Nữ Quan Thượng Dược Không Màng Long Sủng

Chương 1: Mùi Đắng Trầm Hương

Sau

Sáu tháng ở chốn Tử Cấm Thành, ta học được bài học sinh tồn đầu tiên không phải từ những bộ y thư cổ bản đóng bìa gấm, mà từ tiếng chổi tre quét lá rụng vào mỗi canh tư của đám cung nhân bên ngoài tường viện.

Đều đặn, cẩn trọng, không một tiếng động thừa thãi. Một nhát chổi quét qua, lớp sương muối phủ mờ trên phiến đá xanh bị gạt phăng sang hai bên, để lộ mặt đất lạnh lẽo đến tận xương tủy. Ở chốn thâm cung này, nếu ngươi không thể giấu mình kín đáo như một hạt bụi dưới kẽ gạch, ngươi sẽ bị những chiếc chổi vô hình kia quét sạch, chẳng để lại lấy một vết tích hay chút phong thanh.

Ta khẽ cúi đầu, dùng chiếc kẹp bằng gỗ hoàng dương gắp một phiến Xuyên Khung khô đưa lên mũi. Mùi hăng nồng quen thuộc xộc thẳng vào xoang mũi, kéo theo vị the cay nhè nhẹ nơi cuống họng. Đôi bàn tay này vốn là của Tiêu Nhược Lan, mười chín tuổi, nữ nhi một gia đình lang y sa sút vùng Giang Nam. Nhờ chút ngón nghề gia truyền sao chế thuốc và vận may hiếm hoi, thân xác này thi đỗ kỳ tuyển trạch của Thái Y Viện, nhận hàm Nữ y quan Thất phẩm chuyên việc giám định thảo mộc nhập kho. Nhưng linh hồn ẩn sâu bên dưới lớp da thịt thanh tú, mảnh dẻ này lại là Linh Đan — một thạc sĩ dược học lâm sàng hai mươi sáu tuổi của thế kỷ hai mươi mốt, kẻ từng vùi mình thâu đêm suốt sáng bên những dàn máy sắc ký lỏng, máy quang phổ khối lượng, trước khi một vụ nổ lò phản ứng áp suất cao đưa ta vượt qua nghìn năm thời không, đáp xuống cõi hoàng triều Đại An xa lạ.

Khi mở mắt thấy mình khoác chiếc áo bào nữ quan màu xanh nhạt thêu viền cúc giản lược, ta đã tự khắc sâu vào tâm khảm một nguyên tắc sống còn: không tò mò, không can dự, không màng danh lợi. Mục tiêu duy nhất của ta là tích lũy đủ ba trăm lượng bạc vụn trong năm năm tới, chờ đến đợt ân xá thả cung nữ xuất cung để tìm một trấn nhỏ thanh bình nơi non xanh nước biếc, mở một y quán tự nuôi sống mình.

Hoàng quyền là biển lửa nghìn trượng. Mà ta, tuyệt đối không muốn làm con thiêu thân chôn thây nơi đáy vực danh vọng.

“Tiêu tỷ tỷ! Tỷ mau xem chỗ Bạch Hợp này xem!”

Tiếng gọi gấp gáp nhưng cố đè thấp âm lượng cắt đứt dòng suy tưởng của ta. Bạch Chỉ — tiểu nha đầu mười bảy tuổi tròn trịa, đôi mắt to tròn lanh lợi bưng một chiếc nong tre lớn vội vã chạy vào từ hành lang phía đông của Ngự Dược Phòng. Bên trong nong chứa đầy những phiến Bạch Hợp sấy khô trắng muốt như ngọc tuyết, xếp ngay ngắn từng lớp phẳng phiu.

“Đây là cống phẩm thượng hạng từ Lĩnh Nam mới nhập kho sáng nay đấy ạ.” Bạch Chỉ ghé sát tai ta, vẻ mặt không giấu nổi sự thán phục. “Quản sự nói lô này được tuyển chọn riêng cho Dưỡng Tâm Điện của Hoàng thượng và Diên Hi Cung của Gia Quý nhân. Nhìn xem, cánh nào cánh nấy trắng tinh khôi, không vướng lấy nửa chấm đen, rìa cánh ngay ngắn như cánh hoa mai vừa hé. Đám thái giám bên Ngự Dược Cục khen không tiếc lời, bảo năm nay thời tiết phương Nam mưa thuận gió hòa mới có được mẻ dược liệu tuyệt sắc thế này.”

Ta không vội đáp lời. Ngón tay thon dài khẽ lướt qua lớp phiến mỏng xốp, nhặt một cánh Bạch Hợp lên ngắm nghía dưới ánh nắng ban mai rọi xiên qua song cửa sổ Dược Phòng.

Trắng. Nhưng là một sắc trắng bệch dại dột, bất thường.

Theo kinh nghiệm dược học cổ truyền lẫn sinh học thực vật, củ Bạch Hợp tự nhiên sau khi thu hoạch, bóc tách từng vảy, rửa sạch, đồ chín qua hơi nước rồi đem phơi sấy sẽ ngả sang màu vàng nhạt hoặc màu trắng ngà như xương khô. Rìa cánh hoa tự nhiên phải hơi quăn lại do sự co rút không đều của các bó sợi cellulose, bề mặt hơi bóng mờ và hiện rõ những đường gân dẫn li ti. Nhưng những phiến thuốc nằm trên tay ta lúc này lại phẳng phiu kỳ lạ, xốp phồng một cách giả tạo, trắng toát như lớp phấn trét mặt dày cộm của đám con hát kinh kỳ.

Ta đưa cánh thuốc lên sát chóp mũi, khẽ nhắm mắt, hít một hơi thật sâu.

