Mùi khói ngải cứu quyện với hương thơm thanh khiết, đắng đót của Thảo Linh Chi trăm năm lẩn khuất trong từng ngóc ngách của căn mật thất dưới lòng đất. Ba ngày ba đêm tựa như một giấc mộng dài cách biệt với trần thế, nơi thời gian ngưng đọng chỉ còn lại tiếng giọt nước rỉ đều đều trên vách đá và hơi thở trầm ổn dần của Chu Dịch.
Nhờ có dược tính phi thường của Thảo Linh Chi trăm năm làm quân dược, phối hợp cùng các vị thuốc trục hàn, bổ khí hoạt huyết do chính tay ta điều phối theo tỷ lệ khắt khe, thể trạng của chàng đã chuyển biến thần kỳ.
Ta ngồi bên mép giường đá, cẩn thận đặt ba đầu ngón tay lên lằn chỉ cổ tay trái của Chu Dịch.
Dưới làn da đã dần lấy lại sắc hồng tự nhiên, mạch tượng không còn nhảy loạn ngắt quãng hay trầm trì tế sác như sợi tơ sắp đứt của những ngày trước. Mạch đập lúc này vững vàng, hùng hậu, tựa như dòng suối ngầm sau mùa đông băng giá bắt đầu tan chảy, cuồn cuộn sinh cơ. Ta lần ngón tay lên kinh Cự Khuyết, rồi dùng đầu kim bạc mảnh như sợi tóc nhẹ nhàng châm vào huyệt Đại Chùy phía sau gáy chàng.
Một giọt mồ hôi li ti rỉ ra nơi chân kim, trong vắt, không còn vương chút sắc xanh lam hay tỏa ra hàn khí thấu xương như trước.
“Thế nào rồi, Tiêu ngự y?”
Một giọng nói trầm ấm, mang theo ý cười nhàn nhạt vang lên bên tai. Chu Dịch đã mở mắt từ lúc nào, ánh nhìn sâu thẳm phẳng lặng như đầm nước mùa thu chăm chú dõi theo từng biểu cảm nhỏ nhất trên gương mặt ta.
Ta rút kim bạc, lau sạch bằng cồn thuốc rồi cất vào bao da, khẽ thở phào một hơi dài:
“Chúc mừng Điện hạ. Ba phần Tằm Hàn Độc bám rễ nơi màng tủy suốt mười năm qua đã được thanh tẩy hoàn toàn. Độc tố U Hồn Đoạn Tủy Tán nơi bả vai cũng đã triệt tiêu, miệng vết thương đang lên da non. Từ nay về sau, kinh mạch của chàng đã thông suốt, không còn cần phải uống Ô đầu hay Câu vẫn để lấy độc trị độc nữa.”
Nghe ta nói dứt câu, Chu Dịch không hề tỏ ra mừng rỡ điên cuồng như những kẻ vừa từ cõi chết trở về. Chàng chỉ khẽ nâng cánh tay phải lên, siết chặt nắm đấm, cảm nhận luồng chân khí thuần khiết cuộn trào trong lồng ngực mà không còn bất kỳ sự cản trở hay cơn đau nhói buốt tim gan nào.
Chàng ngẩng đầu nhìn ta, đôi đồng tử đen láy ánh lên sự rung động không cách nào che giấu:
“Mười năm... Ta mang thân xác tàn phế này mười năm, chịu đựng sự lăng nhục và thương hại của cả triều đình. Chưa từng có một khắc nào ta dám nghĩ mình có thể hít thở một cách nhẹ nhõm như ngày hôm nay.” Chàng dừng lại một chút, giọng nói bỗng hạ thấp, dịu dàng đến mức khiến tim ta khẽ lỡ một nhịp: “Nhược Lan, mạng sống này của Chu Dịch, từ nay thuộc về nàng.”
Ta quay mặt đi, vờ thu dọn đống chai lọ trên bàn đá để giấu đi sự bối rối đang dâng lên nơi gò má:
“Điện hạ chớ nói lời nặng nề. Ta cứu chàng là vì giao ước sinh tử của đôi bên. Chàng hứa bảo toàn tính mạng cho ta trong cung cấm và cho ta tự do khi đại sự hoàn thành, đó là điều ta mong muốn nhất.”
“Nàng lúc nào cũng dùng sự lý trí sắc lạnh ấy để tạo khoảng cách với ta.” Chu Dịch khẽ cười, nụ cười hiếm hoi nở rộ trên gương mặt tuấn tú khiến cả gian mật thất u tối như bừng sáng. Chàng không ép ta phải đáp lại, chỉ khẽ chuyển chủ đề: “Bạch Chỉ thế nào rồi?”
