Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa

Chương 1: Chuyến phà chiều muộn

Sau

Mặt trời chiều như một hòn than đượm đỏ quạch, từ từ chìm xuống rặng bần ngập mặn phía hạ lưu sông Tiền. Dòng nước đỏ nặng phù sa mùa cạn chảy lững lờ, cõng theo từng mảng lục bình trôi dạt vô định, chốc chốc lại dập dềnh vỗ vào mạn chiếc phà sắt già nua cũ kỹ.

Lê Cẩm Tú đứng nép sát lan can hoen rỉ ở mũi phà. Chiếc vali kéo màu ghi xám dựng sát chân, tay cầm bám chặt vào thanh sắt lạnh ngắt. Gió chướng cuối năm lồng lộng thổi từ mặt sông lên, thốc vào mặt mang theo cái ngai ngái nồng nàn của bùn bãi quyện lẫn mùi dầu máy sặc sụa của buồng lái. Gió thổi tung mái tóc đen nhánh vốn được buộc vội, hất những sợi tóc tơ lòa xòa trước trán. Tú không buồn đưa tay gạt, chỉ lặng lẽ nheo đôi mắt cay xè nhìn sang bờ cù lao An Bình phía bên kia.

Cách đây năm ngày, cô vẫn còn giam mình trong căn phòng thí nghiệm vô trùng sáng trưng ánh đèn huỳnh quang của Viện Công nghệ Sinh học ứng dụng tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng ánh đèn rực rỡ và những chiếc áo blouse trắng tinh tươm ấy giờ đây chỉ để lại trong lòng cô một vết cắt buốt nhói.

Hơn hai năm ròng rã ăn ngủ cùng đĩa petri, hàng ngàn mẫu đất, mẫu vi sinh vật bản địa vùng châu thổ mà cô cất công gom góp từ những chuyến đi thực địa gian khổ, cuối cùng lại biến thành bậc thang để người khác bước lên đài danh vọng. Trịnh Vũ – người đàn ông cùng cô chia sẻ từng mẩu bánh mì khô khốc trong đêm trực, người từng hứa hẹn về một tương lai cùng nhau đưa hạt giống hữu cơ ra biển lớn – đã thản nhiên đứng trên bục vinh danh của hội đồng khoa học, đọc to bản báo cáo đề tài nghiên cứu vi sinh phục hồi đất phèn mặn.

Tên tác giả đứng đầu bản báo cáo là anh ta, tên thứ hai là vị giáo sư đỡ đầu đáng kính. Còn cái tên Lê Cẩm Tú của cô bị gạt phắt xuống hàng chú thích cảm ơn ở trang phụ lục cuối cùng, nhỏ nhoi và vô hình.

Khi Tú đứng trước bàn làm việc chất vấn trong uất nghẹn, đáp lại cô chỉ là nụ cười nửa miệng lạnh tanh của Vũ: “Tú à, em thực tế chút đi. Em có năng lực làm chuyên môn, nhưng quan hệ và tầm nhìn chiến lược thì anh và thầy mới lo được. Đề tài này muốn có kinh phí rót xuống thì phải đứng tên anh. Chút danh phận đó, em nhường cho anh thì mất mát gì đâu?”

Sự phản bội trơ tráo như một gáo nước đá dội thẳng vào tim, làm đông cứng mọi nhiệt huyết của một thủ khoa Nông nghiệp công nghệ cao tròn hai mươi sáu tuổi. Cô nộp đơn xin nghỉ việc ngay trong đêm, gom hết đồ đạc cá nhân trong một chiếc thùng các-tông nhỏ, dứt khoát rũ bỏ phố thị phồn hoa mà bốn năm trước cô từng hăm hở bước chân vào.

Cô không trốn chạy. Chỉ là tâm hồn cô đã kiệt quệ đến mức khô khốc, tựa như mảnh đất nứt nẻ khao khát một giọt nước lành.

“Keng! Cạch!”

