Phụng Hoàng Không Tranh Ngai
Chương 1: Bông mai đầu cành
Gió bấc rít qua những khe hẹp của lan can đá cẩm thạch, cuộn theo từng đợt hơi lạnh thấu xương từ phương Bắc tràn về Hoàng thành Thịnh Kinh. Đêm đã sang canh ba, toàn bộ cung cấm chìm trong một sự tĩnh mịch ngột ngạt đến rợn người. Dưới bóng tối thâm nghiêm của những mái ngói lưu ly màu hoàng kim, tường đỏ sừng sững như những vách núi dựng đứng, ngăn cách sự xa hoa tột cùng của đế vương với thế gian hỗn tạp bên ngoài.
Thượng Khâm giám nằm ở góc Tây Bắc của Tử Cấm Thành, nơi tiếp giáp với Đài Thiên Văn cổ kính và Tàng Thư Các sừng sững ba tầng. Khác với sự nhộn nhịp, nịnh nọt đèn hoa rực rỡ nơi Diên Khánh Cung của Tiêu Quý phi, hay vẻ trang nghiêm lắng đọng nơi Từ Ninh Cung của Hoàng thái hậu, góc Tây Bắc này quanh năm quạnh quẽ. Nơi đây chỉ có tiếng tích tắc của đồng hồ nước nhỏ giọt đều đặn, tiếng xào xạc của những cuộn thẻ tre, giấy ngọc bản và mùi hương mộc hương ngai ngái pha lẫn mực tùng yên lưu niên.
Ninh Tố Uyên ngồi bên chiếc án thư bằng gỗ hoàng đàn đã lên nước bóng loáng, trước mặt nàng là ngọn đèn dầu lạc leo lét, ngọn lửa chốc chốc lại khẽ rung rinh theo từng cơn gió luồn qua khe cửa sổ dán giấy lụa mỏng. Nàng vận một bộ quan phục sam màu xanh nhạt bằng vải lụa thô, không thêu thùa hoa văn lộng lẫy, đầu chỉ cài duy nhất một chiếc trâm gỗ mun trơn nhẵn. Dung mạo nàng thanh tú, đôi mày lá liễu thanh mảnh che chở cho đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu nhưng nơi đáy mắt lại ẩn chứa sự trầm tĩnh, sắc lạnh dị thường.
Nàng đã hai mươi hai tuổi. Ở cái tuổi này, phần lớn nữ tử chốn kinh kỳ đều đã yên bề gia thất, hoặc nếu ở trong cung cũng đã trở thành những phi tần mòn mỏi tranh sủng nơi hậu viện. Nhưng Tố Uyên thì khác. Hai năm trước, khi phụ thân nàng – một viên quan văn thanh liêm thuộc Hàn Lâm Viện – bị phe cánh Huân phiệt của Tiêu gia chèn ép đến mức phải cáo lão hồi hương trong uất ức, Tố Uyên đã chọn con đường này. Nàng dùng tài học kinh sử và sự hiểu biết uyên thâm về thiên văn, lịch pháp vượt qua kỳ khảo hạch gắt gao của Lục cục, bước chân vào Thượng Khâm giám với thân phận một Nữ sử chưởng quản thư tịch.
Nàng vào cung không phải để tìm kiếm sự sủng ái hão huyền của đế vương, càng không màng đến những vinh hoa phú quý phù phiếm. Nàng vào đây để trở thành một chiếc rễ cây cắm sâu vào lòng đất, bảo vệ gia tộc họ Ninh khỏi những đợt sóng ngầm thanh trừng của triều đình.
"Niên hiệu Chiêu Hòa năm thứ mười lăm..."
Tố Uyên khẽ lẩm bẩm, ngón tay thon dài lật nhẹ một trang giấy ngọc bản ố vàng.