Bên dưới mùi thơm ngọt thanh kín đáo vốn có của loài thảo mộc họ bách hợp, một luồng khí chua gắt, hăng nồng và cay xè lập tức đâm thẳng vào niêm mạc mũi, k*ch th*ch khiến vòm họng ngứa ngáy. Mùi vị ấy ẩn giấu rất tinh vi. Nếu là một thái y thông thường chỉ dựa vào ngũ quan nhìn ngó qua loa, chắc chắn sẽ bị mùi trầm hương ngào ngạt quanh năm vương trên các hòm gỗ đựng thuốc đánh lừa. Nhưng với một kẻ từng dành cả tuổi thanh xuân làm bạn với các hóa chất phân tích trong phòng thí nghiệm như ta, mùi vị này quen thuộc đến mức khiến gai ốc toàn thân dựng đứng.

Khí sulfur dioxide — khí lưu huỳnh bốc lên từ quá trình đốt cháy lưu hoàng thô.

“Bạch Chỉ, đóng hết cửa sổ lại.” Ta trầm giọng phân phó, thanh âm không một chút gợn sóng nhưng mang theo sức nặng khiến người khác không dám lơ là.

Tiểu nha đầu giật mình trước thần sắc nghiêm nghị bất thường của ta, vội vàng buông vạt áo, rón rén đi khép hai cánh cửa gỗ chạm trổ hoa cúc lại, chỉ để hé một khe nhỏ đón gió thông khí.

Ta quay lại bàn chế dược, với tay lấy chiếc đèn dầu nhỏ dùng để hơ nóng dao cắt thuốc, bật đá lửa thắp lên một ngọn lửa xanh leo lét. Rút từ trong túi gấm bên hông một phiến đồng mỏng bằng lòng bàn tay — vật dụng ta lén nhờ thợ rèn làm riêng để thực hiện các phản ứng nhiệt phân đơn giản — ta cẩn thận đặt một cánh Bạch Hợp trắng muốt lên bề mặt phiến kim loại, rồi đưa qua đưa lại trên ngọn lửa.

Nhiệt độ tăng dần. Cánh thuốc bắt đầu co rút, mép viền sém lại. Nhưng thay vì tỏa ra mùi thơm khét của tinh bột thảo mộc nướng chín thông thường, một làn khói trắng mỏng manh bốc lên, mang theo mùi hôi nồng đặc trưng của diêm quẹt cháy dở. Trên mặt phiến đồng nguội bớt, những hạt bụi nhỏ màu vàng nhạt li ti bắt đầu ngưng tụ, tạo thành một lớp màng nhờn mờ đục.

“Tỷ tỷ... mùi gì mà khó ngửi thế này? Khét lẹt mà lại cay xè...” Bạch Chỉ vội lấy ống tay áo bịt mũi, đôi mắt mở to hoang mang nhìn ta.

“Là lưu hoàng.” Ta dập tắt ngọn đèn, dùng kẹp gạt tàn thuốc cháy đen sang một chiếc đĩa sứ trắng. “Hơn nữa còn là lượng cực lớn. Lô Bạch Hợp này khi thu hoạch ở Lĩnh Nam ắt hẳn đã gặp phải mưa dầm liên miên, không kịp phơi sấy nên phần lớn đã bị ẩm mốc, thâm đen từ tận lõi củ. Để không bị hỏng mối hàng cống nạp béo bở, thương lái hoặc đám cai quản trang trại thảo dược đã dùng thủ đoạn hun khói lưu hoàng thô liên tục nhiều ngày đêm.”

Bạch Chỉ hít một hơi khí lạnh, thì thào: “Xông lưu huỳnh sao? Muội nhớ trong sách 'Bản Thảo Bị Yếu' có nói, dùng một chút khói lưu hoàng hun qua có thể chống sâu mọt ẩm mốc...”

“Đó là lượng vi mô theo quy chuẩn cổ truyền để bảo quản qua mùa nồm ẩm, và phải phơi lại nơi thoáng gió hàng tháng trời cho bay hết tàn dư.” Ánh mắt ta lạnh đi, ngón tay miết nhẹ lớp bột vàng bám trên phiến đồng. “Còn lượng bám trên số thuốc này đã vượt xa ngưỡng an toàn hàng chục lần. Chúng dùng khói nồng độ đậm đặc để tẩy trắng hoàn toàn vết thối rữa, ép khô tinh bột giả tạo nhằm biến phế phẩm thành thượng phẩm. Khi đi vào cơ thể người, khí lưu hoàng ngưng tụ này gặp nước và dịch vị trong dạ dày sẽ lập tức chuyển hóa thành dịch toan ăn mòn. Người khỏe mạnh uống vào nhẹ thì bỏng rát thực quản, nôn mửa cồn cào; kẻ ốm yếu hoặc tạng phủ suy kiệt nếu dùng liên tục ba ngày, niêm mạc dạ dày sẽ loét nát, xuất huyết tỳ vị mà chết.”

Sắc mặt Bạch Chỉ thoắt cái trắng bệch như chính những cánh hoa giả tạo kia. Nàng run rẩy nhìn nong thuốc: “Thế nhưng... lô này đã được ghi tên chuyển đến Diên Hi Cung để sắc thuốc an thần cho Gia Quý nhân dùng vào trưa nay rồi! Mau, chúng ta phải đi bẩm báo cho Cố Viện phán...”

“Khoan đã!”

Ta dứt khoát giơ tay giữ chặt bả vai nàng lại. Sự kích động ở chốn hoàng cung chưa bao giờ mang lại kết quả tốt đẹp, nó chỉ đẩy người ta xuống mồ nhanh hơn. “Sáng nay là ai ký nhận lô thuốc này vào kho?”

“Là... là Triệu Thái y, người phụ trách sảnh kiểm duyệt ngoài.”

Triệu Thái y — Triệu Bính. Kẻ vốn là đồng hương thân tín của viên ngoại lang Lại bộ, ngày thường luôn khúm núm cúi rạp mình trước các thái giám tổng quản của Cảnh Nhân Cung nơi Liễu Quý phi ngự trị. Một vụ cống nạp thảo dược kém chất lượng nhưng lại được khoác lên danh nghĩa ‘thượng phẩm tiến cung’, bên trong chắc chắn có dòng chảy bạc trắng bôi trơn từ thương lái qua tay đám quan lại thẩm định. Nếu ta — một nữ y quan thất phẩm không gốc không rễ — nhảy bổ ra vạch trần, kẻ đầu tiên bị trảm chưa chắc đã là đám quan tham lam tiền tài, mà có thể chính là cái đầu của ta vì tội ‘nói càn làm loạn lòng người, bôi nhọ thanh danh ngự y tiền bối’.