Ta đưa mắt nhìn về phía góc mật thất. Bạch Chỉ đang nằm trên một chiếc sập đá lót đệm rơm, trán đã hạ sốt, sắc mặt hồng hào trở lại và đang thở đều đặn trong giấc ngủ sâu. Cú đánh sau gáy ở vách Tử Hà tuy mạnh nhưng không gây tổn thương hộp sọ, chỉ làm chấn động nhẹ, ta đã cho con bé uống thang an thần định chí.
Đúng lúc ấy, phiến đá nặng nề nơi cửa mật thất khẽ rung lên. Một bóng đen nhanh nhẹn lướt vào, quỳ một gối trước giường đá.
Là Ảnh Thất.
“Khởi bẩm Chủ thượng, Tiêu cô nương.” Ánh mắt Ảnh Thất lướt qua ta với sự kính trọng tuyệt đối, khác hẳn vẻ lạnh lùng đề phòng của những ngày đầu. “Bên ngoài thành đã bắt đầu giải trừ thiết quân luật từng phần. Đám sát thủ nỏ cấm quân bị ngài tiêu diệt ở vách Tử Hà đã bị Liễu Thừa tướng ngầm sai người thu dọn thi thể, ngụy tạo thành một vụ cướp bóc của giặc cỏ ngoại ô để che đậy việc vũ khí cấm bị rò rỉ. Tuy nhiên, Cấm quân đang tăng cường tuần tra gắt gao khắp các cổng thành và nội đình. Chỉ còn nửa canh giờ nữa là đến giờ Mão – thời điểm đổi ca gác giữa Cấm quân và Hộ quân tại cửa Tây Hoa.”
Chu Dịch gật đầu, ánh mắt lập tức khôi phục vẻ sắc bén, lạnh lùng của bậc vương giả:
“Thời cơ thích hợp. Ảnh Thất, ngươi đích thân hộ tống Nhược Lan và Bạch Chỉ theo đường cống ngầm Ngự Dược Uyển trở về Dược Khố. Phải đảm bảo tuyệt đối không để lại bất kỳ dấu vết nào.”
“Thuộc hạ tuân mệnh!”
Chu Dịch quay sang nhìn ta, ánh mắt lưu luyến nhưng dứt khoát:
“Sau khi trở về Dược Khố, nàng hãy cứ coi như ba ngày qua chỉ ở trong phòng sao chế thuốc đóng cửa tịnh dưỡng phong hàn. Ta đã cho người tung tin trong viện rằng nàng bị nhiễm lạnh sau đêm mưa dầm. Mọi sóng gió bên ngoài, cứ để ta lo.”
Ta nhìn chàng, khẽ gật đầu: “Chàng vừa mới lành vết thương, nội lực chưa hồi phục hoàn toàn, ngàn vạn lần không được tùy tiện vận công. Giữ lấy mạng mình, mới có thể nhìn thấy ngày tàn của họ Liễu.”
Chu Dịch mỉm cười, đôi mắt sáng như sao trời: “Ta nhớ kỹ rồi.”
*
Con đường cống ngầm dẫn từ chân tường thành Lạc Phù Viện xuyên qua các hào nước ngầm của Tử Cấm Thành tối tăm, ẩm ướt và chật hẹp. Nhưng dưới sự dẫn đường điêu luyện như loài báo đêm của Ảnh Thất, ta cõng theo chiếc rương thuốc, cùng Bạch Chỉ – lúc này đã tỉnh táo nhưng vẫn còn đôi chút sợ hãi – lặng lẽ luồn lách qua các trạm gác cẩn mật.
Khi tia sáng đầu tiên của bình minh vừa rọi qua khung cửa sổ gỗ chạm khắc hoa cúc của Dược Khố Nội Đình, ta và Bạch Chỉ đã an toàn bước vào gian trong.
“Cô nương...” Bạch Chỉ run rẩy nắm lấy tay áo ta, đôi mắt tròn xoe ngấn lệ nhìn căn phòng quen thuộc ngập tràn mùi thảo mộc khô. “Chúng ta... chúng ta thực sự đã trở về rồi sao? Đêm đó ở vách núi... nỏ tiễn... máu me...”
“Bạch Chỉ, nghe ta nói.” Ta nghiêm nghị nắm lấy đôi vai gầy của con bé, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mắt nó. “Những gì xảy ra ở vách Tử Hà, những gì nhìn thấy trong mật thất Lạc Phù Viện, hãy chôn chặt dưới đáy lòng. Nếu một chữ lọt ra ngoài, không chỉ ta và em mất đầu, mà cả chín tộc đều không còn manh giáp. Hiểu chưa?”
Bạch Chỉ cắn chặt môi, vội vàng gật đầu lia lịa: “Nô tỳ hiểu! Nô tỳ thề với trời đất, dẫu có chết cũng không hé nửa lời! Mạng của nô tỳ là do cô nương và Cửu vương cứu về, nô tỳ chỉ biết phụng sự cô nương!”
