Ký Sự Nguyệt Hoè Thụ - Tung Hổ Khứu Hoa
Chương 61: Kết
Vườn của chúng tôi.
Nhà chúng tôi có một mảnh vườn.
Khu vườn ấy đã có từ năm tôi mới đến. Khu vườn của nhà tôi lúc nào cũng náo nhiệt. Từ xuân sang đông, tháng nào cũng có cái sự rộn ràng riêng của nó. Những cây hành non khi mới trồng xuống thì nằm rạp ra đất, chẳng biết đến một ngày nào đó nó bỗng đứng thẳng dậy, vươn cao lên. Giàn đỗ vừa dựng xong, chẳng biết từ lúc nào đã leo đầy lá xanh, lá càng mọc càng dày, rồi treo lủng lẳng những quả đỗ dài, thẳng tắp. Những quả ớt trông thì thanh mảnh, đầu nhọn hoắt, ấy thế mà hễ ai ăn vào là miệng liền xuýt xoa lên vì sưng, vì cay. Trong vườn nhà tôi toàn trồng những loại rau củ bình dị, mùa đông lụi tàn, mùa xuân lại trồng tiếp. Chỉ riêng có bạc hà là chẳng ai gieo, cứ mỗi độ xuân về là nó tự mọc lên, phủ kín mít một mảng, để già thì ăn không ngon nữa. Bạc hà nhiều quá ăn không xuể, cứ để già đi cả đám, nhưng cũng chẳng sao, sang năm chúng lại lặng lẽ mọc lên mời gọi người ta đến hái.
Có người sẽ thắc mắc, mùa đông vườn tàn lụi thì náo nhiệt nỗi gì? Châu chấu chẳng nhảy, chuồn chuồn không bay, ngay cả con chó cũng chui vào đống thân ngô mà ngủ. Thế nhưng khi tuyết rơi xuống, lũ sẻ ngô lại xuất hiện, chúng dẫm lên tuyết thành những vết chân nhỏ xíu. Lũ sẻ mùa đông không còn mảnh mai như mùa hè, chúng trộm ăn hạt ngô của người ta nên bụng tròn căng, lại còn hay rũ lông ra vẻ ta đây là tiểu thư đài các lắm. Khu vườn mùa đông có lũ sẻ thì sẽ không bao giờ cô quạnh. Chim sẻ không di cư như chim én, thế nên én chẳng bao giờ béo được, lúc nào trông cũng uyển chuyển, linh hoạt.
Về việc chăm sóc khu vườn này, tôi và anh ba đều cực kỳ có kinh nghiệm. Chúng tôi đã tích lũy vốn liếng ấy suốt mười một năm trước đó. Sau khi tôi trở về từ Mỹ năm 1986 để giải quyết xong xuôi tạp sự, chúng tôi lại tiếp tục trông nom mảnh vườn này. Nhổ cỏ, bón phân, dựng giàn. Chúng tôi bảo trong vườn chỉ có rau thì đơn điệu quá, bèn mang từ tỉnh lỵ về mấy gốc hoa cúc loại tốt, trồng vào một góc. Khi hoa cúc nở, sắc vàng rực rỡ kết lại thành những đóa cầu to lớn, tròn đầy vô cùng. Người ta đi qua nhìn thấy đều trầm trồ: “Hoa cúc nhà này nở đẹp quá, to quá!”. Người ở Nguyệt Hòe Thụ khi đã ăn no cái bụng thì bắt đầu muốn hướng đến cái đẹp, họ cũng muốn trồng cúc. Anh ba bèn mời người ta lại chiết cành để họ mang về nhà tự trồng.
Mỗi năm, tôi và anh ba luôn tranh thủ về Nguyệt Hoè Thụ vài lần để chăm sóc vườn tược. Thấy hai đứa chúng tôi hì hục làm vườn nhiệt tình đến thế, người ta cũng ra vào bàn tán. Họ nói chúng tôi không có con cái nên mới đổ dồn tâm sức vào đó. Họ sai rồi, nếu chúng tôi có con, chúng tôi sẽ dắt con theo cùng chăm sóc mảnh vườn này. Con gái chú sáu Mã đã sinh đến đứa thứ ba rồi mà chúng tôi vẫn chẳng có chút động tĩnh nào. Người ta bảo không phải tại tôi có bệnh thì là tại anh ba có vấn đề, rồi thì phong thủy mộ tổ họ Chương không tốt, anh hai cũng không sinh được con. Nhưng anh cả vẫn sinh con đẻ cái bình thường đấy thôi, đâu thể bảo đàn ông nhà họ Chương có vấn đề được.