Đại Hưng thoạt nhìn bên ngoài vẫn là một đế quốc thái bình thịnh trị, nhưng bên trong ruột đã bắt đầu mục ruỗng. Hoàng đế lâm trọng bệnh triền miên hơn một năm qua, Càn Thanh Cung ngày đêm nghi ngút khói thuốc bắc và mùi trầm hương nồng nặc đến nghẹt thở. Thiên tử suy yếu, triều cương lập tức nghiêng ngả. Mọi quyền hành ở tiền triều dần rơi vào tay Tiêu Thừa tướng – người đứng đầu Thượng thư tỉnh, nắm trọn quyền bổ nhiệm quan lại và có sự hậu thuẫn vững chắc từ Cấm vệ quân. Nơi hậu đình, Tiêu Quý phi Tiêu Thục Lan độc bá lục cung, kiêu ngạo lấn lướt cả Hoàng thái hậu già yếu.
Mọi người trong hoàng thành đều hiểu, thọ yến sáu mươi tám tuổi của Hoàng thái hậu diễn ra sau ba ngày nữa chính là chiến trường không khói súng. Tiêu gia muốn nhân dịp này phô trương thanh thế tuyệt đối, thúc ép Hoàng đế lập Nhị hoàng tử Triệu Huyên – cốt nhục của Tiêu Quý phi – lên làm Đông Cung Thái tử.
Tố Uyên khẽ thở dài, hơi thở hóa thành làn sương mỏng trong đêm lạnh. Nàng cúi đầu, tiếp tục công việc của mình: kiểm tra và sao chép lại cuốn “Chiêu Hòa Thiên Tượng Biểu” và nhật ký quan trắc thời tiết chuẩn bị dâng lên Lễ bộ vào sáng sớm ngày mai.
Sở dĩ nàng có thể sinh tồn bình an suốt hai năm qua tại nơi rồng cuộn hổ ngồi này là nhờ hai chữ: ẩn nhẫn. Ninh gia có bí thuật ghi chép thiên văn, giải mã tinh tượng và y lý truyền thừa qua nhiều đời, bản thân Tố Uyên từ thuở nhỏ đã có tài bác văn cường ký, xem qua một lần là nhớ trọn đời không bao giờ quên. Nàng có thể đọc thuộc lòng từng vị trí tinh tú trên vòm trời qua từng mùa, nhớ rõ từng nét chữ cấm kỵ trong các triều đại trước, thậm chí chỉ cần ngửi qua mùi giấy mực là biết được niên đại của một cuốn tàng thư. Nhưng nàng giấu kín toàn bộ tài năng ấy sau cặp mắt cụp xuống và những bước đi đoan trang, cẩn mật. Nàng chỉ là một Nữ sử tầm thường, một kẻ ghi chép câm lặng trong mắt mọi người.
"Cạch."
Một tiếng động khẽ vang lên từ phía cửa sau của Tàng Thư Các – nơi thông ra hoa viên hoang phế tiếp giáp với tường thành phía Tây.
Động tác mài mực của Tố Uyên khựng lại. Bàn tay nàng dừng trên thỏi mực tùng yên, đôi tai khẽ động. Giờ này là lúc Cấm quân đổi phiên tuần tra, theo quy định, Tàng Thư Các đã bị khóa ngoài từ đầu giờ Hợi, không ai được phép bén mảng tới.
Tiếng bước chân rất nhẹ, nhưng không giấu được sự lộn xộn, dường như người tới đang say khướt, bước đi xiêu vẹo. Ngay sau đó, cánh cửa gỗ tử đàn khẽ kêu ken két rồi bị đẩy bật ra. Gió đêm thốc mạnh vào trong điện làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo dữ dội, suýt chút nữa tắt ngấm. Mùi gió lạnh buốt mang theo một luồng hương rượu nồng nặc ùa vào khoang mũi Tố Uyên. Đó là mùi của Trúc Diệp Thanh thượng hạng, pha lẫn một tia hương long diên thoang thoảng chỉ dùng cho hoàng tộc.
Một bóng người cao lớn lảo đảo bước qua bậc cửa.
