Lời Thì Thầm Dưới Mái Ngói Rêu Phong

Chương 6: Mộng Gỗ Không Lời

Gió mùa đông bắc quét qua những tán xà cừ cổ thụ trên phố Tràng Thi, cuốn theo những đám lá khô xào xạc rượt đuổi nhau trên mặt đường nhựa xám xịt. Hà Nội những ngày chớm đông mang một vẻ u trầm đặc quánh, bầu trời như một tấm vải bạt màu chì sà thấp xuống những nóc nhà cao tầng. Khang cắm hai bàn tay lạnh ngắt vào túi chiếc áo khoác kaki sờn cũ, từng bước chân rảo nhanh qua làn sương mù ẩm ướt đang len lỏi vào từng ngóc ngách của phố thị.

Lời đe dọa rít qua kẽ răng của Đặng Văn Khiêm vẫn ong ong dội lại trong màng nhĩ anh như một thứ tạp âm buốt nhói: “Đừng để kết cục của mình giống hệt cha cậu mười lăm năm trước!”

Mười lăm năm. Suốt một phần vạn ngày đêm đằng đẵng, Khang đã lớn lên cùng sự vắng mặt của cha, cùng ánh mắt ngóng vọng đến mòn mỏi của mẹ bên quán trà chén đầu ngõ, và cùng những lời xì xầm độc địa của miệng đời về một kiến trúc sư tài ba bỗng dưng bốc hơi không tung tích. Người ta bảo ông ôm tiền công trình bỏ trốn, kẻ ác ý hơn thì đồn ông quẫn trí nhảy cầu tự vẫn vì một sai sót kết cấu không thể cứu vãn. Nhưng sâu thẳm trong tiềm thức, Khang chưa từng tin vào những lời thêu dệt ấy. Và giờ đây, chiếc mặt nạ đạo mạo của Viện phó Khiêm vừa nứt toác, làm lộ ra một góc bóng tối kinh hoàng của quá khứ.

Cha anh không hề bỏ trốn. Ông đã bị bức hại, hoặc ít nhất, đã bị dồn vào chân tường bởi chính liên minh đen tối đang tìm cách nuốt chửng Cụm biệt thự Hoa Tiêu hôm nay.

Cơn đau nửa đầu do dư chấn của lần kích hoạt dị năng đêm qua vẫn âm ỉ nhức nhối sau gáy, kéo theo cảm giác sốt lạnh râm ran nơi sống mũi. Khang không về nhà. Anh sợ ánh mắt nhạy cảm đầy âu lo của mẹ sẽ nhận ra sự khác thường trên gương mặt tái nhợt và khóe môi khô khốc của mình. Bước chân vô thức đưa anh rời khỏi vùng lõi bê tông ngột ngạt của phố thị, rẽ vào con đường đê hun hút gió dẫn về làng cổ An Trạch.

Qua khỏi cổng làng bằng đá ong lỗ chỗ rêu phong, nhịp sống bỗng chốc chậm lại như bước qua một lằn ranh thời gian vô hình. Con ngõ lát gạch nghiêng đỏ au dẫn sâu vào làng, hai bên là những bức tường gạch vồ bám đầy rêu ẩm tỏa ra mùi ngai ngái quen thuộc của đất và mưa phùn. Tiếng còi xe inh ỏi ngoài đại lộ bị chặn đứng lại sau lũy tre ngà xào xạc. Đi thêm chừng hai trăm mét về phía cuối con ngõ sát mép đầm sen cạn, mùi hương nồng ấm đặc trưng của dầu tràm, mùi hăng hắc của nhựa thông và mùi ngọt dịu của mùn cưa mới bào đã ùa ra đón Khang.

Đó là xưởng mộc của cụ Ba Luân.