Tiếng xích sắt nặng nề va đập vào tấm ván cầu phà kéo Tú giật mình quay về thực tại. Mỏ phà đập mạnh xuống mép bến xi măng ẩm ướt, làm bắn lên vài tia nước đục ngầu. Dòng người hối hả nổ máy xe, tiếng còi inh ỏi chen chúc nhau rời phà để kịp về nhà trước khi trời sập tối.

Tú hít sâu một hơi, kéo cần vali, hòa vào dòng người bước lên triền dốc bến cù lao.

Đón cô là con đường đan nhỏ ngoằn ngoèo men theo bờ rạch rợp bóng dừa nước. Không khí ở quê vẫn mang một nét gì đó rất đỗi dịu dàng, lắng đọng, như muốn ôm lấy đứa con lưu lạc vừa trở về. Đi được chừng cây số, cây cầu Phù Sa quen thuộc hiện ra trước mắt. Cây cầu bê tông nhỏ hẹp bắc qua một nhánh rạch thông ra sông lớn, thay thế cho chiếc cầu khỉ lắt lẻo năm xưa mà ba cô từng dắt tay cô qua mỗi bận đến trường. Đứng giữa nhịp cầu, gió sông thổi thốc qua vạt áo sơ mi rộng thùng thình, mang lại chút cảm giác thanh thản hiếm hoi sau những ngày dài ngột ngạt.

Thế nhưng, khi vừa bước qua khỏi dốc cầu để rẽ vào con đường đất dẫn vào vườn nhà, bước chân của Tú bỗng khựng lại.

Cảnh tượng trước mắt khiến lồng ngực cô thắt nghẹn.

Trong ký ức của Tú, mỗi độ chớm bước vào tháng Chạp, mảnh vườn hơn một héc-ta rưỡi của tía cô luôn là một dải lụa xanh biếc ngút ngàn. Những tán bưởi da xanh sum sê che kín cả mặt đất, tán này đan vào tán kia rợp bóng mát rượi. Dưới mương, dòng nước ngọt lịm chở đầy phù sa mơn mởn rong rêu, cá quẫy tăm rộn rã. Mùi hoa bưởi nở muộn thoang thoảng dịu ngọt, hòa cùng mùi đất ẩm ngai ngái tạo nên một thứ hương vị quê hương mà chỉ cần nhắm mắt lại cô cũng có thể cảm nhận rành rọt.

Nhưng hiện thực bày ra trước mắt cô lúc này lại là một bức tranh hoang tàn, xơ xác đến thắt lòng.

Rặng bưởi da xanh cổ thụ từng là niềm tự hào của tía cô giờ đây trơ trọi những cành khẳng khiu, xám xịt như những bàn tay khô gầy cào cấu vào nền trời hoàng hôn. Lá bưởi không còn màu xanh thẫm bóng bẩy mà ngả sang màu vàng vọt, gân lá co rúm lại, cháy sém từng mảng viền. Dưới gốc, lá khô rụng dày thành từng lớp xào xạc, để trơ ra những chùm rễ tơ trồi lên mặt đất đen đúa, quăn queo và bốc lên mùi ẩm mốc thối rữa.

Mặt đất liếp vườn từng tơi xốp, trù phú ngày nào nay đóng thành từng mảng chai cứng, nứt nẻ như mai rùa. Những rãnh nứt toác kéo dài ngoằn ngoèo, khô khốc. Cả khu vườn im ắng một cách đáng sợ, không có tiếng chim chuyền cành, không bóng dáng đàn ong tìm mật, chỉ có thứ không khí ngột ngạt, hanh hao đến bức bối của sự lụi tàn.

“Chuyện gì... chuyện gì đã xảy ra với mảnh vườn thế này?” Tú lẩm bẩm, giọng run rẩy.

Cô buông tay kéo vali, bất giác bước chân dấn nhanh hơn vào sâu trong vườn. Tiếng bánh xe vali lọc cọc trên bờ đất nứt nẻ nghe chói tai giữa không gian tĩnh mịch. Đi được một đoạn men theo con mương cạn trơ đáy, cô bắt gặp một bóng người quen thuộc dưới gốc bưởi lão năm xưa cô và tía từng tự tay ghép cành.