Hắn mặc một bộ gấm bào màu lam thẫm thêu hoa văn mây chìm bằng chỉ bạc, nhưng vạt áo đã xốc xếch, cổ áo hơi mở để lộ đường xương quai xanh rắn rỏi. Tóc mai đen nhánh buông xõa vài lọn trước trán, một tay hắn cầm bầu rượu bằng bạch ngọc đã vơi quá nửa, tay kia chống vào khung cửa để giữ thăng bằng.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn nến, gương mặt người nọ hiện ra rõ nét. Đó là một gương mặt tuấn tú đến mức khiến người ta phải nín thở: mày kiếm sắc bén xếch ngược lên thái dương, sống mũi cao thẳng kiêu hãnh, đôi môi mỏng khẽ nhếch lên một nụ cười ngả ngớn bất cần đời. Nhưng đôi mắt phượng kia dường như lại phủ một lớp sương mù mờ ảo của men say, lờ đờ nhìn quanh gian phòng rộng lớn chất đầy thư tịch.
Tứ hoàng tử, Triệu Kha.
Tố Uyên khẽ nheo mắt, đáy lòng dâng lên một tia cảnh giác tột độ.
Tại chốn kinh thành này, không ai là không biết đến danh tiếng của Tứ hoàng tử Triệu Kha. Mười năm trước, mẫu tộc của hắn là Thẩm gia bị kết tội thông đồng với địch quốc mưu phản, Thẩm Hiền phi uất ức tự vẫn trong lãnh cung, toàn bộ dòng họ Thẩm thị hàng trăm nhân mạng bị xử trảm hoặc lưu đày ngàn dặm nơi biên ải cằn cỗi. Triệu Kha khi ấy mới mười lăm tuổi, nhờ có Hoàng thái hậu liều mình bảo bọc trước cơn thịnh nộ của Hoàng đế mới giữ lại được cái mạng tàn.
Nhưng kể từ sau thảm án đó, vị hoàng tử từng được ca tụng là thần đồng văn võ toàn tài bỗng chốc biến thành một kẻ phế vật buông thả. Hắn ngày đêm la cà nơi lầu xanh ngõ trúc, uống rượu ngâm thơ, kết giao với phường du côn ph*ng đ*ng, không màng đến thế sự triều chính. Trước mặt bá quan và Tiêu Quý phi, hắn luôn tỏ ra là một kẻ nhu nhược, hèn nhát, chỉ biết xin phụ hoàng ban thưởng mỹ nữ và rượu ngon. Người trong cung gọi hắn là "Hoàng tử ngậm bùn", một vết nhơ vô hại trong mắt phe cánh Huân phiệt.
Thế nhưng, lúc này đây, kẻ ngậm bùn ấy lại xuất hiện tại góc tối tăm nhất của Thượng Khâm giám, vào lúc canh ba đêm lạnh.
"Ủng..."
Triệu Kha lảo đảo bước tới, bầu rượu ngọc bích đập nhẹ vào mép giá sách gỗ lim, làm rơi mấy cuộn thẻ tre cũ kỹ xuống nền gạch xanh, vang lên những tiếng lách cách chói tai.
"Rượu ngon... thật là rượu ngon..." Hắn lẩm bẩm, giọng nói khàn khục, ngửa đầu dốc một ngụm rượu lớn vào miệng. Một giọt rượu trong vắt chảy dọc từ khóe môi xuống cằm, rồi thấm vào lớp lụa lam thẫm nơi ngực áo. Hắn đưa mắt lờ đờ nhìn Tố Uyên, dường như lúc này mới nhận ra sự hiện diện của nàng: "Ồ? Nơi thâm u quỷ ám này... từ bao giờ lại có một tiểu nữ quan thanh tú thế này?"
Tố Uyên không hề hoảng loạn. Nàng buông thỏi mực xuống nghiên đá Đoan Khê, thong thả đứng dậy, hai tay đan chéo trước bụng, cúi người hành lễ theo đúng quy chuẩn nghiêm ngặt của Nục cục, không thừa một phân, không thiếu một tấc.
"Nữ sử Thượng Khâm giám Ninh Tố Uyên, tham kiến Tứ điện hạ."
Giọng nàng trong trẻo, bình thản như mặt nước hồ không gợn sóng, giữa đêm khuya vắng lặng nghe vô cùng rõ ràng.
Triệu Kha nấc lên một tiếng, loạng choạng bước thêm hai bước về phía nàng. Hắn khẽ cúi đầu xuống, khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại đến mức Tố Uyên có thể ngửi thấy mùi men rượu Trúc Diệp Thanh nồng đậm phả ra từ hơi thở của hắn.
"Ninh Tố Uyên?" Hắn nheo mắt, khóe môi cong lên thành một nụ cười giễu cợt: "Họ Ninh? Con gái của Ninh lão đầu từng ở Hàn Lâm Viện sao? Hừ, phụ thân ngươi tính tình gàn dở, thà chết không chịu cúi đầu trước Tiêu Thừa tướng, cuối cùng bị đuổi về quê cuốc đất... Không ngờ con gái ông ta lại chui rúc vào chốn bùn lầy này để làm một chân sai vặt."
Lời lẽ của hắn ngông cuồng, sắc nhọn như dao cạo, nhắm thẳng vào nỗi đau của gia tộc nàng. Nhưng Tố Uyên vẫn rủ mi mắt, thần sắc không hề dao động dù chỉ một tia gợn sóng.
"Điện hạ quá lời. Gia phụ cáo lão vì tuổi cao sức yếu, thần nữ vào cung phụng sự hoàng gia là bổn phận của con dân Đại Hưng. Đêm đã khuya, Tàng Thư Các là trọng địa lưu giữ điển tịch thiên văn và hồ sơ cơ mật của triều đình, theo thiết chế Đại Hưng, hoàng tử không có chiếu chỉ của Hoàng thượng hoặc lệnh bài của Thượng Cung cục thì tuyệt đối không được tự ý bước vào. Xin Điện hạ thứ lỗi, mời Điện hạ hồi phủ an nghỉ."
"Chiếu chỉ? Lệnh bài?" Triệu Kha bật cười lớn, tiếng cười mang theo vẻ điên dại của kẻ say xỉn. Hắn vung tay áo, bầu rượu quét qua không trung: "Bản vương là hoàng tử Đại Hưng! Cả giang sơn này đều mang họ Triệu, bản vương muốn đi đâu trong cái hoàng thành này, còn cần một nữ quan bát phẩm như ngươi chỉ điểm sao?"
Vừa dứt lời, hắn bỗng nhiên xoay người, dường như mất đà, ngã nhào về phía dãy giá sách bên trong. Cánh tay hắn quơ mạnh, trực tiếp gạt phăng mấy cuộn trục bằng lụa tím trên kệ gỗ thứ ba.
Mục tiêu của hắn rơi xuống đất: đó là ngăn tủ chứa hồ sơ thiên tượng và địa đồ phân bổ quan lại các châu huyện năm Vĩnh Hưng thứ hai mươi — năm mà Thẩm gia bị tru diệt!
Ánh mắt Tố Uyên chợt lóe lên một tia sáng lạnh.
Mọi hành động của Triệu Kha thoạt nhìn hoàn toàn là sự vụng về, mất kiểm soát của một kẻ say rượu. Thế nhưng, trong khoảnh khắc hắn lảo đảo ngã về phía trước, Tố Uyên đã nhìn thấy rất rõ:
Gót chân hắn hạ xuống đất vững như bàn thạch, cơ bắp dưới lớp áo gấm căng nhẹ một cách hoàn hảo để khống chế hướng ngã, không hề có dấu hiệu run rẩy hay mất trọng tâm của người trúng độc cồn. Quan trọng hơn cả, khi tay hắn vung ra làm đổ các cuộn sách, ngón tay trỏ và hổ khẩu tay phải của hắn lộ ra dưới ánh nến — nơi đó có những vết chai dày cộm, sẫm màu. Đó không phải là vết chai do cầm bút vẽ tranh hay gảy dây đàn của một hoàng tử phong lưu, mà là vết chai đặc thù của người quanh năm giương những cây cung cứng trên một thạch, luyện tập đao kiếm hạng nặng đến mức ăn sâu vào da thịt!
Và trong một phần mười cái chớp mắt khi hắn quay lưng về phía nàng, lớp sương mù say khướt trong đôi mắt phượng kia hoàn toàn biến mất. Đáy mắt hắn sâu thẳm, lạnh lùng như hàn băng vạn trượng nơi vực sâu tăm tối, lóe lên sự tỉnh táo đến rợn người.
Hắn đang diễn kịch. Hắn mượn cớ say xỉn để đột nhập vào Tàng Thư Các, tìm kiếm hồ sơ cũ của mười năm trước!
Bàn tay Triệu Kha giả vờ lóng ngóng quờ quạng dưới đất, ngón tay hắn đã chạm vào mép cuộn trục da cừu bọc lụa vàng năm Vĩnh Hưng.
"Điện hạ, cẩn thận kẻo đụng phải tà khí."
Một giọng nói mềm mại nhưng lạnh lùng vang lên ngay bên tai hắn.
Trước khi ngón tay Triệu Kha kịp nắm lấy cuộn trục, một bàn tay thon thả, trắng ngần như ngọc đã nhanh hơn một bước, nhẹ nhàng nhưng chuẩn xác giữ chặt lấy đầu kia của trục thư.
Triệu Kha khựng lại. Hắn ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn của Ninh Tố Uyên.
Nàng quỳ một gối trên nền gạch lạnh, đối diện trực tiếp với hắn. Khoảng cách gần đến mức hắn có thể nhìn thấy bóng hình của chính mình phản chiếu trong đôi con ngươi đen lánh, tĩnh lặng như gương của nàng. Không có sự sợ hãi, không có sự bối rối, chỉ có một sự thấu suốt sắc bén như có thể nhìn xuyên qua lớp mặt nạ phong lưu sa đọa mà hắn đã dày công đeo đuổi suốt mười năm ròng rã.
"Ngươi làm gì vậy?" Triệu Kha gằn giọng, hơi thở nồng nặc mùi rượu, nhưng giọng điệu đã mất đi vài phần ngả ngớn tự nhiên.
"Thần nữ đang bảo vệ tính mạng cho Điện hạ." Tố Uyên nhìn thẳng vào mắt hắn, từng câu từng chữ thốt ra đều nhẹ nhàng nhưng nặng tựa ngàn cân: "Ngăn tủ này chứa tàng thư năm Vĩnh Hưng thứ hai mươi. Ba tháng trước, theo lệnh của Lễ bộ và Tiêu Thừa tướng, toàn bộ thư tịch của năm đó đã được niêm phong bằng sáp đỏ của Thượng thư tỉnh, cấm bất kỳ ai tự ý trích lục. Nếu đêm nay sáp niêm phong bị vỡ, sáng mai Cấm vệ quân phát hiện, người đầu tiên bị tống vào Thiên lao là thần nữ, nhưng người bị Tiêu Quý phi dâng tấu sàm tấu trước mặt Hoàng thượng tội 'hoài niệm nghịch tặc, mưu đồ lật án' sẽ chính là Tứ điện hạ."Ngón tay Triệu Kha khẽ siết lại trên mặt đất.
Không khí trong Tàng Thư Các bỗng chốc đông cứng. Ngọn gió ngoài cửa sổ dường như cũng ngừng thổi. Trong gian phòng chật hẹp chỉ còn lại tiếng hít thở của hai con người đang đối đầu trong im lặng.
Triệu Kha chậm rãi thu lại nụ cười cợt nhả. Đôi mắt lờ đờ vì men say trong chớp mắt biến đổi hoàn toàn, trở nên sắc bén như chim ưng rình mồi. Một luồng uy áp vô hình, lạnh lẽo toát ra từ người hắn, hoàn toàn khác biệt với vẻ văn nhược vô dụng thường ngày. Hắn nhìn chằm chằm vào dung mạo thanh tú của Tố Uyên, giọng nói trầm thấp, mang theo sự uy h**p nguy hiểm:
"Ninh Tố Uyên, ngươi có biết... kẻ biết quá nhiều chuyện trong cái hoàng cung này, thường không sống được qua tuổi hai mươi lăm không?"
Tố Uyên không hề lùi bước. Nàng đón nhận ánh mắt sắc như dao của hắn, khóe môi khẽ cong lên một nét cười nhạt, thanh nhã như đóa mai nở giữa trời đông giá tuyết:
"Thần nữ biết. Nhưng thần nữ cũng biết, kẻ suốt mười năm giả điên giả dại, nhẫn nhục chịu đựng để nuốt hận chờ thời, tuyệt đối sẽ không vì sự nông nổi nhất thời mà để lộ sơ hở trước một Nữ sử nhỏ bé. Điện hạ đến đây đêm nay, chẳng lẽ chỉ để lấy một cuộn hồ sơ đã bị người ta cạo sửa sạch sẽ từ mười năm trước hay sao?"