Đúng lúc ta đang cân nhắc tìm cách khéo léo lấy cớ làm ẩm mốc để tiêu hủy hoặc đánh tráo lô thuốc độc hại này, thì từ phía hành lang đá bên ngoài, những tiếng la hét, chửi bới the thé bỗng dội vào như sét đánh ngang tai, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của viện thuốc.

“Đồ tiện tỳ to gan lớn mật! Ngươi dám to gan hạ độc mưu hại Quý nhân! Người đâu, lôi ả vào Thận Hình Ty đánh chết tươi cho ta!”

“Nô tỳ oan uổng! Nô tỳ thực sự không có... Tào tổng quản tha mạng! Cầu xin tổng quản tha mạng cho nô tỳ!”

Tiếng gào khóc thảm thiết xen lẫn tiếng roi da xé gió quất vào da thịt vang lên chát chúa. Ta và Bạch Chỉ đưa mắt nhìn nhau. Ta khẽ nhíu mày, vuốt thẳng nếp áo nữ quan xanh nhạt, bước nhanh ra phía hiên sảnh của Ngự Dược Phòng.

Trước sân rộng thênh thang của Thái Y Viện, một cảnh tượng hỗn loạn kinh hoàng đang diễn ra dưới ánh nắng gắt gao.

Giữa khoảng sân lát đá xám, một tiểu cung nữ mặc áo vải xám mỏng manh đang bị hai gã thái giám vạm vỡ đè nghiến xuống nền đá lởm chởm. Lưng áo nàng ta đã rách toác thành từng vệt dài, máu đỏ tươi thấm đẫm lớp vải thô, rỉ xuống kẽ đá. Đứng sừng sững trước mặt nàng là Tào công công — chưởng sự thái giám của Diên Hi Cung. Gương mặt béo phị trát một lớp phấn trắng dày cộp của lão đang giật giật vì giận dữ, tay lăm lăm chiếc roi mây bọc gân bò, khóe mắt hung quang lóe lên từng tia tàn độc.

Xung quanh sân, dăm ba vị thái y đứng tuổi cùng đám y đồng đều co rúm nép dưới mái hiên râm mát. Kẻ thì giả vờ cúi đầu lật giở đơn thuốc, người thì ngước mắt nhìn mây trời, tuyệt nhiên không một ai dám hé răng nửa lời. Ai cũng rõ như ban ngày: Gia Quý nhân của Diên Hi Cung tuy xuất thân không hiển hách bằng Liễu Quý phi của Cảnh Nhân Cung, nhưng hiện tại đang mang trong mình long thai ba tháng — giọt máu hoàng gia mà Hoàng thượng hằng mong mỏi sau nhiều năm lục cung vắng tiếng trẻ thơ. Động đến Diên Hi Cung lúc này chẳng khác nào tự thò tay vào chảo dầu đang sôi sùng sục.

“Tào tổng quản bớt giận! Xin ngài hãy bớt giận!” Triệu Bính từ trong sảnh lớn hớt hải chạy vội ra, hai tay chắp trước ngực, lưng khom thành hình cánh cung, mồ hôi hột nhễ nhại chảy ròng ròng trên trán. “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện tày đình gì? Thuốc thang của Diên Hi Cung trước giờ đều do viện ta đích thân kiểm duyệt, sao lại có chuyện kinh động đến long thể Quý nhân thế này?”

Tào công công hừ lạnh một tiếng như tiếng lợn thở phì phò, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống nền đá: “Triệu Thái y, ngươi còn mặt mũi mà mở mồm hỏi à? Nửa canh giờ trước, Quý nhân nhà ta dùng xong bát 'Bách Hợp An Thần Thang', chưa đầy một tuần trà đã ôm bụng quằn quại, nôn thốc nôn tháo ra toàn mật xanh mật vàng, sắc mặt xám ngoét, suýt chút nữa là động đến thai khí của long mạch! Hoàng thượng nổi trận lôi đình, vừa phái ngự y viện đến cấp cứu bên ấy rồi! Con tiện tỳ Thúy Nhi này là kẻ đích thân sắc thuốc dâng lên, bên trong bát thuốc còn sót lại tàn cặn, thử kim bạc lập tức biến sắc đen kịt! Ngươi nói xem, không phải con súc sinh này hạ độc thì là ai?”

“Oan cho nô tỳ quá... Trời đất chứng giám cho nô tỳ...” Cung nữ Thúy Nhi dập đầu liên hồi xuống đất, trán đập vào phiến đá vỡ toác, máu tươi hòa cùng nước mắt chảy ròng ròng xuống khóe mi. “Nô tỳ từ lúc nhận bọc thuốc từ viện về, một bước cũng không dám rời khỏi lò sắc. Lửa đun bằng than củi không khói, nước dùng là nước giếng thanh ngọc tinh khiết... Nô tỳ làm sao dám to gan mưu hại Quý nhân và long thai...”

“Câm cái mồm chó của ngươi lại!” Tào công công vung roi quất mạnh một nhát xuống bả vai gầy guộc của nàng, tiếng da thịt nứt toác khiến đám y đồng xung quanh rùng mình thót bụng. “Kim bạc đã đổi màu đen kịt, bằng chứng rành rành như núi Thái Sơn! Lôi nó đến Thận Hình Ty, dùng kẹp sắt bẻ gãy từng đốt ngón tay xem nó có chịu khai kẻ chủ mưu đứng sau giật dây hay không!”