Gian xưởng thực chất là một nếp nhà gỗ xoan ba gian hai chái cổ kính, mái ngói mũi hài đã chuyển sang màu nâu sẫm, phủ kín những mảng rêu xanh mướt như nhung. Dưới khoảng sân rộng lót gạch Bát Tràng, những thân gỗ lim, gỗ sến, gỗ mít xẻ khối nằm ngay ngắn bên cạnh những giàn rui mè được xếp gối đầu lên nhau để hong gió. Không có tiếng gầm rú chói tai của máy cắt công nghiệp, không gian xưởng chỉ vang lên những thanh âm trầm bổng, khoan thai của nghề mộc thủ công: tiếng xước giòn tan của lưỡi bào thép lướt trên mặt gỗ, tiếng đục gõ cốc… cốc… nhịp nhàng dứt khoát, và tiếng chổi tre quét dăm gỗ sàn sạt trên nền đất nện.

Cụ Ba Luân đang đứng bên chiếc bàn thợ dài đóng bằng gỗ nghiến dày cộp. Cụ đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc trắng như cước búi gọn sau gáy theo lối cổ, lưng hơi còng nhưng đôi bờ vai vẫn nở nang, rắn rỏi như hai khối rễ cây cổ thụ. Cụ mặc chiếc áo cánh nâu sòng đã bạc màu ở hai bên nẹp áo, ống tay xắn cao để lộ đôi cẳng tay gân guốc, chằng chịt những vết sẹo do đầu đục và lưỡi cưa để lại qua nửa thế kỷ bầu bạn với gỗ.

Nghe tiếng bước chân ngập ngừng dừng lại ngoài bậu cửa, cụ Ba không ngẩng đầu lên, tay vẫn giữ chặt chiếc bào tay bằng gỗ trắc, đi một đường thẳng tắp đẩy ra một dải phoi gỗ mỏng tang, xoăn tít như cánh hoa cúc:

“Thằng Khang đấy à? Bước chân nặng như đeo đá thế kia, tâm không tịnh thì đừng có mó tay vào gỗ, hỏng hết thớ đấy con.”

Giọng cụ trầm vang, ấm áp như tiếng mõ gỗ lim giữa đêm khuya.

Khang khẽ thở dài, bước qua bậu cửa gỗ lim bóng loáng vết chân người qua lại. Anh cởi chiếc ba lô vải bạt sờn rách đặt lên một súc gỗ mít ven tường, hai tay chắp lại vòng trước ngực theo thói quen cung kính từ thuở mới theo cụ học việc:

“Con chào cụ Ba.”

Cụ Luân dừng tay bào, với lấy chiếc khăn vắt trên vai lau mồ hôi trán, rồi đưa đôi mắt sắc sảo ẩn sau hàng lông mày bạc rậm rạp nhìn Khang. Ánh mắt cụ lướt qua gương mặt hốc hác, vành mắt thâm quầng và vệt máu cam đã khô nơi cánh mũi của anh. Cụ khẽ nhíu mày, không hỏi anh vừa đi đâu hay làm gì, chỉ buông một câu cộc lốc nhưng chứa chan sự xót xa:

“Lại dùng cái món ‘nghe ngóng’ bậy bạ ấy rồi đúng không? Đã dặn bao nhiêu lần, mắt thịt nhìn đời còn chưa thấu, hơi đâu đi vắt kiệt tủy sống để nghe những chuyện oan khiên của mộc thạch? Ngồi xuống đấy!”

Cụ chỉ tay vào chiếc đôn gỗ bên cạnh chiếc bàn trà xẻ từ một gốc mít cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Cụ với lấy chiếc ấm tích ủ trong giành mây bọc vải vụn, rót ra một bát nước chè xanh sóng sánh màu hổ phách, khói bốc lên nghi ngút mang theo vị thơm ngọt chát đặc trưng của lá chè tươi hái ngoài vườn đình. Cụ thả vào bát chè một lát gừng tươi đập dập rồi đẩy về phía Khang:

“Uống đi cho ấm tỳ vị. Khí lạnh ngấm vào xương rồi đấy.”

Khang đón lấy bát nước, hai lòng bàn tay áp chặt vào thành bát gốm thô nhám. Hơi nóng và vị cay nồng của gừng tươi từ từ xua đi cơn run rẩy nơi đầu ngón tay. Anh nhấp một ngụm nhỏ, để dòng nước ấm râm ran trôi xuống cuống họng, làm dịu đi cảm giác tanh tao còn sót lại nơi đáy phổi.