Đó là ông Ba Sang.

Mới xa nhà có hơn nửa năm mà trông tía cô già sọp đi cả chục tuổi. Dáng người ông gầy guộc, lưng còng hẳn xuống trong chiếc áo bà ba màu nâu vá vai đã bạc phếch vì sương nắng. Ông đang ngồi xổm bên gốc cây, đôi bàn tay gầy trơ xương, da mồi chằng chịt những vết trầy xước đang run run áp vào thân cây bưởi sần sùi. Ông xoa bóp từng đoạn vỏ nứt nẻ chảy mủ vàng ươm như người ta đang n*n b*p vết thương cho một đứa con thơ đang thoi thóp.

Cách chỗ ông ngồi chừng vài bước chân, ba bốn chiếc bao tải dứa sọc xanh đỏ rách tơi tả vứt chỏng chơ bên gốc dừa. Tú nhìn lướt qua cái nhãn mác in lem nhem trên vỏ bao: phân bón hóa học NPK tổng hợp giá rẻ trôi nổi, nồng độ đạm và kali cao ngất ngưởng cùng vài gói thuốc trừ nấm hóa học liều cực mạnh đã bị xé toạc miệng, vơi quá nửa. Một thứ mùi hắc nồng, gay gắt của hóa học vẫn còn xộc thẳng vào cánh mũi cô, đè bẹp hoàn toàn thứ hương thơm tự nhiên của cỏ cây.

Tú hiểu ngay chuyện gì đang diễn ra.

Bằng con mắt của một người làm nghiên cứu nông học, cô nhận ra bi kịch của mảnh vườn này: Đất đã bị vắt kiệt sức. Sự lạm dụng phân vô cơ đậm đặc để thúc trái nghịch vụ, kết hợp với các loại thuốc trừ nấm cực độc vô tội vạ đã tiêu diệt sạch sẽ hệ sinh thái vi sinh vật và giun đất bản địa. Đất bị chua hóa trầm trọng, độ pH tụt dốc thê thảm, rễ cây bị ngộ độc muối khoáng dẫn đến hiện tượng vàng lá thối rễ diện rộng. Mảnh vườn này không phải đang chết vì sâu bọ, mà đang chết nghẹn vì chính những thứ hóa chất người ta đổ xuống để cưỡng ép nó cho ra quả.

“Khụ... khụ...”

Một tràng ho khan kéo dài làm thân hình gầy còm của ông Ba Sang rung lên bần bật. Ông đưa tay đấm thùm thụp vào thắt lưng, chật vật định đứng dậy nhưng cơn đau bất ngờ ập đến khiến ông lảo đảo, suýt ngã sấp mặt vào đống đất nứt nẻ.

“Tía!”

Tú thảng thốt kêu lên một tiếng, vứt cả chiếc túi xách trên vai xuống đất rồi lao tới. Cô kịp thời đỡ lấy cánh tay khẳng khiu của cha mình.

Ông Ba Sang giật mình quay lại. Đôi mắt trũng sâu, đùng đục vì năm tháng của ông mở to đầy ngỡ ngàng. Ông chớp chớp mắt mấy lần như không tin vào cảnh tượng trước mặt, rồi cái giọng khàn đặc, quen thuộc đến quặn lòng cất lên:

“Tú? Phải con Tú đó hôn con? Trời đất quỷ thần ơi, con về hồi nào vậy? Sao... sao hổng điện trước cho tía một tiếng để tía mượn chiếc đò dọc rước con ngoài bến?”

“Con tự đi xe đò rồi qua phà về được mà tía. Tía làm sao vậy? Lưng tía lại đau nữa hả?” Tú nghẹn ngào, bàn tay áp vào tấm lưng gầy gò của cha, cảm nhận rõ từng đốt xương sống nhô lên dưới lớp vải thô ráp.