Ta thở phào, vỗ nhẹ vai con bé: “Tốt lắm. Mau đi thay y phục nữ tỳ sạch sẽ, đun một ấm trà hoa cúc mang lên tiền sảnh. Lát nữa các y quan và cung nhân điểm danh sẽ tới, chúng ta phải hành xử như thể không có chuyện gì xảy ra.”
Quả đúng như dự liệu, việc ta “ốm dậy” sau ba ngày đóng cửa trong Dược Tịch Các không hề dấy lên nghi ngờ nào quá lớn. Danh tiếng của ta trong Thái Y Viện vốn là một nữ quan cuồng si thảo dược, thường xuyên nhốt mình nghiên cứu đơn thuốc. Hơn nữa, toàn bộ sự chú ý của hoàng cung lúc này đang đổ dồn về Dưỡng Tâm Điện – nơi Hoàng đế Chu Nguyên Đế đang triệu tập đàn cầu phúc và liên tục ban thưởng cho các đạo sĩ phương ngoại.
Giờ Tỵ, khi ta đang kiểm kê lại các hộc tủ đựng vị thuốc Xuyên Khung và Đương Quy, một bóng người quen thuộc với dáng đi hơi còng vội vã bước vào Dược Khố.
Là Cố Hoài Viễn.
Thái Y Viện Phán hôm nay trông già sọm đi vài tuổi. Đôi mắt thâm quầng, chòm râu dê hoa râm rung rung sau mỗi bước chân dồn dập. Ông ta đảo mắt nhìn quanh, thấy chỉ có ta và Bạch Chỉ đang lúi húi bên bàn cân thuốc, liền phất tay ra hiệu cho Bạch Chỉ ra ngoài canh cửa.
“Viện phán đại nhân, ngài tìm hạ quan có việc gì gấp gáp?” Ta bước tới, khẽ cúi đầu hành lễ.
Cố Hoài Viễn không đáp lời ngay. Ông ta bước nhanh tới góc tối nhất của gian phòng, khép hờ cánh cửa sổ giấy bản, sau đó thò tay vào sâu trong lớp tay áo rộng thùng thình, rút ra một chiếc lọ sứ nhỏ màu xanh ngọc bích, bên trên được niêm phong cẩn thận bằng một lớp sáp ong đỏ thắm.
Bàn tay lão thái y già run rẩy dữ dội khi đặt chiếc lọ sứ lên mặt bàn đá trước mặt ta.
“Tiêu Thượng Dược... lão phu biết con mắt giám định dược liệu của ngươi tinh tường bậc nhất Thái Y Viện, thậm chí... vượt xa cả những lão già như chúng ta.” Giọng Cố Hoài Viễn hạ thấp đến mức gần như chỉ là hơi thở thoát qua kẽ răng. “Ngươi hãy nhìn xem... thứ này rốt cuộc là thần dược hay là bùa đòi mạng!”
Tim ta đập thắt lại một nhịp. Ta đón lấy chiếc lọ sứ, dùng chiếc dao con cẩn thận cạo bỏ lớp sáp niêm phong, mở nắp lọ ra.
Bên trong là một lượng bột mịn màu đỏ tía lấp lánh, tỏa ra một mùi hương kỳ dị—vừa có mùi thơm ngạt ngào của long não, đàn hương, lại vừa thoang thoảng mùi ngai ngái, tanh nồng của kim loại bị nung cháy.
“Đây là...” Ta nheo mắt nhìn ông ta.
“Bột cặn nghiền ra từ mẻ Diên Thọ Đơn mới nhất.” Cố Hoài Viễn lau mồ hôi lạnh trên trán, ánh mắt lộ rõ vẻ sợ hãi tột cùng. “Do đích thân đạo sĩ Huyền Chân luyện trong lò bát quái chín ngày chín đêm, được Thừa tướng Liễu Kính Nghiêm dâng lên Hoàng thượng sáng nay. Sáng sớm nay, khi Hoàng thượng dùng đan dược, ngài bỗng lên cơn co giật nhẹ nơi khóe miệng rồi ngất lịm đi nửa khắc. Liễu Thừa tướng lập tức giải thích rằng đó là hiện tượng ‘thoát phàm hoán cốt’, là chân khí đang xung đột với tục khí. Nhưng lão phu lén nhân lúc đỡ Hoàng thượng, đã quệt được một chút bột vụn vương trên mép chén ngự dụng.”
Cố Hoài Viễn tiến sát lại gần ta, đôi mắt vằn lên những tia máu:
“Hoàng thượng uống thứ này ròng rã suốt nửa năm qua! Thể trạng ngài ngày một gầy sụp nhưng tinh thần lại hưng phấn dị thường, tính khí thất thường, tàn bạo, hở một chút là chém giết cung nhân. Lão phu nghi ngờ... vô cùng nghi ngờ trong đan dược có tà thuật hoặc độc dược, nhưng ngự y trong viện hễ ai mở miệng nghi vấn đều bị Liễu gia bãi chức, thậm chí chết bất đắc kỳ tử trên đường hồi hương! Nhược Lan, ngươi có cách nào tra ra chân tướng thứ này không?”