Chờ Khang uống cạn nửa bát nước chè, cụ Ba Luân mới thong thả châm một que diêm vào chiếc điếu bát bằng đồng hun. Khói thuốc lào Tiên Lãng cuộn lên trắng xóa, bảng lảng quanh những vì kèo gỗ cổ kính rồi tan dần qua kẽ ngói.

“Có chuyện gì lớn xảy ra ngoài phố rồi phải không?” Cụ Ba nhả khói, giọng chùng xuống. “Sáng nay ở chợ, người ta kháo nhau ầm ĩ về cái quyết định phá dỡ khu nhà Pháp bên Tràng Thi. Lại còn có mấy thằng mặt mũi bặm trợn, mặc áo vest đen lảng vảng quanh cổng đình làng mình, mắt cứ dòm ngó mấy cột đá với giếng ngọc.”

Khang đặt bát nước xuống mặt bàn mít vàng óng. Anh không trả lời ngay mà thò tay vào túi áo trong, cẩn thận lấy ra chiếc khăn tay bọc kín mẩu dăm gỗ lim đã bị cháy xém cạnh mà anh thu thập được từ đêm đột nhập vào Biệt thự số 1. Cùng với nó, Khang mở cuốn sổ tay bìa da, lật đến trang vẽ chi tiết cấu trúc liên kết ngầm giữa chân cột cái và dầm sàn mà anh đã thức trắng đêm qua để dựng lại từ những mảnh ký ức vụn vỡ.

“Cụ Ba, cụ nhìn giúp con cái này.”

Khang mở chiếc khăn tay, đặt mẩu dăm gỗ sẫm màu lên mặt bàn, rồi đẩy cuốn sổ tay về phía người thợ mộc già.

Cụ Ba Luân liếc nhìn mẩu gỗ, ban đầu chỉ là ánh mắt tò mò thông thường. Nhưng ngay khi ngón tay thô ráp của cụ chạm vào mép cắt sắc ngọt của dăm gỗ và ngửi thấy mùi dầu máy cùng mạt sắt vương lại, sắc mặt cụ bỗng biến đổi. Cụ với chiếc kính lão gọng đồi mồi cài trên mái tóc, đeo vào mắt rồi cúi sát xuống trang giấy vẽ của Khang.

Trên trang giấy can trắng, những nét chì sắc sảo, chuẩn xác đến từng mi-li-mét hiện lên một hệ thống mộng gỗ phức tạp đến kỳ lạ. Đó không phải là kiểu liên kết ngàm mộng đơn giản thường thấy trong các biệt thự kiểu Pháp, cũng không phải mộng đuôi én hay mộng khấu thông thường của nhà rường truyền thống.

Đó là một khối mộng kép: phần lõi bên trong là mộng thắt hình cánh cung ôm khít lấy chốt âm, nhưng phần vỏ bao bên ngoài lại được xẻ rãnh trượt đa hướng, kết hợp với một lớp đệm bằng đá phiến mỏng kẹp giữa các nêm gỗ lim hình nêm giật cấp.

Bàn tay cầm kính lão của cụ Ba Luân bỗng nhiên run rẩy. Hàng mi bạc của cụ giật liên hồi, đôi mắt già nua mở to đầy kinh ngạc lẫn bàng hoàng. Cụ nhìn chằm chằm vào bản vẽ, rồi lại nhìn mẩu dăm gỗ, hơi thở bắt đầu trở nên dồn dập.

“Cái này… cái mộng này…” Giọng cụ Ba nghẹn lại, khàn đặc như có dăm bào mắc trong cổ họng. “Mày… mày vẽ cái này ở đâu ra?”

“Ở ngay trong lòng cột cái gian tiền sảnh căn biệt thự Hoa Tiêu số 1, phố Tràng Thi, thưa cụ,” Khang khẽ đáp, ánh mắt không rời khỏi phản ứng của người thầy. “Con đã chạm vào nó. Kẻ nào đó đã dùng máy khoan rút lõi kim cương khoét sâu vào thân gỗ, cố tình cắt đứt chiếc chốt hãm trung tâm rồi trát vữa xi măng lên để ngụy tạo một vết nứt gãy cơ học. Nhưng con không hiểu… tại sao bên trong một công trình thuộc địa xây từ năm 1912, lại có thể tồn tại một kết cấu mộng tinh vi đến mức này? Nó không hề có trong bất kỳ tài liệu lưu trữ nào của trường phái kiến trúc Đông Dương.”