Tuy nhiên, sự thực là sau khi chạy đôn chạy đáo khắp các bệnh viện, bác sĩ bảo anh ba rất khó có con. Bạc hà trong vườn chẳng ai trồng mà mọc tràn lan khắp lối, còn tôi và anh ba lại hoàn toàn bất lực. Lúc đầu, tôi không muốn chấp nhận số phận, tôi không tin anh ba lại mang số khổ như vậy. Anh là người yêu trẻ con đến thế, anh nuôi nấng tôi trưởng thành, từng nuôi cả đứa bé không rõ cha ruột là ai, lại còn gánh vác việc học hành cho hai anh em Thủy Căn. Vậy mà số phận lại tước đi quyền làm cha của anh.
Có lẽ do gen nhà họ Chương, có lẽ do những năm tháng đó sức khỏe anh ba đã nhiều lần ở thế ngàn cân treo sợi tóc, hoặc cũng chẳng vì lý do gì cả, chỉ đơn giản là không thể, cái số ấy lại rơi trúng đầu anh ba. Khi đó, anh ba đã bắt đầu bắt tay vào việc tu sửa gia phả họ Chương. Nhà họ Chương vốn có gia phả, nhưng trải qua bao đời, tên tuổi của tổ tiên đã vĩnh viễn tan biến trong khói lửa chiến tranh, điều này từng khiến anh đau lòng khôn tả khi còn nhỏ. Anh đi hỏi thăm những bậc cao tuổi ở Nguyệt Hòe Thụ, nhưng họ đã quá già, dù cố gắng đến đâu cũng chỉ nhớ được đến đời ông bà của anh. Khi những con người già nua ấy ra đi, thì ngay cả hai ba đời đó cũng chẳng còn ai biết tới.
Anh ba nhiệt huyết tu sửa gia phả như vậy, nhưng khi gia đình anh cả về quê ăn Tết và nhắc đến chuyện này, mấy cô con gái của anh cả lại chẳng mấy mặn mà. Đối với họ, tổ tiên, quê quán đã quá xa vời, họ đặt chân lên đất Nguyệt Hòe Thụ chỉ vì người cha của mình. Một mai khi cha họ qua đời, mảnh đất này sẽ chẳng còn liên can gì đến họ nữa. Ký ức là của cha, nỗi nhớ quê là của cha, còn họ là thế hệ người Singapore mới rồi.
Tôi nhìn ra sự cô độc của anh ba. Nhất là lúc này, khi biết sự thật rằng mình không thể có con, việc tu sửa gia phả dường như càng không còn cần thiết. Tôi khích lệ anh tiếp tục làm, nỗi đau ẩn giấu trong mắt anh chỉ lóe lên một tia rồi biến mất không dấu vết. Anh là người có sức chịu đựng phi thường nhất mà tôi từng biết. Tôi vẫn không cam lòng, cùng anh sang Singapore, sang Mỹ, cuối cùng chúng tôi trở về Trung Quốc, chấp nhận số mệnh này.
Anh ba vì chuyện này mà dường như không dám đối diện với tôi, tôi không kìm được mà khóc nức nở. Cha mẹ và các anh của anh đều mất sớm, chỉ còn lại một người anh cả định cư ở nước ngoài. Tôi cứ nghĩ ông trời sao mà tàn nhẫn đến thế, không chịu cho anh ba một người thân ruột thịt máu mủ, không chịu cho anh có thêm chút niềm vui của cuộc sống. Trong sân, cây lựu chú Sáu trồng cho chúng tôi năm nào cũng đâm chồi nảy lộc, nở hoa đỏ rực như lửa, nhưng cái sắc đỏ ấy cũng thật tịch mịch làm sao.
Tôi lau khô nước mắt, ôm lấy anh và bảo không sao đâu, những năm trước chẳng phải chỉ có hai chúng mình sống nương tựa vào nhau đó sao? Khi ấy tôi mới mấy tuổi đầu, anh cũng mới chỉ là một thiếu niên, giờ đây cả hai đã trưởng thành, có gì mà phải sợ?
Chúng tôi vẫn dành thời gian về chăm sóc mảnh vườn ấy mỗi năm. Công việc của anh ba phức tạp, việc kinh doanh của tôi bận rộn, nhưng chúng tôi vẫn thích quay về Nguyệt Hòe Thụ chăm lo cho mảnh vườn.