Đám ngự y xung quanh nghe đến bốn chữ ‘kẻ chủ mưu đứng sau’ thì đồng loạt tái mặt, vô thức lùi lại nửa bước. Hậu cung tranh sủng xưa nay tanh máu vô hình; một phi tần sẩy thai hay trúng độc, đằng sau ắt là bóng ma của những thế lực cung đình quyền khuynh triều dã. Dính líu vào vòng xoáy này, kẻ chết đầu tiên và oan uổng nhất luôn là những con tốt thí mạng không tên tuổi.

Triệu Bính lấm lét đưa mắt nhìn quanh, trong đáy mắt lóe lên vẻ chột dạ chớp nhoáng, nhưng lão lập tức gật đầu lia lịa, hùa theo: “Tào công công nói chí phải! Kẻ phản trắc tâm địa rắn rết thế này nhất định phải nghiêm trị! Thái Y Viện chúng ta trước nay luôn thanh bạch, thuốc cấp ra đều là cống phẩm thượng hạng tuyển chọn kỹ lưỡng, tuyệt đối không có nửa điểm sai sót...”

“Chậm đã.”

Một giọng nói trong trẻo, điềm đạm nhưng đanh gọn vang lên giữa khoảng sân ngột ngạt.

Tiếng ồn ào bỗng chốc im bặt. Đám đông sững sờ. Hàng chục ánh mắt đầy kinh ngạc lẫn nghi hoặc đồng loạt đổ dồn về phía góc hành lang.

Ta bước từng bước vững chãi xuống các bậc thềm đá hoa cương, vạt áo bào màu xanh nhạt khẽ đung đưa theo nhịp chân trầm tĩnh. Bạch Chỉ phía sau run rẩy nắm chặt lấy góc tay áo ta, nhưng ta chỉ khẽ vỗ nhẹ mu bàn tay nàng để truyền đi sự an tâm.

Ta tự biết mình không phải bồ tát cứu khổ cứu nạn giữa chốn bùn nhơ này. Nhưng ta là một người thầy thuốc. Khi nhìn thấy một sinh mạng sắp sửa bị chôn vùi bởi sự dốt nát, hèn hạ và những toan tính bẩn thỉu của kẻ có quyền lực, lương tri của một kẻ từng tuyên thệ trước ngọn đèn tri thức không cho phép ta đứng khoanh tay làm ngơ.

“Ngươi là kẻ nào? Một nữ y quan thất phẩm nhỏ nhoi như con sâu cái kiến, nơi các bậc bề trên đang phân xử việc công, có chỗ cho thứ tiện nhân như ngươi lên tiếng sao?” Tào công công trợn trừng đôi mắt ti hí, chiếc roi mây chỉ thẳng vào mặt ta, giọng the thé sặc mùi đe dọa.

Ta dừng lại cách lão đúng năm bước chân — khoảng cách an toàn đủ để quan sát và không bị khí thế bức người của lão lấn át. Ta khẽ khom người hành lễ theo đúng quy chuẩn cung đình, giọng điệu mực thước, không kiêu căng cũng chẳng hề hèn mọn: “Bẩm Tào tổng quản, hạ quan là Tiêu Nhược Lan, Nữ y quan Thất phẩm chuyên trách kiểm định thảo dược của Ngự Dược Phòng. Hạ quan mạo muội lên tiếng tuyệt đối không phải để bao che cho cung nữ này, mà là để bảo toàn sự thật cho Diên Hi Cung và giữ gìn danh dự ngàn năm của toàn thể Thái Y Viện.”

“Danh dự?” Tào công công cười khẩy một tiếng the thé đầy mỉa mai. “Chủ tử của ta suýt nữa thì một xác hai mạng, ngươi ở đây giở giọng danh dự với ta?”

“Nếu thực sự có kẻ muốn dùng kịch độc để ám hại long thai, kẻ đó ắt phải chọn những loại độc dược vô sắc, vô vị, độc tính phát tác âm thầm như Hạc Đỉnh Hồng, Thấu Cốt Tán, hay thạch tín tinh chế.” Ta nhìn thẳng vào mắt lão thái giám già, ánh mắt trong veo và sắc lạnh như một lưỡi dao mổ bằng thép nguội, khiến gã bất giác khựng lại. “Một kẻ hạ độc có mưu đồ thâm sâu, liệu có ngu xuẩn đến mức dùng một loại độc tố khiến người uống nôn mửa ngay lập tức, lưu lại mùi vị hăng nồng gay gắt khắp cả tẩm điện, để rồi tự trói mình vào giá treo cổ chỉ sau một tuần trà ngắn ngủi hay không?”

Triệu Bính đứng bên cạnh bỗng chốc biến sắc, giận dữ quát lớn: “Tiêu Nhược Lan! Ngươi ăn nói xằng bậy cái gì đó? Tào công công đã tận mắt chứng kiến kim bạc thử thuốc hóa thành màu đen kịt! Kim bạc đổi màu đen, xưa nay trong y thư tiền triều đều ghi rõ là dấu hiệu của thạch tín và kịch độc đoạt mệnh! Ngươi mới vào viện được mấy ngày mà dám nghi ngờ thuật thử độc cổ truyền của tiền nhân sao?”

Một nụ cười nhạt thoáng hiện nơi khóe môi ta.

Cái gọi là ‘kim bạc thử độc’ — sự ngộ nhận kéo dài hàng thiên niên kỷ của y học cổ đại thô sơ. Trong hóa học lâm sàng hiện đại, bạc kim loại trơ với hầu hết các chất độc hữu cơ như nọc rắn, xyanua hay các loại alcaloid thực vật. Thời cổ đại, người ta chế tạo thạch tín bằng cách nung quặng arsenopyrite thô, quy trình lạc hậu khiến sản phẩm luôn bị lẫn một lượng lớn tạp chất lưu huỳnh. Khi cắm kim bạc vào dung dịch thuốc, chính phản ứng hóa hợp giữa bạc và lưu huỳnh tạo thành màng bạc sunfua màu đen nhánh bám trên bề mặt kim loại, chứ bản thân hợp chất asen tinh khiết hoàn toàn bất hoạt với bạc!