Nhìn vẻ mặt vừa kinh hoàng vừa bất lực của vị Viện phán già, ta siết chặt chiếc lọ sứ trong lòng bàn tay.
Dĩ nhiên là ta có cách.
Kiến thức hóa dược và độc tính học lâm sàng của thế kỷ hai mươi mốt đang cuộn trào trong huyết quản ta. Hơn thế nữa, mối nghi ngờ kinh thiên từ đêm giải phẫu cho Chu Dịch đang cần một câu trả lời xác thực bằng thực nghiệm!
“Viện phán đại nhân, xin ngài ra ngoài giữ cửa cho ta.” Giọng ta bình thản đến lạ kỳ, một sự bình thản toát ra từ sự tự tin tuyệt đối vào chân lý khoa học. “Cho ta nửa canh giờ. Ta sẽ cho ngài thấy thứ Hoàng thượng đang uống mỗi ngày rốt cuộc là cái gì.”
Cố Hoài Viễn nhìn sâu vào mắt ta, ngập ngừng một lát rồi gật đầu mạnh một cái, xoay người bước ra ngoài, tự tay khép chặt then cài cửa Dược Khố.
Gian phòng chỉ còn lại một mình ta.
Ta không chần chừ một giây. Ta bước tới góc phòng, nơi đặt chiếc lò than con dùng để chưng cất tinh dầu hoa cúc. Ta rút chốt thông gió, thổi bùng ngọn lửa than hồng rực, sau đó thắp một ngọn đèn dầu hạt cải có ngọn lửa tập trung cao độ.
Từ trong hộc tủ bí mật của bàn thuốc, ta lấy ra những dụng cụ mà ta đã dày công tự chế suốt nửa năm qua: một chiếc ống gốm tráng men mỏng dài chừng một gang tay, một đĩa sứ trắng muốt đáy phẳng, vài chiếc kẹp sắt, giấm thanh loại chua gắt nhất được cất ba lần, và bột vôi sống tinh khiết.
Cuối cùng, ta lấy ra mũi đoản tiễn bằng sắt đen mà ta đã lén mang về từ vách Tử Hà.
Thực nghiệm bắt đầu.
Đầu tiên, ta trút một phần ba lượng bột đỏ tía từ chiếc lọ sứ của Cố Hoài Viễn vào đáy ống gốm tráng men. Ta dùng kẹp sắt giữ chặt ống gốm, đưa đáy ống hơ trên ngọn lửa đèn dầu ở nhiệt độ cao.
Đây là phương pháp nung thăng hoa kinh điển để phân tách các hợp chất chứa asen và thủy ngân.
Dưới tác động của nhiệt lượng dữ dội, lớp bột đỏ tía bắt đầu sôi sùng sục, bốc lên những làn khói mỏng màu trắng xám cuộn xoáy bên trong thành ống. Mùi tỏi hăng nồng kết hợp với mùi hạnh nhân đắng ngắt lập tức xộc thẳng vào mũi—dấu hiệu đặc trưng không thể nhầm lẫn của thạch tín thể khí (asen trioxit) khi bị nung nóng!
Ta dùng một miếng vải ướt áp vào phần cổ trên của ống gốm để hạ nhiệt độ đột ngột.
Chỉ vài hơi thở sau, trên thành ống gốm mát lạnh, khói độc ngưng tụ lại, tạo thành một lớp tinh thể màu trắng sáng lấp lánh như sương muối mùa đông.
Đó chính là Thạch tín thăng hoa tinh khiết! Hàm lượng cao đến mức rợn người!
Chưa dừng lại ở đó. Khi nhiệt độ tiếp tục tăng cao, phần cặn còn lại dưới đáy ống bắt đầu phân hủy. Một lớp hơi kim loại màu xám bạc bốc lên, gặp thành ống liền ngưng kết thành những giọt chất lỏng li ti, sáng loáng như gương, lăn tăn trượt trên bề mặt men gốm.
Thủy ngân nguyên chất! Bắt nguồn từ Chu sa (thủy ngân sunfua) bị nhiệt phân giải phóng kim loại nặng tự do!
Bàn tay ta bắt đầu run lên nhè nhẹ, không phải vì sợ hãi, mà vì sự phẫn nộ tột cùng đang bùng cháy trong lồng ngực.
Ta đổ phần bột còn lại ra chiếc đĩa sứ trắng, nhỏ vào đó vài giọt giấm thanh nồng độ cao và rắc thêm một ít bột vôi sống. Phản ứng sủi bọt xèo xèo lập tức diễn ra, hòa tan các oxit kim loại. Dung dịch chuyển sang màu vàng gạch bẩn thỉu. Ta lấy chiếc kim bạc gắp một mẩu cặn độc khô cạo ra từ rãnh máu của mũi đoản tiễn vách Tử Hà, thả vào chiếc đĩa thứ hai, rồi thực hiện các bước tương tự.