Cụ Ba Luân buông chiếc kính lão xuống mặt bàn. Cụ ngửa đầu ra sau, nhắm nghiền hai mắt lại, ngực phập phồng như đang cố nén một cơn sóng lòng dữ dội. Trong gian xưởng tĩnh lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa chớp và tiếng thở dài trĩu nặng nghìn cân của người thợ già.

Mãi một lúc sau, cụ mới mở mắt ra, nhìn Khang với một ánh nhìn chất chứa nỗi bi thương sâu thẳm:

“Nó không có trong tài liệu của người Pháp… bởi vì nó không phải do người Pháp làm ra.” Cụ Ba chỉ ngón tay run rẩy vào tâm điểm của bản vẽ, nơi hai chiếc ngàm gỗ lồng vào nhau như hai bàn tay đan chặt. “Đây là ‘mộng thắt âm dương cửu khúc’. Một biến thể tuyệt mật của kỹ thuật mộc chùa chiền thế kỷ mười tám, kết hợp với nguyên lý triệt tiêu xung lực của con lắc ngược. Cả cái đất Bắc Hà này, suốt một trăm năm qua, chỉ có đúng một người nghĩ ra được cách cải biến nó để cấy vào nền móng hỗn hợp gạch vữa của Tây học…”

Trái tim Khang bỗng thắt lại, đập mạnh liên hồi vào lồng ngực:

“Là ai hả cụ?”

“Là cha mày. Thầy Trần Minh!”

Cụ Ba Luân đập mạnh bàn tay xuống bàn trà mít. Chiếc bát nước chè nảy lên, nước sóng ra mặt bàn gỗ bóng loáng.

Khang sững sờ, toàn thân như bị sét đánh ngang tai. Anh chết lặng, nhìn chằm chằm vào những nét vẽ của chính mình trên trang giấy.

“Cha con…?” Khang lẩm bẩm, giọng lạc đi. “Căn biệt thự ấy xây từ hơn một thế kỷ trước, làm sao cha con có thể…”

“Năm 1998!” Cụ Ba ngắt lời, giọng cụ rung lên vì xúc động. “Đó là năm thành phố có chủ trương đại trùng tu và gia cố Cụm biệt thự Hoa Tiêu để làm bảo tàng quy hoạch. Khi ấy, cha mày là chủ trì khảo sát kết cấu. Chính ông ấy phát hiện ra rằng, cụm biệt thự đó và toàn bộ dải đất kéo dài từ Tràng Thi chạy thẳng về làng An Trạch này nằm trên một túi bùn cổ và một đới đứt gãy địa chất ngầm của nhánh sông Tô Lịch thời cổ đại.”

Cụ Ba đứng dậy, chắp tay sau lưng, chậm rãi bước về phía góc xưởng, nơi dựng một chiếc tủ gỗ gụ cũ kỹ khảm ốc xà cừ đã bong tróc:

“Hồi đó, người ta tính dùng cọc nhồi bê tông đại trà để ép xuống, nhưng cha mày kiên quyết phản đối. Ông ấy bảo, nếu đóng cọc bê tông với chấn động mạnh, toàn bộ hệ thống túi nước ngầm sẽ sụt lún, kéo theo sự đổ vỡ của toàn bộ tầng văn hóa khảo cổ và làm nứt toác móng của Đình An Trạch cách đó một cây số. Hai khu vực này, phần nổi tuy cách nhau bởi phố xá, nhưng phần ngầm dưới lòng đất lại là một thể liên hoàn, tựa như hai đầu của một chiếc đòn gánh.”