“Triệu Thái y, kim bạc hóa đen chỉ chứng minh trong bát thuốc có chứa lưu hoàng, chứ tuyệt đối không thể chứng minh có thạch tín.”

Lời ta thốt ra như một viên đá tảng ném mạnh xuống mặt hồ đang đóng băng, làm dấy lên những tiếng xầm xì kinh ngạc của đám ngự y xung quanh.

“Ngươi... ngươi dám ăn ốc nói mò, bôi nhọ y lý!” Triệu Bính lắp bắp, hai mang tai đỏ ửng vì thẹn quá hóa giận.

“Có phải nói mò hay không, xin Tào tổng quản cho phép hạ quan nghiệm chứng ngay trước thanh thiên bạch nhật.” Ta phớt lờ Triệu Bính, chỉ hướng ánh mắt kiên định về phía Tào công công. “Chiếc bát đựng tàn dư thuốc cùng chiếc kim bạc của Diên Hi Cung, chắc hẳn tổng quản vẫn mang theo bên mình chứ?”

Tào công công nheo mắt nhìn ta thật sâu. Sự bình thản, đĩnh đạc và đôi mắt không một chút gợn sóng sợ hãi của ta dường như đã đánh động đến sự đa nghi cẩn trọng của một lão thái giám đã lăn lộn qua ba triều vua. Lão phất nhẹ ống tay áo. Một tiểu thái giám run rẩy bước lên, mở chiếc tráp sơn mài màu đỏ sẫm mang theo. Bên trong là một chiếc bát sứ hoa lam vỡ một góc miệng, đáy bát còn đọng lại một lớp nước thuốc màu nâu sẫm lợn cợn vài vụn bã thảo mộc, cùng với một chiếc trâm thử độc bằng bạc, phần thân ngập thuốc quả nhiên đã phủ một lớp màng đen xám xịt.

Ta bước tới, không chút ngần ngại, dùng ngón tay trỏ chấm một giọt nước thuốc còn sót lại đưa lên đầu lưỡi nếm thử.

Vị đắng chát của bách hợp chưa chín tới, tiếp theo là cảm giác cay rát, tê dại như kim châm nơi các gai lưỡi, và một mùi toan khí nồng nặc đặc trưng của acid sinh ra từ lưu huỳnh khi hòa tan trong nước ấm.

“Thế nào? Tự mình nếm độc dược, ngươi chán sống rồi sao?” Tào công công cười gằn.Ta lấy chiếc khăn tay lụa trắng nhổ ngụm nước bọt ra, điềm tĩnh ngẩng đầu nhìn thẳng vào lão: “Tào tổng quản, Gia Quý nhân nôn mửa, đau thắt vùng thượng vị, nhưng người có bị sùi bọt mép, mắt trợn ngược, toàn thân co giật hay xuất huyết thất khiếu hay không?”

Tào công công khẽ giật mình, con ngươi đảo qua đảo lại: “Nương nương chỉ... chỉ nôn mửa dữ dội, ôm bụng kêu nóng rát như bị lửa thiêu...”

“Đúng vậy. Bởi vì Quý nhân nương nương không hề trúng kịch độc thạch tín, mà là bị tổn thương niêm mạc tỳ vị do uống phải thang thuốc bị nhiễm lưu hoàng với nồng độ cực cao.”

Nói rồi, ta quay sang phía hành lang: “Bạch Chỉ, mang nong Bạch Hợp thượng phẩm lúc nãy ra đây.”

Bạch Chỉ nhanh nhẹn bưng chiếc nong tre đặt xuống giữa bãi đất trống. Ta bước đến, bốc một nắm phiến thuốc trắng muốt giơ cao lên trước mặt toàn thể ngự y và đám thái giám:

“Thưa các vị đại nhân, đây chính là lô Bạch Hợp thượng phẩm từ Lĩnh Nam mới nhập kho sáng nay, và cũng chính là vị thuốc chủ đạo trong bài 'Bách Hợp An Thần Thang' mà Diên Hi Cung vừa lĩnh về lúc sáng sớm. Xin hỏi Triệu Thái y, khi ngài thụ lý kiểm duyệt, ngài có nhận thấy những phiến thuốc này trắng một cách kỳ lạ, xốp giòn bất thường hay không?”

Triệu Bính lùi lại nửa bước, trán rịn mồ hôi ướt đẫm: “Thuốc... thuốc trắng đẹp là do đất đai Lĩnh Nam màu mỡ phì nhiêu...”

“Là do bị hun khói lưu hoàng quá độ!” Giọng ta đanh thép vang lên, át cả tiếng gió rít qua những tàng cây tùng cổ thụ trong sân. “Dược liệu bị ngấm nước mưa ẩm mốc trong quá trình vận chuyển đường trường, thương lái đã dùng hàng trăm cân lưu hoàng đốt lấy khói đậm đặc để tẩy trắng vết mốc thối, ép khô tinh bột nhằm che mắt triều đình! Lưu hoàng thô bám dính dày đặc trên bề mặt phiến thuốc, khi sắc lên với nước sôi, nhiệt độ cao đã thúc đẩy nó chuyển hóa thành thứ khí toan cực mạnh. Dạ dày con người bằng da bằng thịt làm sao chịu nổi thứ dịch toan ăn mòn này? Gia Quý nhân đang mang long thai, tỳ vị vốn đã suy nhược, uống phải bát thuốc này chẳng khác nào uống nước dấm thanh đun sôi trộn lẫn tro than, hỏi sao tỳ vị không đau thắt mà nôn mửa liên hồi?”

“Ngươi... ngươi lấy bằng cớ gì khẳng định lô thuốc nguyên liệu này có tẩm lưu hoàng?” Triệu Bính gầm lên, thanh âm run rẩy lạc đi.

“Bằng chứng ở ngay trước mắt các vị.”