Ông Ba Sang vội vàng gạt tay cô ra, cố gượng đứng thẳng người, nở một nụ cười mếu máo trên khuôn mặt sạm đen đầy nếp nhăn:

“Đâu có... đâu có đau đớn gì đâu đa! Tía ngồi lâu quá nó mỏi cái giò chút đỉnh thôi hà. Con nhỏ này, lâu ngày không gặp mà cứ làm như tía là ông già tám mươi không bằng.”

Ánh mắt ông bỗng đảo quanh, nhìn chiếc vali to đùng nằm lăn lóc nơi đầu bờ, rồi nhìn lại bộ quần áo giản dị và khuôn mặt xanh xao, hốc hác của con gái. Nụ cười trên môi ông chùng xuống, thay vào đó là nét lo lắng khôn nguôi:

“Mà sao con về vào cữ này? Giữa tuần mà, viện nghiên cứu trên trút hổng cho nghỉ phép chớ gì? Rồi đem theo cái vali bự chảng vậy... Bộ có chuyện gì trục trặc trên trển hả con?”

Trước ánh mắt dò hỏi đầy vẻ bao dung nhưng cũng đầy nhạy cảm của người cha già, sống mũi Tú cay xè. Cô nuốt ngược giọt nước mắt chực trào vào trong, cúi xuống nhặt túi xách rồi cười trừ:

“Dạ đâu có gì đâu tía. Đợt này con xong một dự án lớn, cơ quan cho nghỉ phép dài ngày để dưỡng sức. Con nhớ nhà, nhớ vườn bưởi của tía quá nên tranh thủ đón xe về chơi với tía ít bữa nè.”

Ông Ba Sang thở phào một hơi nhẹ nhõm, nhưng ánh mắt lướt qua rặng cây xơ xác phía sau lưng thì lại thoáng cụt hứng, ngậm ngùi buông một câu:

“Về chơi thì quý rồi... mà bây về trúng cái lúc vườn tược tan hoang quá con ơi. Thôi, vô nhà đi, đứng đây chi cho muỗi nó cắn nát chân.”

Hai cha con lững thững dắt nhau vào căn nhà ba gian lợp mái tôn xi-măng cũ kỹ nép mình dưới rặng dừa.

Bên trong nhà, mọi thứ vẫn vẹn nguyên như ngày Tú rời đi học đại học tám năm trước. Bộ bàn ghế gõ đỏ đã lên nước bóng lộn ở gian giữa, chiếc tủ thờ cẩn ốc xà cừ treo di ảnh của má cô tỏa ra mùi trầm hương nhàn nhạt. Trên vách ván ghép bằng gỗ dầu đã lên màu xám xịt treo lủng lẳng mấy xâu hành tỏi khô và những tấm bằng khen thời học sinh của Tú được lồng khung kính cẩn thận, không vương một hạt bụi. Rõ ràng ngày nào tía cô cũng lấy khăn lau chùi từng chút một.“Ngồi nghỉ đi con, để tía xuống bếp nấu miếng nước sôi pha bình trà nóng cho ấm bụng.” Ông Ba Sang bảo, vội vàng quay lưng đi xuống gian bếp phía sau.

Nhìn theo dáng đi khập khiễng, bàn tay luôn phải vịn hờ vào vách ván để đỡ lấy cái lưng đau của cha, lòng Tú xót xa như có xát muối. Cô lặng lẽ cất vali vào căn buồng nhỏ của mình, rồi xắn tay áo đi thẳng xuống bếp.

Gian bếp miền quê thơm nồng mùi khói đượm từ những thanh củi dừa khô nổ lách tách trong lò đất. Tú không để cha phải làm một mình. Cô sà vào thổi lửa, rửa chiếc nồi đất cũ mèm, thoăn thoắt nhặt mớ rau lang non mọc hoang ngoài bờ mương mà tía cô hái hồi trưa.

Bữa cơm chiều muộn được dọn ra trên chiếc bàn tròn bằng nhôm đặt giữa nhà. Không có sơn hào hải vị, chỉ có một đĩa đọt nhãn lồng và rau lang luộc xanh ngắt, một đĩa cá lòng tong kho tiêu khô quéo sực nức mùi tiêu sọ, và linh hồn của mâm cơm là ơ kho quẹt màu nâu sẫm, quánh lại, nổi lên vài miếng tóp mỡ vàng rộm giòn tan béo ngậy.