Lời vừa thốt ra, đồng tử Triệu Kha co rút mạnh!
Hắn nhìn chằm chằm vào nàng, bàn tay giấu trong tay áo khẽ run lên. Cuộn hồ sơ năm Vĩnh Hưng đã bị cạo sửa? Nàng làm sao biết được? Thượng Khâm giám là nơi lưu trữ bản gốc tinh tượng và nhật ký cung đình, nếu ngay cả bản gốc ở đây cũng đã bị can thiệp, điều đó có nghĩa là màn kịch vu oan cho Thẩm gia năm xưa đã được tính toán chu toàn đến mức không để lại một kẽ hở nào ở tiền triều!
Một sự im lặng kéo dài đến nghẹt thở bao trùm lấy hai người.
Triệu Kha nhìn nàng hồi lâu, sát ý lạnh lẽo nơi đáy mắt hắn dần dần tan biến, thay vào đó là một sự kinh ngạc sâu sắc và một tia hứng thú khó lường. Hắn từ từ đứng thẳng dậy, vạt áo lam thẫm rủ xuống ngay ngắn. Dáng đứng của hắn lúc này thẳng tắp như ngọn tùng trên đỉnh núi tuyết, khí độ vương giả bất phàm hoàn toàn lộ diện, rũ bỏ sạch sẽ vẻ bệ rạc say khướt ban nãy.
"Thú vị." Hắn khẽ cười, giọng nói trầm ấm, rõ ràng, không còn một chút khàn đục của men rượu: "Một Nữ sử chưởng quản thư tịch bát phẩm, lại có nhãn lực và tâm cơ bực này. Phụ thân ngươi quả thật đã nuôi dạy được một đứa con gái xuất chúng."
"Điện hạ quá khen. Thần nữ chỉ cầu tự bảo vệ mình và gia tộc, không dám mơ tưởng điều gì khác." Tố Uyên cúi đầu, cẩn thận thu lại cuộn trục lụa vàng, đặt lại ngay ngắn trên giá sách, cố ý chỉnh lại lớp sáp niêm phong nguyên vẹn như cũ.
Triệu Kha nhìn theo từng cử động điềm tĩnh, thành thục của nàng, ánh mắt lóe lên những tia sáng phức tạp. Hắn nâng bầu rượu ngọc bích lên, lắc nhẹ, nghe tiếng rượu sóng sánh bên trong, rồi thong thả cất bước về phía cửa sổ.
Đứng trước khung cửa sổ mở toang nhìn ra bầu trời đêm đen đặc quánh, Triệu Kha ngẩng đầu nhìn lên những vì tinh tú mờ nhạt bị che khuất bởi những đám mây xám xịt.
"Ninh Tố Uyên, ngươi am hiểu thiên văn lịch pháp của Thượng Khâm giám như vậy, bản vương có một câu đố muốn hỏi ngươi."
Tố Uyên đứng cách hắn năm bước chân, chắp tay đáp: "Xin Điện hạ chỉ giáo."
Triệu Kha không quay đầu lại, bóng lưng hắn in hằn trên nền trời đêm lạnh lẽo, cô độc và kiêu hãnh:
"Bản vương đêm nay đứng trên đỉnh Lạc Tinh Lâu uống rượu, ngắm nhìn vòm trời. Thấy sao Thất Sát triều đẩu, hung tinh nhập mệnh, nhưng Nguy Tú lại mờ tối khác thường. Lạ lùng hơn cả, Nguyệt Tướng lại nghịch hành, giao hội với sao Thiên Hình đúng vào giờ Tỵ, ngày mười tám tháng này."
Hắn hơi nghiêng đầu, khóe mắt liếc về phía Tố Uyên, giọng nói mang theo một sự thâm sâu đầy ẩn ý:
"Ngày mười tám... chẳng phải chính là ngày đại thọ của Hoàng thái hậu hay sao? Ngươi thử nói xem, điềm triệu này là sương giáng cứu hạn cho bách tính, hay là mây đen che khuất mặt trời, báo hiệu một trận bão tanh mưa máu sắp nhuộm đỏ hoàng thành?"