Cụ Ba quay lại, ánh mắt rực lên ngọn lửa của ký ức:

“Thế là cha mày tìm về đây. Suốt ròng rã sáu tháng trời, ông ấy ăn ngủ ngay tại cái xưởng mộc này, cùng tao cưa từng khúc gỗ lim, đục từng cái mộng thử nghiệm. Ông ấy muốn tìm ra một giải pháp ‘mềm’: dùng chính gỗ lim lõi kết hợp mộng thắt âm dương để cấy ngầm vào chân móng gạch vôi của người Pháp. Gỗ lim ngâm trong môi trường yếm khí dưới túi bùn sẽ hóa thạch, dẻo dai vô cùng. Khi có chấn động hay địa tầng dịch chuyển, các khớp mộng này sẽ co giãn như những chiếc khớp xương của con người, tự triệt tiêu lực uốn mà không làm nứt vỡ kết cấu bên trên! Đó là một công trình vĩ đại, một kiệt tác bảo tồn chưa từng có tiền lệ!”

Từng lời của cụ Ba Luân như những nhát búa gõ thẳng vào tâm trí Khang, xua tan đi màn sương mù u tối bấy lâu nay.

Mã khảo sát năm 1998 bị tẩy xóa trên hồ sơ của Khiêm.

Vết cưa kim cương cố tình cắt đứt chốt mộng.

Những số liệu độ cứng bị đổi dấu trên mô hình tính toán 3D của Thịnh Phát.

Tất cả đã xâu chuỗi lại thành một bức tranh hoàn chỉnh đến rợn người! Cụm biệt thự Hoa Tiêu không hề bị mục ruỗng hay già cỗi. Ngược lại, nó đang mang trong mình một trái tim kết cấu vô cùng kiên cố do chính cha anh tạo ra bằng cả mồ hôi và trí tuệ mười lăm năm trước. Bọn chúng buộc phải phá hủy cái chốt mộng âm dương ấy, bởi chừng nào nó còn tồn tại, công trình đó sẽ không bao giờ có thể tự sụp đổ, và cái nhãn “nguy hiểm cấp độ D” sẽ mãi mãi chỉ là một trò hề lố bịch!“Vậy tại sao…” Khang nghẹn ngào, hai mắt cay xè. “Tại sao sau đợt trùng tu đó, hồ sơ lại biến mất? Tại sao cha con lại…”

“Bởi vì lòng tham của loài lang sói!” Cụ Ba nghiến răng, những thớ cơ trên gương mặt già nua giật giật. “Khi công trình vừa hoàn thành phần gia cố móng thì một tập đoàn địa ốc mới nổi lúc bấy giờ – chính là tiền thân của cái lũ Thịnh Phát bây giờ – nhòm ngó khu đất vàng ấy để làm dự án thương mại. Chúng muốn mua chuộc cha mày ký vào một biên bản khống, xác nhận rằng giải pháp mộng gỗ thất bại, địa chất sụt lún nghiêm trọng, cần phải giải tỏa trắng toàn bộ khu đất. Nhưng tính cha mày, mày biết rồi đấy… Cứng cỏi như thanh sắt nguội, thà gãy chứ không chịu uốn cong!”

Đúng lúc đó, từ ngoài ngõ vẳng đến tiếng rồ ga giòn tan của một chiếc xe máy phân khối nhỏ, kéo theo tiếng lạo xạo của bánh xe nghiến trên gạch vỡ.

Khang giật mình quay phắt lại. Cụ Ba Luân cũng khựng lại, đôi mắt sắc lạnh hướng ra phía cổng tre.

Chiếc xe dừng hẳn trước xưởng. Tiếng chân bước vội vã, tiếng kim loại va chạm lách cách quen thuộc của những chiếc móc khóa máy ảnh vang lên. Một bóng người mảnh khảnh khoác chiếc áo gió màu xanh rêu, đầu đội mũ bảo hiểm nửa đầu nhanh nhẹn bước qua cánh cổng.

Là Mai Linh.

Khuôn mặt cô đỏ ửng vì gió lạnh, lọn tóc ngắn ngang vai ướt đẫm sương mù bết vào hai bên gò má. Nhưng đôi mắt cô thì sáng rực lên một thứ ánh sáng sắc bén, quả quyết. Trên tay cô không phải là chiếc máy ảnh tác nghiệp thường ngày, mà là một chiếc cặp da bò cũ kỹ, các góc đã sờn rách, được ôm chặt trước ngực như một báu vật sinh mạng.