Để thuận tiện đi lại, tôi học lái xe và sắm một chiếc Santana, chở anh đi lại cũng thấy rất sảng khoái. Những năm 90, ở Nguyệt Hòe Thụ người ta vẫn chủ yếu đi xe đạp, đi xa thì bắt xe khách. Thấy xe của tôi, ai nấy cũng đứng bên đường nhìn theo, miệng không ngừng nói những lời kiểu như: kiếm nhiều tiền mà không con không cái thì cũng vứt. Bản thân tôi không quan tâm, nhưng tôi sợ những lời đó khiến anh ba đau lòng. Nửa đời anh đã chịu quá nhiều khổ cực, thật không dễ dàng gì, tôi không nỡ để anh phải chịu thêm bất kỳ lời đàm tiếu nào nữa.
Anh ba thì vẫn bình thản và kiên nhẫn như xưa, đối đãi với người trong làng không bao giờ để lộ cảm xúc. Anh yêu đất đai, không ngại vất vả. Có những khi anh phải xuống vùng xã xa xôi, tôi lại lái xe đưa anh đi, cùng anh ăn ngủ ở những thị trấn nghèo, có khi nắng cháy da cháy thịt, có khi tuyết phủ trắng xóa. Nguy hiểm nhất là lần vào mùa hè năm 1992, vì lũ lớn mà suýt chút nữa hai đứa bị nước cuốn trôi. May mà cả tôi và anh đều giỏi bơi lội, bò được lên bờ với bộ dạng toàn bùn vàng, nhìn nhau mà không nhịn được cười ha hả.
Bản tính tôi vốn mạnh mẽ, không cam chịu thua kém ai, trên thương trường lòng người hiểm độc, đôi khi tôi không tránh khỏi việc nóng nảy, làm việc cực đoan. Anh ba đối với bất cứ việc gì tôi làm đều hết lòng ủng hộ. Anh hay đùa gọi tôi là Lê tổng, bảo tôi là thương gia, nhưng cũng chính anh là người đưa ra những lời khuyên ngăn, chỉnh đốn mỗi khi tôi hành xử không đúng mực. Người ta bảo giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, nhưng có anh ba ở bên, tính tình tôi trở nên điềm đạm hơn nhiều. Khi còn nhỏ tôi coi anh là cha mẹ, là anh trai, là người yêu, nhưng thực ra còn phải cộng thêm một điều nữa, anh là người thầy, là người bạn tốt của cuộc đời tôi.
Ở bên anh là thoải mái và hài lòng nhất, chẳng cần phải nói bất kỳ một lời dối trá nào. Anh đến tầm tuổi trung niên mà vẫn hay thẹn thùng. Đi họp ở tỉnh ngoài gọi điện cho tôi, tôi cố ý nói to rằng em nhớ anh thế này thế kia, đầu dây bên kia anh lại bẽn lẽn bảo em nói nhỏ thôi, có người đang ở bên cạnh đấy. Đồng nghiệp và bạn thân của anh đều biết hoàn cảnh của chúng tôi, họ cũng thường lo lắng thay cho chúng tôi về chuyện con cái.
Khác với những gì người ngoài nghĩ, tôi và anh ba dần dần đều buông bỏ được chuyện ấy, cuộc sống đâu chỉ có mỗi việc sinh con. Tuy vậy, đối diện với con cái nhà người khác, anh ba vẫn giữ một tấm lòng nồng hậu. Anh vẫn chu cấp cho hai anh em Thủy Căn ăn học, cả hai đứa đều có khiếu học hành, đó là điều rất hiếm ở Nguyệt Hòe Thụ. Con trai lớn của chị dâu không có tương lai trong việc học hành, anh ba lại tích cực liên hệ cho nó đi học nghề để có cái nghề kiếm cơm.
Khoảng năm 1993, Nguyệt Hòe Thụ bắt đầu rải đường nhựa, tôi cũng có đóng góp một khoản tiền. Trước khi khởi công, người ta mời tôi về cắt băng khánh thành, anh ba mừng cho tôi lắm, bảo tôi nên đi. Lúc đầu tôi còn lưỡng lự vì sợ mang tiếng thích nổi trội, tôi góp tiền không phải để người ta khen mình tốt, nhưng có anh ba khích lệ, tôi cũng thấy yên tâm mà đi.
Lần đó anh ba thực sự vui mừng. Chúng tôi hái rau trong vườn, lại ra chợ mua một cái đùi cừu thật lớn, mời cả nhà chú Sáu sang uống rượu ăn cơm. Chú Sáu mỗi lần tụ họp với chúng tôi, ngoài niềm vui ra thì thỉnh thoảng lại ngẩn người, chú nhìn anh ba với vẻ nuối tiếc khôn tả. Tôi biết chú tiếc chuyện gì nhưng không bao giờ nói ra. Tôi và anh ba sống không hề hư ảo, chúng tôi nương tựa vào nhau, an ủi lẫn nhau, tự tin rằng trên đường đời chẳng có khó khăn nào có thể đánh gục được hai đứa.