Ta tháo chiếc trâm bạc trơn cài trên búi tóc mình xuống — cây trâm bạc sáng loáng, thuần khiết chưa từng vướng chút bụi trần. Trước sự chứng kiến của mấy chục con người đang nín thở, ta lấy một mảnh giấy bản sạch, bọc vài cánh Bạch Hợp tươi nguyên còn khô cong từ trong nong lại, dùng chiếc chày nhỏ nghiền nát thành bột thô. Sau đó, ta rót một chén nước sôi từ bình trà gốm của viện vào, khuấy đều lên.

Không cần đun nấu, không cần qua tay bất kỳ ai sắc thuốc. Chỉ sau mười nhịp thở, ta cắm thẳng thân trâm bạc của mình vào chén nước ngâm bột Bạch Hợp thô kia.

Không gian như ngưng đọng lại trong từng hơi thở. Tào công công, Triệu Bính, đám ngự y già, và cả cung nữ Thúy Nhi đang nằm rạp dưới đất đều trố mắt nhìn chằm chằm vào chiếc chén gốm thô sơ.

Khi ta từ từ rút cây trâm bạc lên, phần thân ngập trong nước đã biến đổi hoàn toàn. Một màu xám xịt nhanh chóng lan rộng, rồi chuyển thành một lớp màng đen nhánh, xỉn màu hệt như chiếc kim thử độc của Diên Hi Cung ban nãy!

Cả sân viện đồng loạt ồ lên một tiếng kinh hoàng.

“Trời đất quỷ thần ơi... thuốc chưa hề qua lửa sắc, chưa hề qua tay cung nữ kia...” Một lão thái y đứng nép góc hiên run rẩy thốt lên. “Chỉ ngâm nước nóng thôi mà thân bạc đã biến thành đen kịt thế này rồi!”

“Hiện tượng kim bạc hóa đen không phải do cung nữ Thúy Nhi lén bỏ thạch tín vào lò sắc,” ta cất giọng rành rọt, từng lời như búa tạ giáng xuống mặt đá, “mà là do chính bản thân dược liệu trong kho của Thái Y Viện đã bị tẩm độc chất từ trước khi nhập cung! Nếu Tào tổng quản muốn trừng trị kẻ thủ ác làm kinh động long thai, ngài nên tra xét kẻ nào đã vì tư lợi mà nhắm mắt ký nhận lô dược liệu giả mạo này, chứ không phải đánh chết một tiểu cung nữ vô tội làm bia đỡ đạn cho kẻ khác!”

Ánh mắt ta quét thẳng qua người Triệu Bính như một luồng điện lạnh. Vị thái y ngũ phẩm này hai chân run lẩy bẩy như cầy sấy, cả người mềm nhũn quỵ ngã xuống bậc thềm đá, gương mặt xám ngoét không còn một giọt máu, miệng há hốc lắp bắp không nên lời: “Ta... ta không biết... ta chỉ thấy chúng trắng đẹp... ta thực sự không cố ý...”

Tào công công đứng chết trân tại chỗ. Chiếc roi mây bọc gân bò trong tay lão buông thõng xuống đất, phát ra một tiếng ‘bốp’ khô khốc. Là một kẻ đã lăn lộn nửa đời người nơi hang hùm miệng cọp chốn cung cấm, lão thừa thấu hiểu cục diện lúc này. Nếu tiếp tục làm ầm ĩ lên theo hướng mưu sát hoàng tự, vụ án sẽ bị chuyển sang Đại Lý Tự và Hình Bộ thụ lý, khi ấy nguồn cơn lại bắt đầu từ sự tắc trách, tham ô của Ngự Dược Cục — nơi có dây mơ rễ má chằng chịt với các thế lực hậu trường mà ngay cả một thái giám ngũ phẩm như lão cũng không thể gánh nổi hậu quả. Nhưng nếu khép lại thành một vụ cống nạp thảo dược kém chất lượng do gian thương lừa dối, lão vừa có thể cho Diên Hi Cung một lời giải thích thỏa đáng để dẹp yên cơn giận của Hoàng đế, vừa lập công vạch trần kẻ tắc trách trong viện.

Lão hít sâu một hơi, ánh mắt nhìn ta từ khinh miệt ban đầu chuyển sang kinh ngạc, rồi biến thành một vẻ thâm trầm, dò xét khó lường.

“Khá lắm... Khá cho một Tiêu y quan miệng lưỡi sắc bén.” Tào công công gằn từng tiếng qua kẽ răng, phất mạnh tay áo ra hiệu cho hai gã thái giám buông Thúy Nhi ra. “Người đâu! Tạm thời tha tội chết cho con tiện tỳ này, đưa về phòng cấm túc của Diên Hi Cung chờ Quý nhân định đoạt. Còn Triệu Thái y... cùng toàn bộ lô Bạch Hợp này, lập tức niêm phong toàn bộ! Áp giải Triệu Bính đến trước mặt Hoàng thượng thỉnh tội tắc trách!”

“Tào tổng quản tha mạng! Cầu xin tổng quản tha mạng cho hạ quan!” Tiếng kêu khóc thảm thiết, van lạy của Triệu Bính nhanh chóng bị át đi bởi tiếng bước chân rầm rập của toán thị vệ vừa ập tới áp giải.

Sân viện nhanh chóng được thu dọn. Vũng máu tươi trên nền đá hoa cương được cung nhân dội nước giếng cọ rửa sạch sẽ, loang lổ rồi tan biến như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Cung nữ Thúy Nhi trước khi được dìu đi đã cố hết sức ngoái đầu lại, hướng về phía ta dập đầu một cái thật mạnh, ánh mắt đẫm lệ tràn ngập sự biết ơn tái sinh.

Ta thở hắt ra một hơi dài, cảm giác mệt mỏi bỗng chốc ùa về đè nặng lên hai bờ vai mảnh khảnh. Bàn tay giấu trong tay áo khẽ run lên nhè nhẹ — không phải vì sợ hãi, mà là phản ứng sinh lý sau một màn phóng thích adrenaline căng thẳng tột độ. Ta biết, mình vừa phá vỡ nguyên tắc sống còn số một do chính mình đặt ra: ta đã nhúng tay vào vòng xoáy thị phi.