Thấy Khang đang ngồi bên bàn trà, Linh thở phào một hơi dài, làn khói mỏng từ miệng cô phả ra tan vào không khí lạnh buốt:

“May quá, anh vẫn ở đây! Tôi đã đến ngõ nhà anh nhưng thấy quán trà của bác gái đóng cửa, đoán là anh sẽ tìm về làng An Trạch.”

Khang đứng dậy, bước tới đón lấy chiếc cặp da nặng trĩu trên tay cô:

“Sao cô biết tôi ở đây? Có ai theo dõi cô không?”

“Tôi cắt đuôi được hai tên đi xe máy bám theo từ cơ quan rồi mới dám vòng qua đường đê,” Linh nói nhanh, đưa tay quẹt ngang trán lau mồ hôi, rồi quay sang cúi đầu chào cụ Ba Luân với vẻ vô cùng lễ phép: “Cháu chào cụ Ba ạ. Cháu xin lỗi vì đã đường đột xông vào xưởng mộc của cụ.”

Cụ Ba Luân nhìn cô gái trẻ với ánh mắt dò xét nhưng nhanh chóng dịu lại trước sự cương trực toát ra từ vầng trán cao và đôi mắt sáng ngời của cô:

“Không sao, cô bé. Vào đây uống bát nước chè cho ấm người đã. Gió ngoài đê độc lắm.”

Linh bước vào, không kịp ngồi xuống ghế, cô đặt chiếc cặp da lên mặt bàn mít, ngay cạnh bản vẽ mộng gỗ của Khang và mẩu dăm gỗ lim. Đôi bàn tay thon thả của cô khẽ run lên khi mở chiếc khóa đồng đã rỉ sét của chiếc cặp.

“Khang, anh hãy xem cái này đi,” Linh nói, giọng cô run lên vì xúc động và phẫn uất. “Sáng nay, sau khi nghe tin anh từ chức ở Viện, tôi đã về thẳng nhà cũ của bố tôi ở khu tập thể Nam Đồng. Tôi đã lục tung căn gác xép, mở chiếc rương sắt mà suốt mười lăm năm qua mẹ tôi không bao giờ cho ai đụng tới. Và tôi đã tìm thấy toàn bộ nhật ký công tác cùng tập tài liệu lưu trữ mật của bố tôi trước ngày ông bị ép về hưu non.”

Khang nín thở, cẩn thận đỡ lấy tập hồ sơ được bọc trong một lớp giấy dầu đã ố vàng vì thời gian. Dòng chữ nắn nót bằng mực Cửu Long màu xanh đen trên trang bìa đập vào mắt anh: Tài liệu Thanh tra Quy hoạch tuyến Tràng Thi – An Trạch (Giai đoạn 2008 – 2009) – Thanh tra viên: Mai Văn Vĩnh.

Khang lật từng trang giấy giòn rụm. Từng con số, từng dòng nhật ký viết tay của cựu thanh tra Mai Văn Vĩnh hiện ra như một cuốn biên niên sử đẫm máu và nước mắt:

“Ngày 12 tháng 11 năm 2008: Tiếp nhận báo cáo kỹ thuật từ KTS Trần Minh về phương án bảo tồn móng mộng gỗ cụm biệt thự Hoa Tiêu và mối liên kết thủy văn ngầm với Đình An Trạch. Đánh giá: Công trình có giá trị khoa học và di sản đặc biệt xuất sắc, bảo đảm an toàn kết cấu tuyệt đối.”

“Ngày 05 tháng 12 năm 2008: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Thịnh Phát (đại diện: Hoàng Triệu Tuấn) gửi công văn đề xuất điều chỉnh quy hoạch, muốn biến toàn bộ khu đất Hoa Tiêu thành tổ hợp trung tâm thương mại. Họ ngỏ ý gửi một phong bì dày. Tôi từ chối thẳng thừng.”

“Ngày 18 tháng 12 năm 2008: KTS Trần Minh bị cô lập tại Viện Quy hoạch. Phó Viện trưởng Khiêm câu kết với Tuấn, cố tình làm sai lệch số liệu trắc địa, ép Trần Minh phải rút lại báo cáo kỹ thuật. Minh nói với tôi: ‘Nếu họ san phẳng nơi này, mạch ngầm tâm linh và kiến trúc của thành phố sẽ đứt gãy. Tôi sẽ giữ bản vẽ gốc bằng mọi giá’.”