Những năm ấy, cây lựu năm nào cũng nở hoa và kết trái. Hoa đẹp, trái cũng sai, hạt lựu bên trong to mập, đỏ mọng, ngọt lịm. Năm 1997, Hồng Kông được trả về với đại lục, khắp nơi tưng bừng náo nức, người ở Nguyệt Hòe Thụ ai nấy đều dán mắt vào tivi xem lễ bàn giao. Tôi và anh ba khi ấy cũng ở đó, lúc về nhà dưới ánh trăng soi mới chợt nhận ra, cây lựu năm nay không nở hoa. Mọi năm nó vẫn nở hoa vào khoảng tháng bảy dương lịch.
Đến ban ngày, tôi và anh ba xem xét kỹ lại. Không chỉ là không nở hoa, dẫu không thiếu nước, không thiếu nắng, nhưng lá cây bỗng dưng úa vàng. Khi đó là tiết tháng bảy, trời nắng gắt, vạn vật đang lớn như thổi.
Anh ba nhìn cái cây rất lâu rồi nói một câu: “Cái cây này cành lá xơ xác, sinh khí tận rồi.” Vẻ mặt anh có chút xót xa. Hồi nhỏ anh hai thường dạy tôi đọc cổ văn, nghe thấy câu này, lòng tôi bỗng thấy buồn man mác. Tôi tự hỏi liệu cây lựu sắp chết rồi sao? Dù có trồng lại thì cũng không còn là gốc cây ấy nữa, nó đã gắn bó với mảnh sân này gần hai mươi năm.
Hồi nhỏ, người Nguyệt Hòe Thụ vẫn thường truyền tai nhau về những điềm báo trước chuyện chẳng lành: quạ kêu trên cành là điềm xấu, lỡ tay đánh chết chồn* là điềm gở. Nhà họ Chương không tin thần thánh, tôi dù cũng chẳng tin nhưng vẫn ghi nhớ trong lòng, thấy cây lựu đột nhiên như thế, trong lòng cảm thấy có điều không lành.
*Chồn này là giống chồn Triết Siberia. Người xưa tin nó có linh tính nên gọi kính là Hoàng Đại Tiên.
Tôi cứ ngỡ việc không thể có con đã là điều tàn nhẫn nhất mà định mệnh dành cho anh ba rồi.
Cuối năm 1997, mắt anh ba bắt đầu vàng đi, đó là biểu hiện triệu chứng của bệnh tật.
Vì là mùa đông, chúng tôi thường ăn thịt bò hầm cà rốt, tôi còn trêu anh có phải vì nhường hết thịt bò cho tôi, ăn nhiều cà rốt quá nên mặt mới vàng thế không. Chẳng ai nghĩ đến chuyện bệnh gan cả.
Những năm qua, dù công việc vất vả nhưng dưới sự giám sát của tôi, anh cũng rất chú ý giữ gìn sức khỏe. Hơn nữa, ở cái tuổi ngoài bốn mươi là lúc gặt hái thành tựu, anh ba đã hoàn thành hai công trình nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và đang tham gia cải tạo, quảng bá giống lúa mì mới. Trước kia tôi từng lo lắng cho sức khỏe của anh, nhưng sau này cuộc sống suôn sẻ nên cũng dần quên bớt. Đầu xuân năm 1998, mẹ tôi đột ngột qua đời, bà ra đi nhanh chóng như cha tôi năm nào. Chúng tôi bận rộn lo tang lễ, tôi nghĩ, bệnh tình của anh có lẽ đã bị nhỡ nhàng từ khi đó, mãi đến khi anh ngất xỉu ngay trên bờ ruộng tôi mới biết rằng bệnh tình của anh đã rất nghiêm trọng rồi.
Tôi vội vã đến bệnh viện, anh ba nói cho tôi biết trước cả bác sĩ rằng anh bị bệnh gan. Những năm 80, 90 ở Trung Quốc đại lục có không ít người mắc bệnh gan. Tôi không biết đã đến giai đoạn nào, nhưng sắc mặt anh ba vẫn rất bình thản. Anh vốn luôn như vậy, cuộc đời đưa đến cái gì thì anh nhận lấy cái đó, dù là tốt hay xấu. Anh không sợ hãi cái chết, nhưng sự lưu luyến với sự sống cũng mãnh liệt không kém.