Dứt lời, không đợi Tố Uyên lên tiếng trả lời, Triệu Kha bỗng nhiên bật cười dài một tiếng. Tiếng cười mang theo sự bi tráng, ngạo nghễ hòa vào cơn gió bấc gầm rít. Hắn ngửa cổ nốc cạn giọt rượu cuối cùng, tiện tay ném bầu ngọc bích ra ngoài sân gạch vỡ tan tành thành muôn mảnh vụn, rồi phất mạnh tay áo.
Bóng áo lam thẫm thoăn thoắt lướt qua khung cửa sổ, nhanh như một bóng ma hòa vào màn đêm đen kịt. Chỉ trong chớp mắt, hắn đã vượt qua bức tường thành cao vút, biến mất không một dấu vết, chỉ để lại trong Tàng Thư Các một luồng gió lạnh buốt và mùi hương Trúc Diệp Thanh thoang thoảng tan dần trong không khí.
Tố Uyên đứng bất động tại chỗ, làn váy xanh nhạt khẽ lay động theo gió.
Trái tim nàng lúc này mới bắt đầu đập dồn dập trong lồng ngực. Sự bình tĩnh ban nãy là bức tường thành lý trí mà nàng dựng lên để đối đầu với hiểm nguy, nhưng những lời nói cuối cùng của Triệu Kha như một hồi chuông báo tử gõ mạnh vào tâm trí nàng.
Triệu Kha không phải kẻ điên. Hắn mạo hiểm đột nhập Tàng Thư Các, sau khi bị nàng vạch trần lại cố tình để lại một câu đố về tinh tượng.
"Thất Sát triều đẩu... Nguy Tú mờ tối... Nguyệt Tướng nghịch hành vào giờ Tỵ ngày mười tám..."
Tố Uyên lẩm bẩm lặp lại từng chữ, đôi mày thanh tú nhíu chặt lại. Trong thuật chiêm tinh cổ truyền của Ninh gia, sao Thất Sát chủ về sát phạt, binh đao và sự diệt vong; Nguy Tú là chòm sao chủ về sự an nguy của cung đình, biểu trưng cho bậc tôn quý nơi hậu cung; còn Nguyệt Tướng nghịch hành gặp Thiên Hình là điềm báo của độc sát, phản trắc và sự đổ máu bất ngờ!
Ngày mười tám tháng này chính là ngày đại thọ của Hoàng thái hậu. Giờ Tỵ là thời khắc cử hành ngự yến tại Từ Ninh Cung, toàn thể hoàng thân quốc thích, bách quan tiền triều và mệnh phụ hậu cung đều tề tựu đông đủ.
Nếu thiên tượng hung hiểm như vậy, tại sao trong bản tấu sớ phong thủy do Giám chính Thượng Khâm giám dâng lên Hoàng đế ba ngày trước, lại ghi rõ ràng: "Ngày mười tám, giờ Tỵ là giờ Hoàng đạo đại cát, Tử Vi chiếu rọi, tà khí tiêu tán, muôn năm thái bình"?
Một cơn ớn lạnh dọc từ sống lưng chạy thẳng l*n đ*nh đầu Tố Uyên.
Nàng không hề do dự, lập tức xoay người bước nhanh về phía chiếc án thư của mình. Nàng cầm lấy chiếc kéo nhỏ bằng đồng, cắt bấc nến để ngọn lửa bùng cháy sáng hơn, rồi đưa tay kéo hòm gỗ sơn son chứa tập “Chiêu Hòa Thiên Tượng Biểu” và nhật ký quan trắc thiên văn của tháng này ra.
Đây là tập tài liệu do chính tay các quan trắc viên của Thượng Khâm giám ghi chép lại vị trí các vì sao, hướng gió và độ ẩm mỗi đêm, sau đó chuyển giao cho nàng chỉnh lý, đóng dấu niêm phong để sáng mai dâng lên Lễ bộ và Khâm Thiên Giám đối chiếu.