“Ngày 15 tháng 1 năm 2009: Tôi bị đình chỉ công tác với lý do ‘thiếu tinh thần hợp tác và có dấu hiệu nhận hối lộ’. Một chiếc bẫy tinh vi do Khiêm và Tuấn giăng ra. Cùng ngày, Trần Minh hẹn gặp tôi tại xưởng mộc An Trạch để bàn giao bản sao hồ sơ kết cấu gốc…”

Đến đây, nét chữ của trang nhật ký bỗng nguệch ngoạc, run rẩy và nhòe đi bởi những giọt nước mắt đã khô từ mười lăm năm trước:

“Ngày 16 tháng 1 năm 2009: Trời mưa tầm tã. Trần Minh không đến chỗ hẹn. Chiếc xe U-oát của anh ấy được tìm thấy dưới lòng vực sâu ven đê sông Hồng, xe bị cháy rụi, không thấy thi thể. Bọn chúng đã ra tay rồi. Chúng đã giết anh ấy. Tôi là kẻ hèn nhát… tôi không bảo vệ được sự thật… tôi phát điên mất…”

Tập tài liệu rơi khỏi tay Khang, rớt xuống mặt bàn trà.

Căn xưởng mộc chìm vào một sự im lặng chết chóc. Chỉ có tiếng gió đông bắc rít từng hồi ngoài hiên nhà, va vào những thanh gỗ treo trên rui mè phát ra những tiếng kêu ken két lạnh người.

Mai Linh cắn chặt môi đến mức ứa máu, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu lăn dài trên đôi gò má tái nhợt:

“Bố tôi không hề điên vì bệnh tật, Khang à… Ông phát điên vì sự bất lực, vì nỗi dằn vặt khôn nguôi khi phải trơ mắt nhìn người đồng chí, người bạn chí cốt của mình bị sát hại mà không thể làm gì được. Mười lăm năm qua, ông sống như một cái bóng trong ngôi nhà tăm tối ấy, ngày nào cũng lẩm bẩm về những chiếc mộng gỗ, về bản vẽ gốc và về cái chết của cha anh!”

Khang từ từ nhắm mắt lại. Trong bóng tối của tâm trí, những mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng va đập vào nhau, khớp lại một cách hoàn hảo và tàn nhẫn.

Người cha kính yêu của anh không hề bỏ rơi gia đình. Ông đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ những giá trị văn hóa của mảnh đất này, bảo vệ sự bình yên cho ngôi làng cổ An Trạch. Và cái giá mà ông phải trả là một vụ tai nạn ngụy tạo dưới đáy vực sâu, để lại người vợ trẻ mòn mỏi bên chén trà nguội lạnh và đứa con thơ ngơ ngác lớn lên trong sự kỳ thị của người đời.

Một ngọn lửa căm hờn xen lẫn niềm tự hào bi tráng bùng lên từ tận đáy lòng Khang, thiêu đốt mọi sự e dè, sợ hãi và mặc cảm tự ti từng giam cầm anh suốt thời trai trẻ.

Khang mở mắt ra. Đôi mắt thâm trầm thường ngày giờ đây ánh lên một tia sáng sắc lạnh, kiên định như lưỡi đục thép tôi qua lửa đỏ. Anh nhìn sang Mai Linh, nhìn vào đôi mắt đẫm lệ nhưng rực lửa căm hờn của người con gái đang đứng trước mặt mình.

“Bản vẽ gốc…” Khang cất tiếng, giọng anh trầm thấp nhưng chắc nịch như đinh đóng vào gỗ lim. “Bản vẽ kết cấu gốc của cha tôi vẫn còn tồn tại. Khiêm và Tuấn chưa bao giờ tìm thấy nó, đó là lý do vì sao suốt mười lăm năm qua, chúng không dám đụng đến căn biệt thự Hoa Tiêu cho đến tận bây giờ!”