Hai chiếc đĩa sứ đặt cạnh nhau trên mặt bàn đá.
Cùng một tốc độ sủi bọt khí.
Cùng một làn khói mỏng mùi hạnh nhân đắng.
Và khi phản ứng kết thúc, dưới đáy của cả hai chiếc đĩa sứ đều lắng đọng một lớp kết tủa màu vàng cam pha lẫn ánh xám đen của chì oxit và muối thủy ngân!
Tỷ lệ phản ứng, màu sắc kết tủa, cấu trúc tinh thể... hoàn toàn trùng khớp một trăm phần trăm!
Trực giác dược lý của ta đã không hề sai lầm.
Loại độc dược “U Hồn Đoạn Tủy Tán” dùng để ám sát Chu Dịch mười năm trước và trên vách Tử Hà đêm nọ, cùng với thứ “Diên Thọ Đơn” mà Liễu gia đang tâng bốc lên tận mây xanh dâng cho Chu Nguyên Đế... thực chất được luyện ra từ cùng một công thức, cùng một lò luyện đan!Liễu Kính Nghiêm không hề muốn Hoàng đế trường sinh. Hắn đang dùng một liều lượng kim loại nặng cực độc—thạch tín phá hủy niêm mạc dạ dày và ức chế enzym tế bào, chu sa hủy hoại hệ thần kinh trung ương và tạng thận, cùng với chì đỏ tích tụ làm thoái hóa tủy xương—được ngụy trang tinh vi dưới danh nghĩa đan dược.
Chất độc ngấm dần từng ngày, từng tháng, không làm chết người ngay lập tức để tránh sự nghi ngờ của thiên hạ, mà từ từ biến Hoàng đế thành một kẻ điên loạn, suy kiệt lục phủ ngũ tạng, từng bước đẩy ngài vào chỗ chết để Liễu thị dễ bề thao túng ngôi vị cửu ngũ!
Một âm mưu thí quân đoạt vị tàn độc, thâm sâu và kiên nhẫn đến rùng mình!
Ta dập tắt ngọn đèn dầu, thu dọn các đĩa thử độc cẩn thận, rồi mở cửa cho Cố Hoài Viễn bước vào.
Nhìn thấy lớp tinh thể trắng như tuyết và những giọt thủy ngân lóng lánh trên thành ống gốm, sắc mặt Cố Hoài Viễn từ tái nhợt chuyển sang xám như tro tàn. Là một ngự y lão luyện, dù không hiểu tường tận cơ chế hóa học phân tử như ta, ông ta thừa biết những thứ kim loại này đi vào bụng người sẽ gây ra hậu quả gì.
“Chu sa... Thạch tín... Diên đan...” Môi Cố Hoài Viễn run bần bật, hai đầu gối ông ta mềm nhũn, suýt nữa ngã quỵ xuống sàn nếu ta không kịp đỡ lấy. “Trời ơi... Đây không phải là thuốc bổ... Đây là kịch độc đoạt mệnh! Liễu Kính Nghiêm... hắn điên rồi! Hắn muốn giết vua!”
“Viện phán đại nhân, bình tĩnh lại!” Ta gắt khẽ, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào ông lão đang hoảng loạn. “Chuyện này một chữ cũng không được nói ra. Nếu ngài để lộ ra ngoài lúc này, chưa kịp bước tới bậc thềm Kim Loan Điện, cả nhà ngài đã bị người của Cấm quân diệt khẩu rồi!”
Cố Hoài Viễn ôm ngực th* d*c, mồ hôi ướt đẫm lưng áo: “Nhưng... nhưng Hoàng thượng... Ngài ấy đã uống thứ này suốt nửa năm qua! Cứ đà này, ngài ấy sẽ không qua khỏi mùa đông năm nay mất!”
“Hôm nay có lịch ngự y thỉnh an và kiểm tra ngự dược buổi chiều đúng không?” Ta hỏi dồn.
“Phải... Giờ Mùi, toàn bộ ngự y trực ban phải theo đoàn đến Dưỡng Tâm Điện thỉnh an Hoàng thượng.”
“Cho ta đi theo.” Ta dứt khoát nói. “Ta là Thượng Dược Nữ Quan, có quyền mang theo sổ sách đối chiếu thành phần dược liệu phụ trợ. Ta phải tận mắt nhìn thấy triệu chứng lâm sàng của Hoàng thượng lúc này để biết độc tính đã ăn sâu vào tạng phủ đến mức độ nào!”
Cố Hoài Viễn nhìn ta bằng ánh mắt đầy kinh ngạc lẫn kính nể. Giữa chốn thâm cung gió tanh mưa máu này, người khác nghe đến chuyện thí quân đều sợ rụt cổ trốn tránh, vậy mà một nữ y quan trẻ tuổi như ta lại chủ động dấn thân vào nơi đầu sóng ngọn gió.