“Ăn đi con, cơm quê đạm bạc, hổng có thịt thà gì nhiều như trên thành phố. Nhưng rau này là rau bờ rào, sạch trơn hà, chấm kho quẹt bắt cơm dữ lắm.” Ông Ba Sang gắp một ngọn rau luộc chấm đẫm vào ơ kho quẹt, cẩn thận đặt vào chén cơm trắng của Tú, ánh mắt ngập tràn vẻ yêu thương.

Tú cắn một miếng rau. Vị ngọt thanh tao hơi nhặng đắng của đọt nhãn lồng quyện cùng vị mặn mòi, cay nồng và béo ngậy của kho quẹt lan tỏa nơi đầu lưỡi. Hương vị thân thương của tuổi thơ, của những ngày má còn sống, của những bữa cơm sau buổi lội mương tát cá ùa về khiến mắt cô hoe đỏ. Ở Sài Gòn, những bữa cơm hộp công nghiệp nuốt vội giữa các ca thí nghiệm hay những bữa tiệc xã giao sực nức mùi bia rượu chưa bao giờ mang lại cho cô cảm giác ấm áp, an yên đến nhường này.

“Ngon quá tía ơi! Đã lâu lắm rồi con mới được ăn lại bữa cơm ngon như vầy.” Tú cười tươi, lùa vội một miếng cơm lớn.

Ông Ba Sang nhìn con gái ăn ngon lành, khóe mắt nhăn nheo giãn ra, nhưng rồi ông lại buông đũa, khẽ thở dài thườn thượt.

“Ngon thì ráng ăn nhiều chút cho có da có thịt. Trông bây dạo này gầy nhom, hai con mắt thì thâm quầng. Làm việc ở trển chi mà cực quá chừng.” Ông ngừng lại một chút, nhìn ra khoảng sân tối mịt nơi bóng những ngọn bưởi trơ cành in lên nền trời đêm, giọng chùng hẳn xuống: “Nhưng mà... cực mấy thì cũng ráng mà bám lấy cái việc văn phòng, phòng lạnh trên đó nghe con. Chớ dại dột mà tơ tưởng cái chuyện trở về cái xứ cù lao thất bát này.”

Tú ngừng đũa, ngước nhìn cha: “Tía... vườn bưởi nhà mình rốt cuộc bị sao vậy tía? Sao đất chai ngắt, mà cây lại rụng lá, rụng trái dữ dội vậy tía?”

Nhắc đến vườn bưởi, khuôn mặt ông Ba Sang như già sụp xuống thêm mấy tuổi. Đôi bàn tay gầy gò của ông siết chặt lấy mép bàn nhôm, giọng nói nghẹn ngào pha lẫn nỗi bất lực tột cùng:

“Tía có tội với ông bà tổ đức con ơi... Mảnh vườn này ba đời gầy dựng, đến tay tía coi như sắp tiêu tùng. Hai năm nay, hổng biết trời đất vần vũ làm sao, hạn hán thì kéo dài mà nước mặn từ ngoài cửa biển cứ lấn sâu vô sông Tiền sớm hơn mọi năm cả tháng trời. Nước ngọt dưới mương cạn queo, tía phải đóng cống ngăn mặn. Nhưng cây bưởi cần nước dữ lắm, hổng tưới thì héo rũ, mà tưới nước mương thì nhiễm mặn rụng lá sạch trơn.”