Tố Uyên lật giở từng trang giấy ngọc bản dày dặn, ngón tay nàng lướt nhanh qua các dòng chữ cho đến khi dừng lại ở trang ghi chép đêm ngày rằm tháng mười – đêm trăng tròn cách đây ba ngày, thời điểm Khâm Thiên Giám chốt giờ lành cho đại thọ.
Dưới ánh nến vàng rực, từng dòng chữ viết bằng mực tùng yên hiện lên rõ ràng: "Đêm rằm tháng mười, sao Bắc Đẩu sáng tỏ, Nguyệt Tướng thuận hành..."
Thoạt nhìn, nét chữ chân phương, quy củ, không có bất kỳ điểm nào bất thường.
Nhưng Tố Uyên không phải người bình thường. Nàng cúi sát mặt xuống trang giấy, đưa ngón tay trỏ nhẹ nhàng miết qua mặt giấy ngọc bản. Bề mặt giấy mịn màng, nhưng khi ngón tay nàng chạm vào khoảng trống giữa chữ "Nguyệt Tướng" và chữ "thuận hành", đầu ngón tay nàng cảm nhận được một sự gợn nhẹ rất khó phát hiện.
Đôi mắt Tố Uyên co rút lại.
Nàng lập tức nhấc ngọn nến lên, nghiêng trang giấy dưới ánh lửa ở một góc độ hẹp.
Dưới ánh sáng phản chiếu xiên chéo, sự thật kinh hoàng rốt cuộc cũng lộ ra trước mắt nàng: bề mặt của trang giấy tại phần ghi chép giờ Tỵ đã bị một lưỡi dao mỏng bằng cật tre cạo đi một lớp xơ giấy cực kỳ tinh vi!
Kẻ ra tay là một bậc thầy về thư tịch cổ. Hắn đã cạo sạch chữ "nghịch" ban đầu, dùng bột vỏ điệp mịn ép phẳng lại bề mặt giấy, rồi dùng loại mực tùng yên cùng độ tuổi để viết đè chữ "thuận" lên trên! Không chỉ có vậy, phần ghi chú về thời khắc dùng thiện của Thái hậu vốn dĩ là vào cuối giờ Thìn, nay đã bị sửa đổi thành đầu giờ Tỵ!
Kẻ nào đó đã ngầm sửa đổi nhật ký thiên tượng và giờ lành của Thượng Khâm giám!
Một cái bẫy trí mạng!
Tố Uyên run rẩy buông trang giấy xuống bàn, ngực phập phồng nghẹt thở.
Câu đố của Triệu Kha không phải là một lời suy đoán bâng quơ, mà là một lời cảnh báo bằng máu. Thọ yến của Hoàng thái hậu vào ba ngày tới sẽ có biến cố long trời lở đất, có kẻ muốn dùng độc sát hoặc ám hại tại Từ Ninh Cung vào đúng giờ Tỵ! Và để che mắt thần linh, biến tai họa nhân tạo thành "ý trời", kẻ chủ mưu đã sửa đổi giờ lành của Thượng Khâm giám.
Khi biến cố xảy ra, nếu Hoàng thái hậu gặp chuyện không may, tội danh đầu tiên sẽ giáng xuống đầu ai?
Không phải tiền triều, không phải Lễ bộ, mà chính là Thượng Khâm giám! Bọn họ sẽ bị kết tội tính sai giờ lành, dẫn dụ tà khí, làm đảo lộn phong thủy hoàng triều, khiến yêu ma quấy phá làm tổn hại đến phượng thể của Thái hậu!
Và người chịu trách nhiệm trực tiếp kiểm kê, bảo quản và đóng dấu niêm phong tập nhật ký quan trắc bị cạo sửa này trước khi dâng lên... chính là nàng, Nữ sử Ninh Tố Uyên!
Nàng đã bị biến thành một quân cờ thế mạng, một vật tế thần hoàn hảo được đặt sẵn trên đoạn đầu đài mà không hề hay biết!
Tiếng gió ngoài hiên lại rít lên từng hồi thê lương, đập mạnh vào cánh cửa sổ dán lụa, tựa như tiếng cười gằn đắc thắng của một bóng ma vô hình đang bao trùm lấy toàn bộ Hoàng thành Thịnh Kinh.