“Nha đầu, thủ đoạn nghiệm chứng thảo dược của ngươi... thực sự khiến lão phu mở rộng tầm mắt.”

Một giọng nói già nua, khàn đục bất thần vang lên từ phía sau lưng ta.

Ta giật mình quay phắt lại. Từ sau bức bình phong gỗ trắc cổ kính chạm khắc hình Thần Nông nếm trăm ngọn cỏ đặt giữa sảnh chính, một bóng người từ tốn bước ra.

Đó là một lão già ngoài sáu mươi tuổi, dáng người hơi còng, chòm râu dê hoa râm buông dài trước ngực. Lão khoác trên mình bộ triều phục màu lam sẫm thêu hoa văn nhạn trắng của Chánh tam phẩm — Thái Y Viện Phán Cố Hoài Viễn, người đứng đầu toàn bộ mạng lưới y thuật của hoàng triều Đại An. Cả buổi sáng nay, lão dường như ngồi bất động sau bức bình phong ấy, lặng lẽ thu trọn toàn bộ màn kịch vào tầm mắt mà không hề phát ra một tiếng thở dài.

“Vi thần bái kiến Viện phán đại nhân.” Ta vội vàng cúi rạp người, chỉnh lại vạt áo hành lễ theo đúng phép tắc.

Cố Hoài Viễn chắp hai tay sau lưng, bước chậm rãi từng bước đến trước mặt ta. Đôi mắt già nua hơi đục vì năm tháng nhưng lại sâu thẳm như đáy giếng cạn ngàn năm, dừng lại trên gương mặt ta rất lâu.

“Bạc kim loại gặp lưu hoàng thì hóa đen... đạo lý giản đơn mà sắc bén này, lão phu từng đọc qua trong một cuốn tàn thư y thuật thời tiền triều, nhưng ngay cả các ngự y ba mươi năm kinh nghiệm trong viện cũng chưa chắc đã thấu triệt, càng không ai dám đem tính mạng mình ra đánh cược trước mũi roi của Tào công công như ngươi.” Ánh mắt lão lóe lên một tia sáng sắc sảo như muốn xuyên thấu tâm can, rồi lại nhanh chóng vụt tắt vào vẻ mệt mỏi thường ngày. “Là gia học truyền thừa từ phụ thân ngươi sao?”

“Bẩm đại nhân, phụ thân thần lúc sinh thời chỉ là một lang y nơi thôn dã, thường răn dạy thần rằng dược tính do đất trời sinh ra, nhưng độc tính lại do lòng người tác tạo. Thần chỉ dựa vào tính chất biến đổi của thảo mộc khi gặp nhiệt mà cả gan suy đoán, cứu người trong lúc cấp bách, tuyệt không dám giấu giếm điều gì.” Ta cúi đầu thấp hơn nữa, ngữ khí cung kính, cẩn trọng đến mức không để lộ lấy nửa điểm sơ hở.

Cố Hoài Viễn im lặng một hồi lâu. Gió thu se sắt thổi qua mái hiên viện, làm lay động những chùm thảo dược phơi khô treo lủng lẳng trên xà nhà, phát ra những tiếng xào xạc khô khốc, cô quạnh.

“Ngươi rất thông minh, tâm tư cũng rất chu mật.” Lão thở dài một tiếng, thanh âm nhỏ đến mức dường như chỉ có hai người nghe thấy, như một lời thở than trôi vào cõi hư không. “Nhưng nha đầu à, ngươi phải nhớ kỹ lấy một điều... Chốn Tử Cấm Thành này chưa bao giờ là nơi để người ta phân định đúng sai, trắng đen. Mặt hồ càng phẳng lặng thì dưới đáy nước càng nhiều đá ngầm rình rập. Ở nơi này, kẻ mù đôi khi sống thọ hơn kẻ sáng mắt, và người biết quá nhiều... ắt sẽ đoản mệnh.”

Trái tim ta khẽ thắt lại. Lời răn đe của lão không hề mang theo ác ý hay hận thù, mà chất chứa một nỗi bất lực, cay đắng đến tột cùng của một kẻ đã chứng kiến quá nhiều sinh mạng tài hoa bị vùi dập chốn thâm cung.

“Hạ quan xin khắc cốt ghi tâm lời chỉ dạy của Viện phán đại nhân.” Ta cúi đầu đáp.

“Thu dọn chỗ tàn thuốc trên phiến đồng kia đi.” Cố Hoài Viễn phất nhẹ tay áo, quay lưng bước chầm chậm về phía nội đường u tối. “Bắt đầu từ ngày mai, ngươi chuyển sang phụ trách đối chiếu sổ sách xuất nhập kho dược liệu cũ ở Dược Tịch Các. Ở đó thanh tịnh, ít người qua lại, thích hợp cho ngươi an tâm tĩnh dưỡng.”

“Tạ ân điển của đại nhân.”

Nhìn theo bóng lưng còng còng của vị Viện phán già khuất dần sau cánh cửa gỗ lim, ta biết mình vừa tránh được một kiếp nạn tức thời, nhưng đồng thời cũng đã chính thức lọt vào tầm mắt của những kẻ nắm giữ quyền sinh sát. Dược Tịch Các — nơi lưu trữ hàng vạn hồ sơ bệnh án, sổ sách xuất nhập dược liệu cũ qua các triều đại — bề ngoài là một sự điều chuyển giáng chức để tránh đầu sóng ngọn gió, nhưng đối với ta, đó lại là một kho tàng dữ liệu vô giá.

...

Hoàng hôn buông xuống Tử Cấm Thành, nhuộm một màu đỏ rực như máu lên những mái ngói lưu ly cong vút. Không khí ngột ngạt của ban ngày nhanh chóng nhường chỗ cho cái lạnh buốt thấu xương của màn đêm chốn cung cấm.