Ông đưa tay day day hai bên thái dương, giọng nói run rẩy:

“Đã vậy, mấy vụ trước lái nó vô chê bưởi trái nhỏ, da sần, hổng chịu mua giá cao. Thằng Năm Lợi nó xui tía mua mấy thứ phân thuốc của công ty nào đó trên thị xã về xịt, nói là 'thần dược' nuôi trái, xịt vô một cái là trái bóng lẫy, vỏ mỏng tanh, bán được giá nhất xứ. Tía đánh liều vay mượn gom tiền mua về rải, về xịt... Ai dè đâu, ăn được đúng một vụ nghịch thì đất bắt đầu chai cứng ngắc như xi-măng. Tưới nước vô nó hổng thèm rút mà cứ trôi tuột đi đâu hết. Rễ cây bưởi thúi đen thui, lá cứ vàng vọt rồi rụng trui trút. Năm nay bưởi Tết coi như mất trắng rồi con à...”

Tú lắng nghe từng lời của cha, lồng ngực quặn thắt lại. Cô nhìn đĩa cơm nguội dần, trong đầu hiện lên những biểu đồ nông học chính xác đến tàn nhẫn.

Người nông dân cù lao chất phác cả đời chỉ biết bám vào mảnh đất, nhưng sự thay đổi nghiệt ngã của khí hậu và vòng xoáy kim tiền của thương lái đã đẩy họ vào bước đường cùng. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật độc hại mà không hề hay biết rằng mình đang uống thuốc độc để giải khát.

“Vậy... thằng Năm Lợi dạo này còn tới vườn mình không tía?” Tú hỏi, trong lòng dấy lên một dự cảm bất an.

“Có chớ,” ông Ba Sang cười chua chát. “Nó tới hoài chớ gì. Nhưng hổng phải tới mua bưởi, mà tới để ép giá mấy cây bưởi còi cọc còn sót lại. Bữa trước nó còn dắt theo mấy thằng cha mặc đồ vest láng cóng, tự xưng là người của Tập đoàn Hoàng Thịnh gì đó dưới Sài Gòn về. Tụi nó gạ tía bán quách miếng đất vườn này đi. Tụi nó nói đất này giờ bạc màu rồi, mần ăn gì nổi nữa mà giữ, bán đi lấy tiền tỷ dưỡng già, để tụi nó san lấp làm khu sinh thái hay nghỉ dưỡng gì đó...”

“Tía không được bán!” Tú buột miệng thốt lên, giọng đanh lại.

Ông Ba Sang nhìn con gái, thở dài một hơi sầu não:

“Tía đâu có muốn bán con ơi! Tấc đất này là mồ hôi nước mắt của ông nội bây để lại, là nơi má bây nằm xuống ngoài bờ kinh... Bán đi thì tía lấy mặt mũi nào mà nhìn tổ tiên dưới suối vàng? Nhưng mà... nợ tiền phân bón vụ trước tía còn thiếu thằng Năm Lợi hơn ba chục triệu chưa trả nổi. Lưng tía thì bữa đau bữa bớt, sức đâu mà cuốc xới, chăm bẵm lại cả mẫu vườn này nữa đây...”

Ông ngước nhìn Tú, ánh mắt đầy vẻ van lơn và xót xa:

“Bởi vậy tía mới nói, con ráng mà bám trụ lại thành phố. Đời tía coi như chôn chân bên cái mương cù lao này rồi, tía hổng muốn con gái tía học hành đỗ đạt thủ khoa này nọ rồi lại phải cắm mặt xuống bùn, chịu cái cảnh bấp bênh, nước mặn trút xuống là trắng tay đâu con...”

Tú cắn chặt môi đến mức bật cả vị tanh ngọt của máu. Cô muốn nói cho tía biết rằng cô đã bỏ việc, rằng chốn thành thị hoa lệ kia cũng đầy rẫy những mưu mô, cướp đoạt tàn nhẫn chẳng khác gì những tay thương lái ép giá dưới quê. Cô muốn nói rằng cô có kiến thức, cô có thể dùng vi sinh học để giải độc cho đất, để cứu lấy vườn bưởi này.

Nhưng nhìn khuôn mặt tiều tụy, đôi vai gầy đang run lên vì cơn đau lưng âm ỉ của cha, những lời ấy nghẹn ứ lại nơi cổ họng. Lúc này, nói ra chỉ làm tía thêm bàng hoàng và tuyệt vọng mà thôi.