Sau một hồi đấu tranh nội tâm dữ dội, ông ta nghiến răng gật đầu:
“Được! Ngươi thay y phục ngự tiền dược quan, bưng hòm ghi chép đi ngay sau lưng lão phu!”
*
Giờ Mùi ba khắc.
Dưỡng Tâm Điện sừng sững giữa trung tâm hoàng thành, nguy nga tráng lệ nhưng lúc này lại toát ra một bầu không khí ngột ngạt, u uất đến nghẹt thở.
Vừa bước qua ngưỡng cửa điện cao vút, một mùi hương trầm nồng nặc pha lẫn mùi xạ hương và thảo mộc lạ lẫm lập tức xộc vào mũi ta. Đó là mùi hương nhân tạo cực mạnh, được cố tình đốt liên tục trong bốn chiếc lư đồng khổng lồ chạm hình rồng cuộn đặt ở bốn góc đại điện. Người bình thường chỉ thấy thơm ngát, nhưng khứu giác của một dược sĩ lâm sàng như ta lập tức nhận ra: mùi hương này dùng để át đi mùi hôi tanh của kim loại bị bài tiết qua đường mồ hôi và hơi thở của một cơ thể đang thối rữa từ bên trong!
Ta cúi gầm mặt, hai tay bưng chiếc hòm gỗ mun đựng y bạ, cẩn trọng bước từng bước theo sau lưng Cố Hoài Viễn và bốn vị ngự y thâm niên khác.
Trên long sàng trải đệm gấm thêu rồng vàng lộng lẫy, Chu Nguyên Đế đang ngồi tựa lưng vào gối mềm.
Khoảnh khắc lén ngước mắt nhìn lên dung nhan của bậc đế vương thiên tử, ta không khỏi rùng mình kinh hãi.
Mới chỉ nửa năm trước, khi ta vừa xuyên không tới đây và nhìn thấy ngài trong lễ tế xuân, Chu Nguyên Đế tuy có phần mệt mỏi nhưng vẫn toát lên vẻ uy nghi, phương phi của một đấng quân vương tuổi ngoài ngũ tuần.
Nhưng giờ đây, người ngồi trên long sàng kia tựa như một bộ xương khô khoác hoàng bào!
Sắc da ngài không còn màu vàng tự nhiên của người Á Đông, mà chuyển sang một màu xám chì u ám, xỉn màu như đất chết—dấu hiệu điển hình của việc nhiễm độc chì mãn tính (chứng da xám Plumbism). Đôi hốc mắt ngài trũng sâu hoắm, lòng trắng vằn lên những tia máu đỏ lòm cuồng loạn, nhưng con ngươi lại mở to đờ đẫn, ánh lên vẻ hoang dại, kích động bất thường. Hai gò má ngài hóp lại, làm lộ rõ khung xương hàm nhô ra gầy guộc.
Đứng ngay bên cạnh long sàng là một đạo sĩ mặc đạo bào màu tím thêu bát quái, râu tóc đen nhánh nhưng ánh mắt giảo hoạt, lạnh lẽo tựa loài rắn độc—chính là Đạo sĩ Huyền Chân. Cách đó vài bước, Thừa tướng Liễu Kính Nghiêm trong bộ triều phục nhất phẩm uy nghiêm đang chắp tay đứng hầu, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, thâm trầm như đáy vực.
“Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Cố Hoài Viễn dẫn đầu chúng ta quỳ rạp xuống nền gạch xanh bóng loáng.
“Bình... bình thân...”
Giọng nói của Chu Nguyên Đế vang lên, khàn đặc, the thé và run rẩy như tiếng kim loại cọ xát vào nhau.
Ngài giơ tay phải lên ra hiệu cho chúng ta đứng dậy.
Chính vào khoảnh khắc ấy, ánh mắt ta dán chặt vào bàn tay của ngài.
Bàn tay phải đeo chiếc nhẫn ngọc bích của Hoàng đế đang rung lên bần bật một cách mất kiểm soát! Các ngón tay co quắp, giật cục liên hồi, không thể nào giữ yên dù ngài đã cố gồng mình nắm chặt lại.
Đây chính là chứng run rẩy thủy ngân (Mercurial Tremor) – tổn thương thực thể không thể đảo ngược của hệ thần kinh vận động do thủy ngân hữu cơ phá hủy tiểu não và vỏ não!
“Cố ái khanh...” Chu Nguyên Đế nghiêng đầu, ánh mắt đục ngầu quét qua đám ngự y, khóe miệng ngài bỗng giật giật một cách kỳ dị. “Hôm nay... các ngươi thấy sắc diện của trẫm thế nào? Có phải... có phải đã bớt đi vẻ phàm phu tục tử, bắt đầu toát ra tiên phong đạo cốt rồi không?”