Dược Tịch Các nằm khuất nẻo ở góc tây bắc xa xôi nhất của Thái Y Viện, bao quanh bởi những rặng trúc xanh rậm rạp và những bức tường quét vôi xám đã tróc lở từng mảng lớn. Nơi đây quanh năm thoang thoảng mùi giấy mục ẩm ướt, mùi mực tàu khô khốc và hương thảo dược xua mọt nồng nặc. Không có tiếng người đi lại, chỉ có tiếng gió thu rít qua khe cửa sổ gỗ ọp ẹp.

Sau khi cùng Bạch Chỉ phân loại và lau dọn xong ba kệ sách đầu tiên, ta bảo nàng về phòng nghỉ ngơi trước, còn mình thì ở lại thắp lên một ngọn đèn dầu đơn độc giữa căn phòng thênh thang ngập ngụa điển tịch cũ.

Trước mắt ta là cuốn “Dược Bộ Phân Phát Nội Đình” ghi chép lại các đơn thuốc xuất kho trong vòng ba năm trở lại đây. Với tư duy phân tích của một nhà nghiên cứu dược học lâm sàng, ta không chỉ đọc lướt qua để đối chiếu số lượng, mà bắt đầu tổng hợp tần suất sử dụng thảo dược giữa các cung phòng. Độc dược trong hoàng cung chưa bao giờ xuất hiện dưới dạng một liều thuốc độc trắng trợn; chúng luôn ẩn mình dưới vỏ bọc của những thang thuốc bồi bổ hàng ngày, tích tụ từng chút một trong tạng phủ theo năm tháng.

Những trang giấy ố vàng lật qua lật lại dưới ngón tay ta.

Cảnh Nhân Cung của Liễu Quý phi: Trầm hương, Xạ hương thượng phẩm, Linh chi đỏ ngàn năm, Yến sào cống nạp... số lượng điều phối khổng lồ vượt xa định mức thông thường.

Dưỡng Tâm Điện của Hoàng đế: Đan sâm, Thục địa, và đặc biệt là một lượng lớn Chu sa, Hùng hoàng do các đạo sĩ của Thái Thanh Cung kê đơn luyện đan dâng tiến... Dấu hiệu của sự nhiễm độc kim loại nặng thủy ngân và asen mãn tính hiện lên rõ mồn một qua từng nét mực son ghi chép chứng trạng mất ngủ, đa nghi và đau nhức khớp xương của bậc cửu ngũ chí tôn.

Ta lật tiếp sang những trang cuối cùng, nơi ghi chép các góc viện hoang phế, hẻo lánh nhất của hoàng thành — những nơi dường như đã bị ân sủng lãng quên từ lâu.

Đột nhiên, ngón tay ta khựng lại giữa không trung.

Ánh lửa hạt đỗ chập chờn rọi sáng một dòng chữ viết bằng mực đen đã hơi phai màu nơi mép dưới trang giấy:

“Lạc Phù Viện — Cửu hoàng tử Chu Dịch. Cấp phát định kỳ mỗi đầu tháng: Phụ Tử (sao chế qua loa) năm đồng, Câu Vẫn (Đoạn Trường Thảo) ba đồng, Xuyên Ô ba đồng, phối cùng Cam Thảo và Sinh Khương...”

Con ngươi ta co rút lại kịch liệt. Hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực.

Phụ Tử và Xuyên Ô — chính là phần rễ củ của cây Ô Đầu, loài thảo mộc chứa aconitine, một chất độc thần kinh và tim mạch vào hàng kịch liệt nhất trong tự nhiên. Chỉ cần một lượng nhỏ bằng hạt đậu xanh cũng đủ để kích hoạt ồ ạt các kênh natri trên màng tế bào cơ tim, gây loạn nhịp thất chết người, liệt cơ hô hấp và ngừng tim trong vòng vài khắc.

Nhưng điều khiến máu trong người ta đông cứng lại chính là vị thuốc thứ hai: Câu Vẫn. Dân gian gọi nó là Đoạn Trường Thảo — thứ cỏ đứt ruột khét tiếng, chứa hàm lượng lớn alkaloid gelsemine có khả năng phong bế dẫn truyền thần kinh trung ương và ức chế tủy sống.

Trong toàn bộ lý luận Đông y từ cổ chí kim, Ô Đầu và Câu Vẫn là hai loại đại kịch độc tuyệt đối không bao giờ được phép đi chung trong một phương tễ! Một bên là aconitine k*ch th*ch co bóp cơ tim cực độ, một bên là gelsemine ức chế thần kinh và làm suy sụp hệ tuần hoàn. Sự kết hợp này chẳng khác nào hai mũi kiếm sắc nhọn cùng đâm thẳng vào lục phủ ngũ tạng. Kẻ uống phải thứ hỗn hợp này, nhẹ thì toàn thân tê dại, co thắt tiêu hóa như bị xé ruột, nặng thì suy tim cấp, trụy mạch mà chết bất đắc kỳ tử, bề ngoài trông không khác gì một cơn bạo bệnh đột phát!

Vậy mà, đơn thuốc hủy diệt sinh mệnh này lại được đường hoàng ghi danh trong sổ sách nội đình, phát đều đặn mỗi tháng cho Cửu hoàng tử Chu Dịch — người mang danh ốm yếu liệt giường từ thuở thiếu thời, giam mình nơi góc viện hoang tàn Lạc Phù Viện suốt mười năm qua.

Ai là kẻ đã kê ra đơn thuốc đoạt mạng này?

Và tại sao một hoàng tử dù có thất sủng, bị lãng quên đến đâu, lại có thể tồn tại suốt ngần ấy năm dưới sự đầu độc có hệ thống và tàn bạo đến dường này?

Một cơn gió lạnh thốc mạnh qua khe cửa sổ gỗ, làm ngọn lửa trên bấc đèn chao đảo dữ dội, hắt cái bóng của ta đổ dài ngoằng lên bức tường phủ đầy mạng nhện. Mùi trầm hương phảng phất từ xa vọng lại bỗng chốc trở nên đắng ngắt, lạnh lẽo tựa như mùi đất ẩm của một nấm mồ chôn sống.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn

Sau