Bác sĩ tìm tôi nói chuyện riêng, tôi nghe xong một cách chóng vánh rồi quyết định đưa anh ba sang Mỹ cầu y. Trên máy bay, anh ba thấy khó chịu, anh tựa vào vai tôi, tôi nắm chặt tay anh và nói rằng y học ở Mỹ rất phát triển, nhất định sẽ chữa khỏi bệnh cho anh.
Tôi và anh ba đều là những người có ý chí sắt đá. Đối diện với bệnh tật, chúng tôi sớm đã xác lập một tâm thế vững vàng nhất, không có thời gian để mà sầu thảm. Lúc này đã mười mấy năm kể từ lần cuối tôi rời Mỹ, Phùng Trường Canh đã giúp chúng tôi liên hệ bệnh viện. Thế nhưng trong lúc tôi đang ngược xuôi lo thủ tục, bỗng nghe tin cậu ta đã nhảy lầu tự sát. Cậu ta đầu tư thất bại, lại gặp đúng đống khủng hoảng tài chính. Anh ba đang lúc lâm bệnh vẫn rất buồn cho cậu ta, những chuyện cũ năm xưa theo đó mà hiện về rõ mồn một. Nhưng tôi không có thời gian để đau xót cho Phùng Trường Canh, bệnh tình anh ba không mấy lạc quan, bác sĩ ở Mỹ bảo chỉ có thể thử một phen.
Tôi bị câu nói đó đánh gục hoàn toàn. Nếu đến Mỹ cũng không còn hy vọng, tôi không biết phải đi đâu tìm hy vọng nữa? Điều tôi bấy lâu không dám suy xét sâu xa giờ không thể trốn tránh được nữa: Có phải do anh ba làm việc quá sức mà thành bệnh? Hay do những năm tháng gian khổ trước kia đã hủy hoại nền tảng sức khỏe của anh? Trong đó, có bao nhiêu phần là nỗi đau mà tôi đã mang lại cho anh? Có lẽ là cả hai. Nếu sớm biết sức khỏe anh sẽ đến nông nỗi này, tôi đã không để mười năm xa cách ấy xảy ra. Thế nhưng chuyện cũ khó vãn hồi, tôi không dám để anh nhìn thấy tôi khóc, như thế là quá yếu đuối. Bệnh tật như một con quái thú, chúng tôi không thể lộ ra nửa điểm yếu mềm để nó biết chúng tôi dễ bị bắt nạt.
Ở Mỹ, anh ba luôn cực kỳ hợp tác với bác sĩ. Anh là người giỏi chịu đựng đau đớn nhất, dù là tinh thần hay thể xác. Tôi túc trực bên cạnh anh, chưa bao giờ nghe anh thốt ra một tiếng r*n r* than vãn vì bệnh tật. Anh thường hỏi tôi về những chuyện ở Mỹ, tôi mua báo về đọc tin tức cho anh nghe bên giường bệnh. Một ngày nọ, anh bỗng bảo tôi rằng: chữa bệnh cho anh có thể tốn tiền, nhưng đừng tiêu sạch sành sanh tất cả.
Tôi coi lời nói đó là biểu hiện của việc anh mất niềm tin, tôi bỗng gắt lên, thế là anh không nói những lời như vậy nữa.
Mắt thấy việc điều trị ở Mỹ không có tiến triển, anh cả mời chúng tôi sang Singapore thử vận may. Tôi lại đưa anh ba sang Singapore. Anh cả thương anh ba lắm, người đã ngoài sáu mươi tuổi mà ngày qua ngày ở bên cạnh chúng tôi. Anh cả nói chuyện riêng với tôi, lúc nào cũng già lệ đầm đìa, nói rằng mình có lỗi với em út, có lỗi với song thân. Mai này trăm tuổi gặp lại cha mẹ biết nói năng làm sao? Nếu có thể, ông nguyện thay thế cho em trai mình, ông đã là một ông già rồi, mà anh ba còn chưa đầy năm mươi tuổi.
Chẳng biết có phải vì có anh cả ở đó không mà bệnh tình anh ba tạm thời được khống chế. Vừa thấy đỡ hơn một chút là anh đòi về ngay. Khi đó đã là mùa xuân năm 1999, cả dịp Tết chúng tôi cũng không quay lại, đã lâu lắm rồi không được nhìn thấy mảnh vườn ấy.
Sau khi trở về, anh ba khăng khăng đòi làm việc, có một công trình quan trọng anh vẫn chưa hoàn thành. Tôi không dám để anh vất vả, nhưng cũng biết rõ tâm ý của anh, bèn để anh thều thào đọc thành tiếng rồi tôi ghi chép, chỉnh sửa lại. Thế nhưng chúng tôi lại trở thành khách quen của bệnh viện. Tôi không thể rời anh nửa bước, để ai chăm sóc anh tôi cũng không yên tâm. Thủy Căn đang học y ở Bắc Kinh cũng trở về thăm anh. Nó không có cha, coi anh ba như người cha tinh thần của mình. Nó gặp tôi đầu tiên và bỗng sững sờ, lúc đó tôi mới biết tóc mai mình đã điểm bạc từ bao giờ.