Cố Hoài Viễn run rẩy tiến lên một bước, quỳ gối bên mép giường: “Khởi bẩm Hoàng thượng, long thể ngài...”
“Ha ha ha!” Chu Nguyên Đế bỗng nhiên cất tiếng cười the thé, cắt ngang lời Viện phán. Tiếng cười man dại vang vọng khắp gian điện vắng lặng khiến toàn bộ cung nhân và thái giám đều sợ hãi cúi rạp đầu. “Trẫm tự cảm nhận được! Từ khi dùng đan dược của Huyền Chân chân nhân, kinh mạch toàn thân trẫm lúc nào cũng nóng rực như lửa thiêu! Đêm qua... đêm qua trẫm không hề chợp mắt, nhưng trẫm không hề mệt mỏi! Trẫm nhìn thấy... trẫm nhìn thấy rồng vàng bay lượn trên xà nhà! Trẫm nghe thấy tiếng sấm truyền dạy phép trường sinh!”
Hoang tưởng và ảo giác thị giác, thính giác! Thạch tín và thủy ngân đã bắt đầu ăn mòn thùy trán, phá hủy hoàn toàn nhận thức thực tại của ngài!
“Hoàng thượng hồng phúc tề thiên, đắc đạo trường sinh chỉ còn là chuyện sớm muộn.” Liễu Kính Nghiêm bước lên một bước, khom lưng cung kính, giọng nói trầm ấm đầy vẻ xu nịnh nhưng ánh mắt lại lạnh lẽo như băng giá ngàn năm. “Đan dược này là tinh hoa của trời đất, phản ứng nóng rực trong tạng phủ chính là dấu hiệu hoán cốt tẩy tủy, xua đuổi phàm khí. Viện phán Cố Hoài Viễn tuổi cao mắt mờ, chỉ biết y lý phàm trần, làm sao hiểu được huyền vi của tiên đạo.”
“Thừa tướng nói rất đúng! Rất hợp ý trẫm!” Chu Nguyên Đế vỗ mạnh xuống thành giường, thở hồng hộc.
Khi ngài mở miệng cười lớn, ta đứng ở phía sau khẽ ngước mắt lên và quan sát thấy rõ mồn một: dọc theo đường viền nướu răng hàm dưới của Hoàng đế đã xuất hiện một đường viền màu đen xám sẫm rõ rệt!
Đường viền Burton (Burton's line)!
Dấu ấn tử thần của ngộ độc chì kim loại nặng giai đoạn cuối, hình thành do phản ứng giữa chì trong máu và lưu huỳnh do vi khuẩn trong khoang miệng tạo ra!
Lục phủ ngũ tạng của Hoàng đế đã suy kiệt hoàn toàn. Trái tim và thận của ngài đang gồng mình chống chọi những đợt tấn công cuối cùng của độc tố. Sự hưng phấn, cuồng sảng này không phải là dấu hiệu của sự sống, mà là ngọn đèn dầu sắp cạn bấc bùng lên một tia sáng chói lọi trước khi vĩnh viễn lịm tắt!
Thế nhưng, kẻ nắm giữ vận mệnh giang sơn Đại An lúc này lại đang đắm chìm trong ảo mộng trường sinh bất tử, say sưa ca tụng chính những kẻ đang từng ngày róc thịt, rút tủy của mình.
“Cố Hoài Viễn, bắt mạch đi!” Chu Nguyên Đế hất tay áo, chìa cổ tay đầy những đốm sắc tố xám xịt ra. “Xem xem chân khí của trẫm đã hùng hậu đến mức nào rồi!”
Cố Hoài Viễn run rẩy đặt đầu ngón tay lên cổ tay Hoàng đế. Ta đứng ngay phía sau, nhìn thấy rõ mồ hôi lạnh chảy ròng ròng từ thái dương của vị Viện phán già, nhỏ tong tỏng xuống vạt áo gấm.
Mạch tượng lúc này chắc chắn là Hồng sác vô căn, mạch đập nhanh dồn dập nhưng rỗng tuếch bên trong, tựa như sóng trào trên mặt sông cạn đáy—dấu hiệu của chứng âm hư hỏa vượng cực độ, chân khí sắp tan biến.
“Khởi... khởi bẩm Hoàng thượng...” Cố Hoài Viễn nuốt nước bọt cái ực, cố kìm nén sự run rẩy trong giọng nói: “Long thể... long thể quả thực đang có sự biến chuyển lớn... Hỏa khí bốc mạnh... cần... cần dùng thêm một số vị thuốc thanh nhiệt nhuận phế để điều hòa...”
“Vớ vẩn!” Chu Nguyên Đế gắt lên, thô bạo hất tay Cố Hoài Viễn ra khiến ông lão ngã ngồi xuống đất. “Thuốc thanh nhiệt tầm thường của các ngươi chỉ làm nguội đi tiên hỏa của trẫm! Cút! Toàn một lũ vô dụng bảo thủ! Cút hết ra ngoài cho trẫm!”