Cô nuốt nước mắt vào trong, nhẹ nhàng vươn tay nắm lấy bàn tay thô ráp, chai sần của cha:

“Dạ, con biết rồi tía. Tía đừng lo nghĩ nhiều nữa, ăn thêm miếng cơm đi rồi uống thuốc nghỉ sớm.”

Bữa cơm kết thúc trong sự tĩnh lặng trầm mặc. Tú giành phần rửa chén, dọn dẹp gian bếp ngăn nắp như ngày xưa. Đêm ở cù lao buông xuống rất nhanh, chỉ mới hơn tám giờ tối mà khắp xóm đã chìm vào bóng tối mịt mùng, chỉ còn le lói vài ánh đèn hắt ra từ những ngôi nhà rải rác cách nhau một con mương vườn.

Tú nằm trên chiếc giường tre quen thuộc trong căn buồng nhỏ của mình. Tấm vách ván mỏng manh ngăn cách phòng cô với gian nhà ngoài chẳng thể nào cản được những thanh âm đang cào xé màn đêm.

“Khụ... ặc... khụ!”

Tiếng ho khan từng chặp của ông Ba Sang vang lên khô khốc, nghẹn ngào. Tiếp sau đó là tiếng trở mình trằn trọc làm chiếc giường gỗ kêu lên cót két, và tiếng thở dài nặng trĩu, não nề như rút ruột rút gan của người cha già đang gánh trên vai món nợ và nỗi đau nhìn mảnh vườn lụi tàn.

“Ư... ưm...” Tiếng r*n r* khe khẽ bật ra khi một cơn đau lưng thắt lại giữa đêm lạnh khiến Tú không tài nào chợp mắt nổi.

Mỗi hơi thở dài của cha qua vách ván như một nhát dao cứa vào tim cô.

Tú trở dậy, nhẹ nhàng đẩy then cài cửa sổ bằng gỗ. Gió đêm lùa vào mang theo hơi ẩm mặn mòi của dòng sông Tiền và sự lạnh lẽo của đất cằn. Cô trèo qua bậu cửa, bước chân trần giẫm lên lớp đất vườn xơ xác dưới ánh trăng mờ đục.

Đêm cù lao tĩnh mịch đến nao lòng. Cây cầu Phù Sa phía xa xa chỉ còn là một vệt đen mờ mờ vắt ngang dòng rạch. Không có hương hoa bưởi nồng nàn thanh khiết của ngày xưa, chỉ có mùi ngai ngái của lá úa mục rỗng và vị chua chát của đất thoang thoảng trong sương đêm.

Tú ngồi thụp xuống dưới gốc cây bưởi lão năm xưa, vốc lên một nắm đất ngay sát mép rễ.

Mảnh đất trong lòng bàn tay cô khô khốc, xám ngoét, vón thành những cục chai sần cứng đờ như đá sỏi. Không có lấy một con giun đất cựa mình, không có thứ mùn hữu cơ tơi xốp, màu mỡ nuôi dưỡng sự sống. Đất đã chết lâm sàng.

Cô siết chặt nắm tay lại. Những góc cạnh sắc nhọn của đất chai cứa vào lòng bàn tay mềm mại, đau buốt. Nhưng cái đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với ngọn lửa đang âm ỉ bùng cháy trong lồng ngực cô.

Họ đã cướp đi công trình nghiên cứu của cô ở thành phố. Nhưng mảnh đất này – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng ước mơ của cô, nơi cha cô đã đổ cả đời mồ hôi và nước mắt – thì không một kẻ nào, dù là thương lái xảo quyệt hay tập đoàn bất động sản giàu có, có thể cướp đi được!

Tú dùng hết sức bình sinh bóp nát nắm đất chai sạn trong tay. Những mảnh vụn lạo xạo vỡ tan, rơi lả tả qua kẽ tay cô xuống nền đất lạnh, hòa vào bóng đêm hun hút của xứ cù lao.

Đêm nay, cô sẽ thức trắng. Ngày mai, trận chiến để hồi sinh mảnh đất này sẽ bắt đầu.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn

Sau