Trước mặt anh ba, Thủy Căn không hề tỏ ra nản lòng, nhưng nó lại quỳ dưới chân tôi mà khóc nức nở. Nó học y bấy nhiêu năm trời mà chẳng thể cứu nổi anh ba. Tôi chưa từng làm mẹ, cũng đã chớm bốn mươi, trước mặt anh ba tôi lúc nào cũng thấy mình như cô bé mười mấy tuổi năm nào, đối diện với tiếng khóc của Thủy Căn, tôi chẳng thốt nổi một lời.
Vào mùa thu, bệnh tình anh ba chuyển biến xấu đột ngột, tôi sợ hãi vô cùng. Anh ngày càng gầy đi, xương gò má nhô cao, da mặt xám xịt nhăn nheo như một lớp vỏ khô. Diện mạo của anh chỉ trong vài tháng đã thay đổi chóng mặt, trông không khác gì một bộ hài cốt. Thế nhưng bụng anh lại to dần lên vì trướng nước. Cổ trướng làm bụng anh căng phồng như sắp nứt ra, trên đó chằng chịt những mạch máu tím đỏ như nanh vuốt, nhìn mà thấy xót xa, kinh hãi.
Rõ ràng anh đang bị những cơn đau quá sức tưởng tượng hành hạ, anh thường im lặng, không nói một lời. Tôi chưa thấy bệnh nhân nào có ý chí sắt đá hơn anh ba, anh chưa từng kêu đau một tiếng nào, đến cả bác sĩ và y tá cũng phải kinh ngạc. Bác sĩ bảo tôi phải chuẩn bị tinh thần, một khi đã phải hút dịch cổ trướng thì ngày ra đi không còn xa nữa.
Tôi không muốn chấp nhận số phận, muốn đưa anh sang Mỹ lần nữa. Tôi gửi bệnh án sang trước, bên đó phản hồi rằng việc sang đó cũng không còn quá nhiều ý nghĩa. Đồng nghiệp của anh khuyên tôi nên thử Đông y. Tôi đi tìm thầy thuốc Đông y, bốc những thang thuốc lớn về sắc cho anh. Anh ba đã không còn ăn uống được gì, nhưng vẫn gắng gượng dậy, đón lấy từ tay tôi, nuốt từng chút một thứ nước thuốc đen kịt ấy. Anh gầy đến đáng sợ, gầy đến mức hãi hùng. Tôi cúi đầu nhìn anh, trơ mắt nhìn sinh mệnh của anh đang dần trôi đi trước mặt. Có một con ruồi đậu trên cánh tay khẳng khiu của anh, đuổi đi rồi nó lại bay lại.
Đông y rõ ràng cũng chẳng cứu vãn được gì. Những năm ấy, xung quanh tôi có người tập một loại khí công được bảo là có pháp luân xoay chuyển trong bụng. Tôi và anh ba đều là những người duy vật, lẽ tự nhiên là không tin. Thế nhưng khi đã lâm vào đường cùng, tôi bỗng nảy ra ý định muốn thử một phen. Anh ba dốc hết tàn lực ngăn cản tôi: “Đó là tà giáo, đừng đụng vào.”
Lần đầu tiên tôi mất bình tĩnh trước mặt anh, quỳ xuống cầu xin: “Thử một lần đi anh ba, chúng mình thử một lần đi được không?”
Con người ta mới nhỏ bé làm sao, chuyện sinh tử chẳng thể do mình quyết định, nó đã rơi xuống đầu thì đành chịu. Tôi không cần tôn nghiêm, cũng chẳng cần lý trí nữa, tôi chỉ muốn anh ba của tôi không chết.
Đó là lời khuyên răn cuối cùng của anh ba dành cho tôi: dù có rơi vào đường cùng cũng không bao giờ được chạm vào những thứ sai trái.
Bác sĩ bắt đầu hút dịch cổ trướng cho anh ba. Sau mỗi lần hút và truyền huyết tương, tinh thần anh lại khá lên một chút. Anh có thể nói chuyện với tôi, hỏi tôi xem dáng vẻ bây giờ của anh có làm tôi sợ không. Tôi mở lòng bàn tay anh ra, áp mặt mình vào đó. Tay anh vẫn còn hơi ấm, anh vẫn còn sống.
Đến khi hút dịch cũng không còn tác dụng nữa, bác sĩ bảo chúng tôi nên về nhà. Tôi lỳ ra ở bệnh viện không chịu đi, quỳ xuống đất dập đầu xin bác sĩ. Tôi áp đầu xuống nền gạch lạnh lẽo rồi nôn thốc nôn tháo. Một người có tính cách kiên cường như anh ba cuối cùng cũng bị bệnh tật đánh bại.
Y tá bảo tôi vào gặp anh, anh còn nằm đó nhưng đã bị hành hạ đến mức không còn hình người. Tôi thấy anh thật lạ lẫm, đây có phải anh ba không? Anh nói: “Chúng mình về nhà thôi.”
Tôi hiểu, anh muốn về Nguyệt Hòe Thụ.
Tôi lái xe đến dưới chân tòa nhà bệnh viện, hàng ghế sau được trải nệm chăn rất ấm áp. Mọi người muốn giúp tôi đưa anh xuống nhưng tôi không cho, tôi cõng anh trên lưng. Anh bây giờ nhẹ quá, tôi có thể dễ dàng cõng được anh. Đã không biết bao nhiêu lần anh cõng tôi, giờ đến lượt tôi cõng anh.
Tôi lái xe hướng về Nguyệt Hòe Thụ. Về đến nhà, chú Sáu đã đợi sẵn ở đó. Chú vừa thấy tôi cõng anh ba vào là òa khóc. Anh ba chỉ còn là một bộ xương khô, nhưng cái bụng vẫn trướng to như muốn vỡ ra.
Chú Sáu lớn hơn anh ba những ba chục tuổi, chú vẫn đi lại được, vẫn ăn thịt, uống rượu được, vậy mà anh ba của tôi lại chỉ có thể để tôi cõng.
Ngày mùng tám tháng chạp năm 1999, tôi và anh ba trở về Nguyệt Hòe Thụ. Anh hầu như không nói được nữa, cũng không thể ăn uống, nhấp một ngụm nước cũng không xong. Trong gian nhà chính đốt lửa than, mọi người kéo đến thăm anh, cũng chẳng ai dám nói chuyện trực tiếp, chỉ liếc nhìn vào gian buồng căn phòng đông một cái rồi ra ngoài trò chuyện với tôi.
Người ta nói gì tôi cũng chẳng nghe lọt một chữ. Tôi gặp lại chị Tuyết Liên sau hơn hai mươi năm xa cách, cả chị dâu và Hình Mộng Ngư cũng đến. Họ biết tin từ đâu tôi cũng không rõ. Họ đều đã già đi nhiều nhưng vẫn khỏe mạnh, họ khóc sướt mướt, còn tôi thì không.
Ai cũng còn sống cả, ngay cả một người như Lý Đại Thành cũng sống rất khỏe mạnh, nghe đâu còn vừa cưới vợ cho con trai, vui mừng hớn hở lắm.
Tôi không muốn ai đến thăm anh ba cả, anh ba là của riêng tôi, tôi lại mang cái tính khí tệ hại như hồi còn niên thiếu. Ai nấy đều còn sống, chỉ riêng điều đó thôi cũng làm tôi không thể chịu đựng nổi rồi.
Tôi một mình túc trực bên anh ba, đọc cho anh nghe cuốn Chiến tranh và Hòa bình mà năm xưa hai đứa cùng xem. Anh ba bỗng dưng nói được vài câu, dường như anh đột nhiên tỉnh táo lại.
“Natasha…”
Anh ba muốn xem tranh minh họa, tôi đưa sách lại gần. Anh vươn ngón tay v**t v* hình vẽ cô thiếu nữ, trên mặt nở một nụ cười. Anh nhìn Natasha, như thể trong lòng không còn bất kỳ điều gì phiền muộn nữa.
Tôi nói: “Đợi sang xuân, chúng mình trồng mấy gốc dưa lưới nhé?”
Anh ba gật đầu: “Em cũng phải tự mình trồng lấy.”
Cổ họng tôi nghẹn đắng: “Anh đã hứa với anh hai là chúng mình sẽ cùng chung sống. Anh đã thất hứa một lần rồi, lần này không được thế nữa đâu. Nếu anh lại như thế, em sẽ… em sẽ không bao giờ tha thứ cho anh cả đời này.”
Anh ba bỗng trào nước mắt, không sao ngăn lại được.
“Đừng cứ mãi nghĩ về anh, hãy nhìn về phía trước. Những gì anh chưa làm xong, em phải giúp anh.”
Tôi gật đầu lia lịa: “Em biết rồi, em biết rồi. Em sẽ giúp anh hoàn thành mọi việc, từng việc một.”
Gương mặt anh dường như đang chịu sự đau đớn tột cùng. Anh gọi tên tôi, tôi vội ôm lấy anh. Anh ba chìm vào hôn mê ngay sau đó, tôi chẳng dám chợp mắt lấy một giây.
Tôi cứ ngỡ anh sẽ không qua khỏi đêm đó nên cứ ôm chặt lấy anh. Anh ba giống như một đứa trẻ, cứ để tôi ôm như thế. Tôi cảm thấy như đang ôm lấy đứa con của mình vậy. Tôi không có con, anh ba chính là đứa con của tôi.
Ngày mùng chín anh tỉnh lại trong chốc lát, bảo muốn ăn bạc hà vì trong bụng nóng rát như bị thiêu đốt, đó là do dịch cổ trướng làm các cơ quan nội tạng căng nứt.
Tháng chạp đào đâu ra bạc hà. Tôi hứa với anh sẽ ra ngoài hái về ngay.
Tôi nghĩ chắc nhà chú Sáu có lá bạc hà phơi khô để pha trà, tôi nhất định phải cho anh ba nếm được vị bạc hà. Tôi nhẹ nhàng đặt anh xuống, bảo anh đợi tôi, tôi sẽ về ngay. Anh ba không chịu nằm, anh ngồi đó, đầu gục xuống, chiếc kính cũng đã tháo ra từ lâu, trông anh giống hệt anh hai ngày trước.
Tôi phải đi tìm bạc hà cho anh.
Anh ba ngước đầu lên mỉm cười với tôi. Chỉ có tôi mới nhận ra nụ cười ấy, người ngoài nhìn vào có lẽ chẳng biết đó là nụ cười.
Cánh cửa gian nhà chính mở ra, gió lùa vào. Khu vườn của chúng tôi xơ xác trong tiết trời đông, chim sẻ cũng chẳng buồn lại gần. Trời bên ngoài tối sầm lại, vốn dĩ đang xanh thẳm giờ chuyển sang một màu xanh đen kịt.
Gió mùa đông ở Nguyệt Hòe Thụ vẫn cứ lớn như vậy.
Tôi quay người lại, đứng lặng một hồi rồi quay lại gian phòng phía đông. Anh ba vẫn ngồi đó, trên mình khoác chiếc áo chần bông, tôi bước lại gần, anh không ngẩng đầu lên được nữa.
“Anh ba…” Tôi gọi, nhưng anh không đáp lời, đầu vẫn cúi thấp. Chiếc đồng hồ tôi mua cho anh vẫn nằm trên cổ tay, chưa từng tháo ra. Cánh tay anh gầy đến mức chiếc đồng hồ đeo lên lỏng leo lẻo, có thể trượt lên tận vai.
Tôi nhìn thời gian trên đồng hồ: Sáu giờ bốn phút.
Anh ba mồ côi mẹ khi còn nhỏ, lớn lên lại mất cha mất anh, chẳng còn nơi nương tựa. Tôi nhìn chiếc đồng hồ, biết rằng thời gian của anh ba đã dừng lại. Tôi biết anh đã đi tìm anh hai rồi, chỉ có anh hai mới không bao giờ làm anh đau khổ, chỉ có anh hai mới dành cho anh tình yêu trọn vẹn nhất. Tiểu Trú hẵn cũng đã đợi quá lâu, anh trai đã đến để ôm lấy cô bé rồi.
Tôi ôm anh ba vào lòng. Tôi gặp anh năm tôi sáu tuổi, cùng chung sống suốt mười một năm trời. Sau đó, chúng tôi xa cách mười năm, rồi lại làm vợ chồng suốt mười bốn năm.
Tôi ôm anh ba vào lòng, không còn sự sống, cũng chẳng còn cái chết, nhân gian không có tương ngộ, cũng chẳng có biệt ly.
Khu vườn của chúng tôi, đợi sang xuân nó sẽ náo nhiệt trở lại. Ong mật này, bướm này, rồi sẽ lại bay đến. Cà tím này, dưa chuột này, rồi sẽ lại mọc lên. Những gì muốn bay thì cứ việc bay, những gì muốn mọc thì cứ việc mọc. Cây nào cần nở hoa thì nở hoa, cây nào cần kết trái thì kết trái, lại là một vòng luân hồi mới.
“Này nhóc, em đã gặp anh bao giờ chưa?”
“Gặp rồi!”
Khi mùa xuân gõ cửa, khu vườn của chúng tôi sẽ lại rộn rã đông vui.
Hoàn toàn văn.