“Hoàng thượng bớt giận! Vi thần cáo lui!”
Cố Hoài Viễn vội vã dập đầu, run rẩy bò dậy. Chúng ta không ai dám chậm trễ nửa giây, vội vàng cúi đầu lùi từng bước ra khỏi Dưỡng Tâm Điện ngột ngạt như hầm mộ.
Khi bước qua ngưỡng cửa, ta khẽ liếc mắt nhìn lại lần cuối.
Dưới ánh nến lung linh mờ ảo, Chu Nguyên Đế đang run rẩy đón lấy một viên đan dược màu đỏ tía từ chiếc hộp ngọc do Đạo sĩ Huyền Chân dâng lên, ngửa cổ nuốt trọn với một chén rượu nóng. Đứng bên cạnh, Liễu Kính Nghiêm khẽ cúi đầu, khóe môi nhếch lên một nụ cười thỏa mãn, tàn độc và lạnh lẽo đến tận xương tủy.
Một màn kịch lừa dối kinh thiên động địa đang diễn ra ngay giữa trung tâm quyền lực tối cao của Đại An triều!
*
Màn đêm buông xuống, bao phủ Tử Cấm Thành trong một sự tĩnh mịch ngột ngạt đến rợn người.
Trở về Dược Khố, ta ngồi một mình bên ngọn đèn dầu le lói, những ghi chép về độc tính của Diên Thọ Đơn trải dài trên mặt bàn. Đầu óc ta quay cuồng với hàng ngàn suy nghĩ.
Chu Nguyên Đế trúng độc đã quá sâu. Theo diễn tiến lâm sàng mà ta vừa quan sát, nhiều nhất là ba đến năm tháng nữa, ngài sẽ phát tác chứng suy thận cấp và xuất huyết não do huyết áp tăng vọt từ độc chì và thạch tín. Khi Hoàng đế băng hà bất đắc kỳ tử, Liễu Kính Nghiêm nắm trong tay Cấm quân sẽ lập tức phong tỏa hoàng thành, ép lập hoàng tử bù nhìn hoặc giả mạo di chiếu để thâu tóm toàn bộ thiên hạ.
Chu Dịch dù đã giải được độc Tằm Hàn, nhưng thế lực ngầm của chàng liệu có kịp chuẩn bị để đối đầu trực diện với móng vuốt của Liễu gia đang ngày một siết chặt?
Ta phải làm gì? Tiếp tục ẩn nhẫn hay chủ động tìm cách vạch trần lò luyện đan của Huyền Chân?
Đúng lúc tâm trí ta đang giằng xé dữ dội nhất, một âm thanh xé toạc màn đêm tĩnh mịch bỗng nhiên từ phía xa vọng lại.
Choang!
Tiếng bát đĩa vỡ tan tành, kèm theo đó là tiếng bước chân dồn dập, hoảng loạn của hàng chục thái giám và cung nữ chạy huỳnh huỵch trên nền đá hoa cương của con đường ngự đạo bên ngoài.
“Cứu mạng! Mau truyền Thái y! Truyền Thái y mau!”
Tiếng thét thất thanh, nghẹn ngào trong nước mắt của một cung nữ xé rách không gian u tịch:
“Thập nhất hoàng tử... Thập nhất hoàng tử phát bệnh hiểm nghèo rồi! Mau tới Lạc Nghi Cung cứu mạng!”
Ta bật dậy như một chiếc lò xo, tim đập thình thịch liên hồi.
Lạc Nghi Cung? Đó là tẩm cung của Thập nhất hoàng tử Chu Duệ—đứa trẻ mười tuổi ngoan ngoãn, thuần hậu, cốt nhục ruột thịt mà Chu Dịch hết lòng yêu thương che chở!
Cánh cửa Dược Khố bị đập rầm rầm. Một tiểu thái giám mặt cắt không còn hạt máu, thở không ra hơi nhào vào:
“Tiêu Thượng Dược! Cố Viện phán bảo nô tài tới gọi người! Thập nhất hoàng tử... ngài ấy sau khi dùng đĩa điểm tâm ngự tứ lúc tối, đột nhiên lên cơn co giật dữ dội, sùi bọt mép, toàn thân tím tái, giờ đã hôn mê sâu không biết gì nữa rồi!”
Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu ta.
Điểm tâm ngự tứ? Co giật cấp tính?
Móng vuốt tàn độc của Liễu gia... rốt cuộc đã bắt đầu vươn tới đứa trẻ vô tội ấy rồi sao?!
Không kịp suy nghĩ thêm một giây nào nữa, ta chụp lấy hòm thuốc cấp cứu, ánh mắt bùng lên ngọn lửa sắc lạnh, lao vụt ra màn đêm đen đặc của hoàng cung.