúc là xong.”
Nghe Khương Như Ý nói vậy, các thực khách đều gật đầu, tìm chỗ ngồi quen thuộc. Khương Như Ý bảo A Thược ra sau viện cất đồ, còn mình thì cùng Tề Phi vào bếp.
Vì Khương Như Ý đã dự liệu sẽ có khách đợi, nên sáng nay đã bảo Tề Phi chuẩn bị nguyên liệu cho nồi đất từ sớm, lúc này chỉ cần nấu là xong.
Trong bếp, Khương Như Ý và Tề Phi nhanh chóng bận rộn, chẳng bao lâu những nồi đất đầu tiên đã được đặt lên bếp lửa, bắt đầu sôi lục sục.
May mà lúc này khách đến không nhiều, nguyên liệu chuẩn bị từ trước vẫn đủ dùng. Đợi nồi đất trên bếp sôi và chín, Khương Như Ý dùng khay dày đỡ lấy, lần lượt mang tới bàn cho khách.
A Thược đã cất đồ xong ở hậu viện, nhanh chân đi vào, hỏi Khương Như Ý: “Tiểu nương tử, có cần muội làm gì không?”
Khương Như Ý chỉ ra bên ngoài nhà bếp, nói: “Muội ra ngoài trông quán đi, trong bếp có ta và Tề Phi là đủ rồi.”
“Vâng ạ.” A Thược đáp một tiếng, vội vén rèm đi ra ngoài.
Tề Phi thấy Khương Như Ý xắn tay áo lên, trông như sắp nấu thêm gì đó, thì ngạc nhiên nhìn nàng: “Nhân lúc này chưa bận, tiểu nương tử không ra hậu viện nghỉ ngơi một lát sao?”
Khương Như Ý xua tay bảo cậu cứ làm việc của mình, còn nàng thì vớt ra một miếng đậu phụ trong thau nước sạch bên cạnh ra.
Món canh đậu phụ ăn trong chùa hôm nay đã khơi dậy cơn thèm đậu phụ của nàng, nhưng nàng vẫn cảm thấy thiếu thiếu thứ gì đó nên muốn tự tay làm thử.
Nàng định làm đậu phụ Văn Tư[1], món này tinh túy nằm ở kỹ thuật thái sợi đậu phụ.
[1] Đậu phụ Văn Tư: là một món ăn nổi tiếng của ẩm thực Giang Tô – Dương Châu, nổi bật nhờ kỹ thuật thái đậu phụ thành sợi cực mảnh, mảnh đến mức giống như tơ sợi. Đây là một món rất thanh tao, thường được xem là món cao cấp trong các yến tiệc truyền thống.

Khương Như Ý cắt bỏ hết lớp vỏ cứng xung quanh miếng đậu, rồi bắt đầu tỉ mỉ thái sợi. Thái sợi đậu phụ là việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tinh tế, dao phải nhanh và đều thì mới có thể cắt được sợi đậu mảnh như tơ tóc, khi ăn vào mới mềm mịn, trơn mượt.
Kiếp trước, Khương Như Ý từng xem qua những cuộc thi chuyên thái đậu phụ thành sợi. Nhìn đầu bếp cầm dao tưởng chừng rất bình thường, nhưng khi thả phần đậu đã thái vào nước, từng sợi đậu mảnh như tóc lập tức bung ra trong nước, trắng muốt bồng bềnh, như một đóa hoa trắng đang nở, kỹ nghệ thật sự tinh xảo tuyệt luân.
Dao pháp của nàng đương nhiên không thể do sánh với đầu bếp chuyên nghiệp, nhưng thắng ở chỗ cẩn thận, lại thêm lượng cắt không nhiều.
Đợi khi thái xong miếng đậu và thả vào nước, không chỉ bản thân Khương Như Ý rất hài lòng, mà ngay cả Tề Phi cũng ghé lại xem, không nhịn được trầm trồ mấy tiếng.
Khương Như Ý đặt phần đậu đã thái sang một bên, lại tiếp tục thái sợi nấm hương, sợi măng, rồi lấy một miếng ức gà non, cũng thái thành từng sợi gà mảnh.
Nàng đun nước sôi trên bếp, chần sơ đậu phụ sợi một lượt để khử mùi đậu, sau đó cho nước dùng gà vào nồi, thả lần lượt các loại sợi vào. Khi nước sôi trở lại, cho vào một nhúm muối nhỏ. Thế là một nồi đậu phụ Văn Tư mềm mịn, trơn mượt, hương vị thanh ngọt đậm đà đã hoàn thành.
Sau đó, không chỉ Khương Như Ý, Tề Phi và A Thược, mà ngay cả các thực khách đang ăn trong quán, mỗi người cũng đều được một bát nhỏ đậu phụ Văn Tư.
Các thực khách vốn vừa ăn xong nồi đất thơm ngon, còn đang thòm thèm l**m môi, tính gọi thêm ít đậu phụ khô ngũ vị hay đồ ăn vặt gì đó.
Khi bát đậu phụ Văn Tư trắng như tuyết được bưng lên, mọi người tò mò nếm thử một ngụm, lập tức bị hương vị thanh ngọt chinh phục, lại nhìn những sợi đậu mảnh như tơ tóc, ai nấy đều tấm tắc gật đầu khen ngợi.
Khương Như Ý vừa được khách khen, lại vừa thỏa cơn thèm, trong lòng vô cùng mãn nguyện, quay trở lại phía sau quầy.
Đến buổi chiều, khi nhóm khách này đã ăn xong và rời đi, Khương Như Ý bảo A Thược và Tề Phi ra sau nghỉ ngơi, còn mình thì trông quán.
Đúng lúc ấy, bên ngoài có hai chiếc xe ngựa chạy tới, Khương Như Ý thấy hơi quen mắt nên nhìn kỹ, lại thấy hai vị tiểu nương tử quen mặt bước vào. Người đi phía trước không phải ai khác, chính là Trang Tam nương mà nàng đã gặp ở chùa cổ ngoài thành vào buổi sáng.
Khương Như Ý nhìn vị tiểu nương tử kia với gương mặt nghiêm nghị bước vào, bất đắc dĩ bĩu môi một cái. So sánh ra, vị Đinh Ngũ nương mặc y phục màu hồng bên cạnh lại trông duyên dáng và đáng yêu hơn hẳn.
Trang Tam nương liếc mắt đã thấy Khương Như Ý đứng sau quầy, quay sang dặn dò nha hoàn phía sau: “Chính là quán này, các ngươi ra ngoài chờ đi, ta và Ngũ nương ở đây là được rồi.”
Khương Như Ý nhìn một nhóm người đi vào rồi lại đi ra nhanh chóng, trong quán chỉ còn lại hai vị quý nữ, không khỏi chớp mắt đầy kinh ngạc. Nhìn tư thế này, chẳng lẽ vị Trang tiểu nương tử kia là dẫn khuê mật tới… tính sổ?
Khương Như Ý cẩn thận nhớ lại chuyện trong chùa khi sáng, nàng thật sự chẳng nghe thấy gì cả, hoàn toàn vô tội, thế là nàng nhún vai một cái, vẻ mặt rất thản nhiên.
Nàng nở một nụ cười nhẹ trên gương mặt, bước tới bàn nơi hai người đang ngồi, chủ động mở lời: “Hoan nghênh hai vị nữ lang ghé quán. Không biết giờ này hai vị muốn dùng bữa chính, hay chỉ gọi chút bánh trà ăn nhẹ?”
Đinh Ngũ nương nhìn thấy chủ quán ăn này chính là Khương tiểu nương tử, không khỏi kinh ngạc kêu lên một tiếng: “Ơ?”
Trang Tam nương liếc nhìn Khương Như Ý một cái, sau đó lạnh lùng nói: “Chỉ tuỳ tiện ăn uống chút thôi, chủ quán cứ tuỳ ý mang ra.”
Khương Như Ý nghe yêu cầu như vậy thì vẫn vui vẻ mỉm cười, xoay người vào bếp.
Chẳng mấy chốc, đồ ăn được bưng ra, bày kín cả bàn, trong đó không thiếu những món giá khá cao như bánh nếp mặn và chè long nhãn tuyết nhĩ.
Bát chè long nhãn tuyết nhĩ được hầm sánh mịn, trơn bóng, đựng trong chiếc bát sứ trắng hoa văn tinh xảo, đúng là một món tráng miệng mà trước đây chưa từng thấy qua.
Đinh Ngũ nương vội cầm thìa nếm một ngụm, chỉ thấy hương vị thơm ngọt, dịu dàng, không khỏi khen ngợi Khương Như Ý: “Khương tiểu nương tử nấu món ngọt này ngon quá, trang trí cũng đẹp mắt nữa.”
Trang Tam nương nghe lời Đinh Ngũ nương nói, sắc mặt lại càng khó coi hơn mấy phần.
Nàng ta ngẩng đầu nhìn Khương Như Ý, nói: “Không ngờ hôm nay Khương tiểu nương tử cũng đến chùa cổ ở ngoài thành, đúng là trùng hợp.”
Khương Như Ý nghe vậy thì hiểu ngay quả nhiên là nàng ta đến để ‘tính sổ’, trong lòng có chút bất đắc dĩ, nhưng trên mặt vẫn giữ nụ cười bình thản.
Khương Như Ý gật đầu: “Quả thật là trùng hợp. Hôm nay là ngày Thu Xã, nghe nói rừng phong ở đó có phong cảnh rất đẹp, nên ta tranh thủ lúc rảnh rỗi đến xem thử cho biết. Chắc hôm nay Trang tiểu nương tử cũng ra ngoại ô ngắm lá phong chứ?”
Trang Tam nương nghe Khương Như Ý nói như vậy, sắc mặt mới dịu đi đôi chút.
Một lúc lâu sau nàng ta mới gật đầu: “Khương tiểu nương tử nói rất phải. Nếu vậy, đúng là trùng hợp thật.”
Khương Như Ý chỉ mỉm cười gật đầu, không chờ nàng ta nói thêm điều gì đã trực tiếp xoay người rời đi.
Theo suy nghĩ của Khương Như Ý, ngôi chùa cổ đó vốn đâu phải là nơi riêng tư, nếu đã chọn nơi đó để nói chuyện, thì phải chấp nhận có thể bị người khác nghe thấy. Chẳng lẽ cả một ngôi chùa rộng lớn như thế, lại chỉ cho phép một mình cô dâng hương hay sao?
Như thế… cũng hơi độc đoán quá rồi.