Cụ Ba Luân gật đầu, ánh mắt già nua long lanh ngấn lệ:

“Đúng thế! Minh từng nói với tao, bản vẽ đó không chỉ là một tập hồ sơ kỹ thuật, nó là chìa khóa duy nhất chứng minh sự tồn tại của hệ thống mộng thắt âm dương và tầng địa chất di chỉ dưới chân đình An Trạch. Ông ấy đã giấu nó ở một nơi mà chỉ có người hiểu được linh hồn của gỗ, hiểu được kết cấu của công trình mới có thể tìm ra.”

Trên tấm bàn trà xẻ từ thân cây mít cổ thụ, hai mảnh ghép định mệnh – bản phác thảo mộng gỗ của Khang và tập tài liệu thanh tra của cha Linh – nằm cạnh nhau, vừa khít như một cặp mộng âm dương hoàn hảo sau mười lăm năm lưu lạc giữa dòng đời dâu bể.

Khang vươn tay ra. Bàn tay thô ráp, chai sần vì đục đẽo của người kiến trúc sư phục chế khẽ chạm vào bàn tay run rẩy nhưng ấm áp của cô phóng viên điều tra.

Mai Linh không rụt tay lại. Cô siết chặt lấy những ngón tay rắn rỏi của Khang.

Hai bàn tay siết chặt lấy nhau trên mặt gỗ mít vàng óng, giữa mùi hương tràm nồng ấm và bụi mùn cưa bay lãng đãng trong ánh chiều tà. Không cần một lời thề thốt hoa mỹ, không cần những khẩu hiệu đao to búa lớn, một liên minh điều tra độc lập đã chính thức được thiết lập ngay tại góc xưởng mộc ven làng cổ – một liên minh gắn kết bởi danh dự của hai người cha, bởi lương tri của những người trẻ tuổi và bởi trách nhiệm thiêng liêng với những ký ức ngàn năm của xứ sở này.

“Chúng ta sẽ đưa mọi thứ ra ánh sáng,” Khang nhìn thẳng vào mắt Linh, từng chữ thốt ra đều mang sức nặng của ngàn cân sắt đá. “Dù kẻ thù là Hoàng Triệu Tuấn, Đặng Văn Khiêm hay cả cái Tập đoàn Thịnh Phát, tôi cũng sẽ không lùi bước.”

“Tôi sẽ đi cùng anh đến cùng,” Linh siết chặt tay anh hơn, gật đầu dứt khoát. “Ngòi bút của tôi và đôi bàn tay của anh… chúng ta sẽ đòi lại công lý cho hai người cha.”

Cụ Ba Luân nhìn hai người trẻ tuổi, khẽ mỉm cười gật đầu, một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt khắc khổ đầy nếp nhăn. Cụ với tay kéo chiếc đèn bão treo trên vì kèo xuống, châm lửa. Ánh sáng vàng rực bùng lên, xua tan đi màn đêm đang bắt đầu xâm lấn gian xưởng mộc.

Nhưng ba người trong nếp nhà gỗ ấm áp không hề hay biết rằng, ngoài con ngõ lát gạch nghiêng sâu hun hút của làng cổ An Trạch, sương chiều buông xuống dày đặc như một tấm màn tang tóc.

Dưới bóng râm của cây bàng còi cọc ven rặng tre, chiếc xe máy tay ga màu đen không biển số nãy giờ vẫn đỗ lặng lẽ trong góc khuất. Hai gã đàn ông mặc áo khoác gió tối màu, mũ lưỡi trai kéo sụp che khuất nửa khuôn mặt, đang chăm chú dán mắt qua khe hở của bờ rào dâm bụt nhìn vào gian xưởng rực sáng ánh đèn.

Gã ngồi sau rút từ trong túi áo ra một chiếc điện thoại thông minh, bấm một dãy số gọi nhanh rồi áp vào tai. Giọng gã the thé, thì thào trong tiếng gió bấc gầm rú:

“Báo cáo sếp… Đúng như dự đoán của ông Khiêm. Thằng Khang đã gặp con ranh phóng viên ở xưởng mộc lão Ba Luân… Chúng nó đang cầm tài liệu gì đó…”

Đầu dây bên kia im lặng trong một giây ngắn ngủi, rồi một giọng nói trầm đục, lạnh tanh như kim loại cất lên:

“Theo sát chúng nó. Đêm nay, làm cho cái xưởng mộc ấy biến mất khỏi mặt đất.”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn