Dùng bữa tối xong, Thấm Dao lặng lẽ kéo Phùng Bá Ngọc vào thư phòng, kể lại ngọn ngành chuyện Bùa Chỉ Âm bốc cháy ban nãy cho y nghe.
Phùng Bá Ngọc khó giấu nổi vẻ kinh ngạc: “Muội nói là, Văn nương không phải thắt cổ tự vẫn mà là bị tà linh hãm hại?”
Thấm Dao biết Phùng Bá Ngọc chưa từng tiếp xúc với yêu ma quỷ quái, e là nhất thời khó lòng chấp nhận suy luận này bèn lấy Bùa Chỉ Âm trong n.g.ự.c ra cho y xem. Nàng kiên nhẫn giải thích: “Bùa Chỉ Âm là loại bùa chú nhập môn thường dùng của người trong Đạo môn. Tuy cấp bậc thấp, chế tác thô sơ, nhưng vì tiện sử dụng lại nhận biết khá tốt nên thường được các đạo hữu dùng để dò xét xem có tà linh quấy phá hay không.
Nhưng cũng chính vì nó chỉ nhận biết được tà khí đã tích tụ đến một mức độ nhất định, nên những đạo sĩ có đạo hạnh cao thâm như sư phụ thường chẳng buồn dùng tới. Oán khí nặng thì sư phụ đã tự cảm nhận được mà không cần mượn ngoại lực, còn tà khí được che giấu kỹ lưỡng thì dĩ nhiên đã có trấn quan chi bảo là Kính Vô Nhai đại hiển thần uy, tóm lại là chẳng có đất dụng võ cho Bùa Chỉ Âm. Lần trước lúc dọn dẹp kho phòng của Thanh Vân Quán, muội và sư huynh vô tình lục ra được một đống Bùa Chỉ Âm chưa từng dùng tới. Thấy vứt đi thì tiếc nên hai người mới giữ lại một ít mang theo bên người.”
Mặc dù Phùng Bá Ngọc rất muốn tin tưởng phán đoán của Thấm Dao, nhưng trong giọng điệu vẫn mang theo sự nghi hoặc: “Nhưng lần trước ta từng nghe muội và Thanh Hư T.ử đạo trưởng nói, dưỡng nữ của Văn nương là Lâm Yểu nương tuy dáng vẻ cái c.h.ế.t rất kinh khủng nhưng không phải do tà ma gây ra. Còn đêm đó ở bên ngoài Đại Lý tự, đạo trưởng dùng bảo kính thử dò xét di vật của Nhu Khanh cũng không thấy có bất kỳ dấu vết nào của tà ma tác quái. Cớ sao t.h.i t.h.ể của Văn nương c.h.ế.t trong ngục lại có thể tra ra tà khí?”
Thấm Dao không vội đáp lời. Nàng nhìn chằm chằm vào chiếc giá bút bằng gỗ hoa lê trên bàn trầm tư một lát, rồi mới ngước mắt lên nhìn Phùng Bá Ngọc: “Phùng đại ca, cho muội mượn giấy bút trên bàn dùng một chút.”
Phùng Bá Ngọc hơi ngẩn ra rồi gật đầu: “Muội cứ tự nhiên.”
Thấm Dao bèn đứng dậy đi ra sau án thư, xắn tay áo lên, nhấc bút bắt đầu viết.
Phùng Bá Ngọc tiến lại gần, định đứng cách án thư nhìn xem Thấm Dao viết gì. Nhưng vừa bước tới, thì một luồng u hương thiếu nữ ngọt ngào, thanh nhã chợt xộc thẳng vào mũi. Tâm thần y khẽ động, ánh mắt bất giác rơi xuống mái tóc đen nhánh của Thấm Dao. Mùi hương ngọt ngào kia là tỏa ra từ búi tóc của nàng, thoang thoảng như ngọc lan, lại phảng phất chút bóng dáng của hoa mai, như có như không vương vấn nơi chóp mũi.
Y cố gắng che giấu sự thất hố của mình, ra vẻ điềm tĩnh cúi đầu nhìn những dòng chữ Thấm Dao đang viết. Nhưng nhìn nửa ngày trời, y lại phát hiện mình chẳng nạp vào đầu được chữ nào, chỉ vô thức ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào cổ tay trắng ngần đang cầm bút của nàng.
Cù T.ử Dự đến thư phòng tìm Phùng Bá Ngọc, vừa bước vào cửa đã thấy cảnh tượng của hai người. Đầu óc hắn "ong" lên một tiếng, sắc mặt biến đổi mấy bận, ngần ngừ một lúc lâu mới lẳng lặng lùi ra ngoài.
Thấm Dao lúc này đã dừng bút, chỉ tay vào những gì vừa viết trên giấy cho Phùng Bá Ngọc xem: “Phùng đại ca huynh xem, đây là những nữ t.ử đã c.h.ế.t ở phường Bình Khang dạo gần đây. Người thứ nhất là Tiết Ly nhi, bị moi yết hầu; người thứ hai là Lâm Yểu nương, bị khoét đôi mắt; tiếp đó là Văn nương, thắt cổ trong ngục; và cuối cùng là vũ kĩ Nhu Khanh của Tiểu Trùng Sơn, bị xẻo mất mũi.”
Phùng Bá Ngọc nhìn theo chỉ dẫn trên tờ giấy của Thấm Dao, quả nhiên thấy nàng đã liệt kê theo thứ tự tên họ và dáng vẻ cái c.h.ế.t của từng người rất rành mạch, nhìn qua là hiểu ngay.
“Tiết Ly nhi, Lâm Yểu nương và Nhu Khanh, muội và sư phụ đã lần lượt dùng những cách thức khác nhau để kiểm tra, chứng thực cái c.h.ế.t của ba người họ quả thật do con người làm ra. Cũng chính vì vậy mà ban đầu, hai thầy trò muội hoàn toàn không nghĩ tới việc phải đi nghiệm t.h.i t.h.ể của Văn nương.”
Phùng Bá Ngọc bừng tỉnh hiểu ra: “Muội là vì nghe ta nhắc tới t.h.i t.h.ể của Văn nương thối rữa quá nhanh nên mới sinh nghi về nguyên nhân cái c.h.ế.t của bà ta?”
Thấm Dao gật đầu: “Mấy năm nay muội theo sư phụ bắt yêu trừ ma, từng nhìn thấy không ít t.h.i t.h.ể của những người bị oán linh hại c.h.ế.t. Bọn họ khác với những người c.h.ế.t bình thường, vì bị tà khí nhập thể nên t.h.i t.h.ể thường thối rữa cực kỳ nhanh. Vậy nên sau khi nghe huynh nhắc tới, muội mới nghĩ đến việc dùng Bùa Chỉ Âm để kiểm tra t.h.i t.h.ể Văn nương.”
Phùng Bá Ngọc trầm ngâm: “Lẽ nào, ngày đó sau khi Văn nương bị giam vào Đại Lý tự, đã có tà linh lẻn vào ngục hãm hại bà ta, rồi cố tình ngụy tạo để chúng ta lầm tưởng là Văn nương tự vẫn?”
“Muội không rõ nữa.” Thấm Dao đăm chiêu lắc đầu: “Muội chỉ cảm thấy dáng vẻ cái c.h.ế.t của mấy vị nữ t.ử này quá mức kỳ lạ, dường như rất giống với thủ pháp hại người của một loại tà ma trong truyền thuyết. Nhưng muội lại không tìm thấy chứng cứ tà linh tác quái trên người họ. Hôm nay vất vả lắm mới tra ra được tà khí trên t.h.i t.h.ể Văn nương, nhưng bà ta lại là người duy nhất trong số các nạn nhân còn nguyên vẹn ngũ quan... Thế nên muội cũng thấy hơi hồ đồ rồi.”
Phùng Bá Ngọc nghe xong hai mắt sáng lên. Y đứng dậy đi tới đi lui hai bước, nhìn Thấm Dao nói: “Lời của muội nhắc nhở ta. Nhớ lại ngày đó lúc Văn nương vu oan cho Vương Dĩ Khôn, bộ khẩu cung mưu hại đó lộn xộn trước sau bất nhất, đầy rẫy lỗ hổng, rất dễ dàng bị Ngự Sử đài nhìn thấu. Sau đó bà ta vu oan không thành, lại còn bị tống vào đại lao. Lúc ấy ta và Văn Viễn còn thấy kỳ lạ, sao Văn nương lăn lộn chốn phong trần bao năm mà hành sự nói năng lại ngu xuẩn đến vậy. Nay nghĩ lại, liệu có khi nào lúc đó bà ta đã cố ý làm thế không?”
“Cố ý làm thế?”
Suy đoán trong đầu Phùng Bá Ngọc dần hình thành rõ nét: “Văn nương từ sau khi nhận nuôi Lâm Yểu nương đã coi nàng ta như cây hái ra tiền mà rèn giũa suốt nhiều năm. Thường ngày bà ta phòng bị nghiêm ngặt, chỉ sợ Yểu nương lén lút sinh lòng khác. Thế nên phàm Yểu nương có động tĩnh gì, kết giao với bằng hữu nào, bà ta tuyệt đối không thể không biết.” Y ngừng lại một chút rồi tiếp: “Ta lờ mờ cảm thấy, ngày Lâm Yểu nương bị hại, Văn nương mười phần thì hết tám chín phần đã biết hung thủ là ai.”
Mắt Thấm Dao mở to: “Phùng đại ca, ý huynh là Văn nương vì biết hung thủ là ai, sợ bị diệt khẩu nên mới cố ý giả điên giả dại vu oan cho Vương Dĩ Khôn, hòng được tống vào đại lao để trốn tránh sự tàn sát của hung thủ?”
Phùng Bá Ngọc không đáp, chỉ lẳng lặng nhìn Thấm Dao.
“Chuyện này hoang đường quá!” Thấm Dao cảm thấy thật khó tin: “Muốn trốn tránh sự truy sát của hung thủ, đi đâu mà chẳng được? Bà ta có thể chạy trốn khỏi Trường An, ra ngoài quan ải, hay vào Thục Trung! Thiên hạ rộng lớn thế này, thiếu gì chỗ nương thân? Cớ sao lại cứ phải đ.â.m đầu vào đại lao?”
Phùng Bá Ngọc không vội phản bác. Y im lặng suy nghĩ giây lát rồi mới cất lời: “Văn nương xuất thân thấp hèn, lăn lộn chốn phong trần nhiều năm, tâm tư suy nghĩ ắt hẳn khác với chúng ta. E rằng ngay từ lúc phát hiện t.h.i t.h.ể Lâm Yểu nương, bà ta đã nghĩ ra cả vạn cách để chạy trốn rồi. Nếu có thể trốn được, đương nhiên bà ta không muốn phải chịu cảnh lao tù.”
Thấm Dao dần hiểu ra: “Nhưng bà ta lại làm ngược lại, chọn một cách ngu ngốc nhất...”
Phùng Bá Ngọc khẽ mỉm cười: “Là cách ngốc nghếch hay thông minh, chúng ta không ở vào hoàn cảnh của Văn nương lúc đó nên cũng khó đưa ra kết luận. Cứ thử nghĩ xem, nếu Văn nương biết mình có chạy đằng trời cũng không thoát khỏi sự truy sát của hung thủ, kiếp này cầm chắc cái c.h.ế.t, thì vì muốn sống sót, bà ta không thể không tìm một lối đi khác. Đến lúc đó, tai ương chốn lao tù mà người thường tránh còn không kịp, đối với bà ta biết đâu lại là tia hy vọng sống sót cuối cùng...”
Thấm Dao khựng lại một hồi, chậm rãi gật đầu: “Không ngờ kẻ đứng sau lại có thể khiến bà ta sợ hãi đến mức ấy... Xem ra, chỉ e hung thủ không phải bá tánh áo vải tầm thường.” Nàng nghiêng đầu nghĩ ngợi rồi tiếp lời: “Hơn nữa dựa vào mấy vụ án hiện tại, tâm tư của kẻ này không phải kín đáo bình thường. Ra tay liên tiếp g.i.ế.c hại bốn người mà hầu như không để lại bất kỳ sơ hở nào. Cũng khó trách Văn nương dẫu hao tổn tâm cơ, đến cuối cùng vẫn không thoát khỏi độc thủ.”
Phùng Bá Ngọc lộ ánh mắt tán thưởng.
Thấm Dao lại mở tờ giấy trong tay ra, nghiên cứu tên tuổi của mấy người c.h.ế.t trên đó: “Nếu quả thật như chúng ta dự liệu, bốn vị nữ t.ử này đều do một kẻ vị quyền cao chức trọng hãm hại, vậy mục đích hắn cắt lấy ngũ quan của người c.h.ế.t là gì? Đơn thuần chỉ là g.i.ế.c người mua vui? Hay còn có mưu đồ nào khác?”
Hai người đều chìm trong suy tư, hồi lâu không nói gì.
Thấm Dao chợt nghĩ ra điều gì, sắc mặt thoắt cái trắng bệch, cất giọng run rẩy: “Phùng đại ca, trước đây muội từng nghe sư phụ kể, mấy chục năm trước từng có yêu vật vì muốn hoàn hồn cho đồng bọn, đã đi khắp nơi moi móc ngũ quan của con người, sau đó gom đủ ngũ quan lại một chỗ, bày trận tác pháp. Vì tà thuật này quá mức âm tà m.á.u me, cuối cùng đã kinh động đến cả Phật giáo và Đạo giáo. Các vị cao nhân hợp sức đ.á.n.h cho yêu vật đó hồn bay phách tán, sau đó định ra một quy tắc bất thành văn: hễ có tà vật nào sử dụng loại tà thuật này, người trong hai phật Đạo đều có quyền tru diệt...”
Trong lòng nàng dâng lên một suy đoán: “Phùng đại ca, huynh nói xem liệu có khi nào yêu vật kia vì không muốn gây sự chú ý với người trong Đạo gia nên đã mượn tay phàm nhân để hại người, khiến chúng ta không tra ra được dấu vết tà linh trên người kẻ c.h.ế.t?”
Phùng Bá Ngọc cau mày: “Nhưng nếu suy đoán trước đây của chúng ta là đúng, thì hung thủ hại c.h.ế.t Yểu nương tuyệt đối không phải hạng tầm thường, hành sự lại rất bài bản, chứng tỏ hắn không hề mất trí. Cớ sao hắn lại cam tâm tình nguyện bị yêu vật sai khiến, lạm sát kẻ vô tội?”
Hai người bóc tách từng lớp sương mù, phân tích cặn kẽ, nhưng lại phát hiện càng đi sâu vào vụ án thì sương mù càng dày đặc.
Thấm Dao chầm chậm lắc đầu: “Muội không biết. Nhưng nếu hung thủ quả thực vì muốn bày trận mà thu thập ngũ quan...” Nói đoạn, nàng vươn ngón tay trắng ngần lướt nhẹ qua tờ giấy trong tay, giọng nghiêm nghị: “Yết hầu, mắt, mũi... nay chỉ còn thiếu lưỡi nữa thôi! Nếu không mau chóng tìm ra hung thủ, ít nhất sẽ còn một nữ t.ử nữa bị hại!”
…
Tại Tây thị thành Trường An có một quán rượu chẳng mấy nổi bật. Lúc này vừa qua khỏi giờ Thìn, là thời điểm Tây thị náo nhiệt nhất, thế nhưng bên trong quán lại vắng tanh vắng ngắt, chẳng có lấy một vị khách nào đến uống rượu.
Ngồi sau quầy tính tiền là một gã nam t.ử trung niên có dáng vẻ khờ khạo dễ gần. Một khuôn mặt trắng trẻo béo tròn, chẳng chút góc cạnh, thoạt nhìn hệt như một chiếc bánh bao trắng vừa ra lò. Ông chủ “bánh bao” này dường như không hề bị ảnh hưởng bởi cảnh ế ẩm của quán, trên mặt luôn nở nụ cười đầy thân thiện, chốc chốc lại ngóng ra cửa với vẻ đầy hy vọng, tựa như sẵn sàng đón tiếp một lượng lớn khách khứa bất thần ập đến.
Một lát sau, ngoài cửa cuối cùng cũng có động tĩnh. Đầu tiên là một tràng tiếng vó ngựa lộn xộn dừng lại, tiếp đó là một khoảng lặng ngắn ngủi, rồi vài gã nam t.ử rất trẻ tuổi lẳng lặng bước vào.
Vị công t.ử đi đầu hông giắt bảo kiếm, thân mặc trường bào màu đen nhánh, dung mạo cực kỳ tuấn nhã. Vừa bước vào, hắn đảo mắt đ.á.n.h giá tình hình trong quán một lượt, sau đó nhạt nhẽo liếc nhìn ông chủ bánh bao, rồi vén vạt áo ngồi xuống chiếc bàn ngay gần cửa.
Đôi mắt nhỏ như hạt đậu của ông chủ bánh bao khẽ đảo quanh, gã vội vàng tươi cười đi vòng qua quầy, khom người định tiến lên hành lễ với vị công t.ử kia. Nào ngờ mới bước được hai bước, gã hộ vệ đứng phía sau công t.ử bỗng rút trường kiếm ra đ.á.n.h “xoẹt” một tiếng, khẽ quát: “Đứng lại.”
Gã hộ vệ đó tuổi đời còn rất trẻ, gương mặt thanh tú nhưng ánh mắt sắc lẹm như đao, giọng điệu lại vô cùng bất thiện.
Bước chân của ông chủ bánh bao khựng lại, đáy mắt xẹt qua một tia lệ khí, sắc mặt biến đổi mấy bận rồi ngay lập tức lại treo lên một nụ cười gần như là nịnh bợ: “Là tiểu nhân đường đột. Không biết mấy vị tiểu lang quân đại giá quang lâm là vì chuyện gì?”
Chẳng đợi họ trả lời, gã quay người chỉ tay vào những vò rượu được xếp ngay ngắn trên giá rượu sau quầy, giọng điệu hớn hở nói: “Trong đ**m có loại rượu Lục Nghị thượng hạng, danh tiếng xưa nay rất tốt, mấy vị lang quân có muốn nếm thử không?”
Vị công t.ử trẻ tuổi nghe vậy, liếc mắt nhìn những vò rượu, đầy hứng thú cất lời: “Không ngờ quán rượu của ngươi trông thì tầm thường mà lại có không ít rượu ngon. Chỉ là không biết ngoài rượu Lục Nghị ra, ông chủ còn cất loại giai ngẫu nào khác không. Tỷ như… Bách Hoa tán?” Giọng nam trầm ấm, mang theo sức hút đặc biệt, ngữ khí cũng rất đỗi ôn hòa, thế nhưng huyết sắc trên mặt ông chủ bánh bao lại lập tức rút cạn sạch sành sanh. Bánh bao trắng thoắt cái đã biến thành bánh bao xanh.
Gã trừng mắt nhìn Lận Hiệu chằm chằm, sắc mặt cực kỳ âm trầm. Im lặng một lát, gã bỗng lộn người nhảy ngược ra sau. Thân hình mập mạp béo ục ịch ấy thế mà lại linh hoạt dị thường, nhẹ nhàng một cái đã đáp xuống sau quầy tính tiền.
Ngay sau đó, chỉ thấy gã đập mạnh một chưởng lên mặt quầy. Chẳng biết gã vừa khởi động cơ quan nào mà dãy giá rượu kia lại kêu lên cót két rồi xoay ngược ra sau, để lộ một khe hở.
Ông chủ bánh bao nhìn Lận Hiệu cười quái gở hai tiếng, vừa định xoay người chui qua khe hở tẩu thoát thì bỗng nhận ra hai tên hộ vệ lúc nãy đứng sau lưng vị công t.ử đã lướt tới trước mặt gã như quỷ mị. Gã còn chưa kịp hét lên kinh hãi thì đã thấy hai chân tê rần, cả thân hình đổ sầm xuống đất.
Thường Vanh và Ngụy Ba mặt không đổi sắc, một trái một phải xách ngược ông chủ bánh bao lên, ném bịch xuống dưới chân Lận Hiệu.
Ông chủ bánh bao nhắm nghiền hai mắt, lòng đã nguội lạnh như tro tàn. Từ lúc bước chân vào giang hồ tới nay, gã luôn tự phụ võ công thuộc hàng đệ nhất, khinh công lại càng xuất chúng, trước đây dù gặp phải tình cảnh hiểm nghèo tới mức nào cũng có thể toàn mạng rút lui. Ai ngờ hôm nay chỉ gặp phải mấy tên oắt con vắt mũi chưa sạch, bại một vố khó coi đến thế này.
Đã vậy, những cao thủ cỡ đó lại cam tâm tình nguyện mặc cho vị cẩm y công t.ử này sai bảo, đủ thấy thân phận của người này tôn quý đến nhường nào. Chẳng cần nghĩ nhiều, mười phần thì đây là người của hoàng thất.
Gã thầm thở dài vô vọng. Lần này e là gã thực sự vướng phải rắc rối lớn rồi.
Cửa đ**m chẳng biết đã bị đóng lại từ bao giờ, mọi ánh nắng đều bị chặn lại bên ngoài tấm ván cửa dày cộp, bên trong mờ mờ tối.
Lận Hiệu cụp mắt, lạnh lùng nhìn ông chủ bánh bao dưới chân, chậm rãi nói: “Khai ra đi, ngày đó ngươi đã bán Bách Hoa tán cho kẻ nào?”
Ông chủ bánh bao một mực im lặng, miệng ngậm chặt như vỏ trai. Dù những việc gã làm trái với chính đạo, nhưng điều đó không có nghĩa gã không có quy tắc và giới hạn riêng của nghề.
Thấy vậy, Lận Hiệu đưa mắt ra hiệu với Thường Vanh và Ngụy Ba. Hai người ngầm hiểu ý, cúi xuống xốc ông chủ bánh bao lên, ép gã phải ngẩng đầu nhìn Lận Hiệu.
Vừa nhìn thấy biểu cảm lẫm liệt hiên ngang của ông chủ bánh bao, Lận Hiệu không khỏi khựng lại một nhịp, sau đó hờ hững nói: “Cũng có mấy phần cốt khí đấy, chỉ là không biết cái cốt khí này của ngươi giữ được bao lâu.” Nói đoạn, hắn rút thanh kiếm Xích Tiêu bên hông ra, đặt mạnh lên vai phải của ông chủ bánh bao.
Ông chủ bánh bao chỉ cảm thấy một luồng sức mạnh ập tới, toàn bộ huyệt đạo trên cơ thể bỗng chốc trở nên ngứa ngáy râm ran khó nhịn, cứ như có hàng ngàn con chuột đang gặm nhấm, khiến người ta chỉ muốn phát điên. Gã vừa kinh hãi vừa sợ hãi, c.ắ.n chặt răng, cố vận nội lực để khống chế cơn ngứa thấu tim này. Ngờ đâu cảm giác kỳ dị ấy lại ngày một mãnh liệt, đến cuối cùng quả thực muốn đòi cái mạng già của gã.
Đây là một kiểu tra tấn lăng trì còn khó chịu hơn cả cái c.h.ế.t. Ông chủ bánh bao cuối cùng cũng vỡ trận, giọng run rẩy gào lên: “Ta nói! Ta nói!”
Lận Hiệu tra kiếm vào vỏ.
Thường Vanh trầm giọng quát: “Tiếp theo công t.ử hỏi ngươi cái gì thì ngươi trả lời cái đó, nếu dám nói nửa lời dối trá thì sẽ cho ngươi nếm thử mùi vị khó chịu gấp trăm lần ban nãy.”
Ông chủ bánh bao thừa biết lời này tuyệt đối không phải hù dọa, gã chẳng dám cố làm anh hùng hảo hán nữa, vừa há miệng thở hồng hộc, vừa gật đầu lia lịa.
Lận Hiệu lại cất tiếng: “Hà Viễn Đạo, người Thục Châu, thạo chế tác các loại kỳ độc, giang hồ xưng tụng là Độc Thánh. Vài năm gần đây vì bị kẻ thù ở Thục Trung truy sát nên ngươi trốn tới Trường An, lấy việc mở quán rượu ở Tây thị làm vỏ bọc để âm thầm ngựa quen đường cũ, buôn bán các loại độc tửu độc d.ư.ợ.c do ngươi ủ chế. Ta nói có đúng không?”
“Đúng.” Mọi lá bài tẩy đều đã bị đối phương nhìn thấu, ông chủ bánh bao, không, phải nói là Hà Viễn Đạo, cả người hắn hệt như quả cà tím bị sương giá đ.á.n.h úp, héo rũ hoàn toàn.
Lận Hiệu tiếp tục tra hỏi: “Trong hai tháng gần đây, ngươi từng bán Bách Hoa tán cho những ai?”
Bách Hoa tán là loại độc d.ư.ợ.c mà đám đạo tặc ở Đại Lý tự ngày trước uống phải. Thuốc này không màu không mùi, sau khi uống thường không có triệu chứng gì và cũng không phát tác ngay, chỉ khi xảy ra ẩu đả kịch liệt hoặc vận dụng nội lực mới thúc đẩy độc tính bùng phát. Người trúng độc ngũ tạng lục phủ sẽ thối rữa toàn bộ, thần tiên cũng khó cứu, bởi vậy mới có cái tên “Bách Hoa tán”. Loại t.h.u.ố.c này không hiếm gặp, thi thoảng vẫn được lưu truyền trong dân gian, vì vậy sau khi khám nghiệm t.ử thi đám đạo tặc, Đại Lý tự lập tức phát hiện loại độc chúng trúng phải là “Bách Hoa tán”.
Hà Viễn Đạo lộ vẻ mặt suy tư, ngập ngừng nói: “Tuy hai tháng gần đây số người đến chỗ ta mua độc d.ư.ợ.c rất đông, nhưng số người mua Bách Hoa tán lại lác đác không có mấy người…”
Khóe mắt liếc thấy Lận Hiệu khẽ động đậy, tưởng hắn định dùng hình với mình tiếp, gã sợ hãi vội tự vả mạnh một cái vào mặt, cuống quýt nói: “Ta nhớ ra rồi, đêm khuya tháng trước đúng là có một nam t.ử tới chỗ ta mua thuốc, nhưng hắn ta quấn khăn trùm đầu, giọng nói cũng đã bị biến đổi. Tuy ta có cố ý dò xét lai lịch của đối phương nhưng cuối cùng cũng…”
Thấy Lận Hiệu lạnh lùng đưa mắt ra hiệu cho Thường Vanh, da đầu Hà Viễn Đạo tê rần, vội vã la lên: “Ta nhớ ra rồi! Ta nhớ ra rồi! Sau khi người đó ra khỏi quán, ta từng lén bám theo một đoạn. Kẻ đó đi thẳng đến cuối phố Tây thị, thấy phía sau không có người mới tháo hai lớp bọc vải trên cánh tay ra. Ta lờ mờ nhìn thấy… tay trái của người đó chỉ có bốn ngón.”
Thấy Lận Hiệu không tỏ thái độ gì, Hà Viễn Đạo chỉ tay lên trời thề thốt: “Những việc khác thì ta thực sự không biết gì nữa! Vì Bách Hoa tán cần rất nhiều loại d.ư.ợ.c liệu phong phú, chi phí làm ra không hề rẻ nên giá bán ra có thể nói là trên trời. Một năm giỏi lắm cũng chỉ bán được cho một hai mối khách, nên hễ ai đến quán mua Bách Hoa tán, ta đều rất lưu tâm.”
Lận Hiệu dường như nắm rất rõ phong cách hành sự của Hà Viễn Đạo, biết gã tuyệt đối không có chuyện không đào bới gốc gác của người mua, bèn hỏi tiếp: “Ngươi có biết nhà kẻ đó ở đâu không?”
Hà Viễn Đạo lắc đầu: “Ta theo hắn ra khỏi Tây thị thì thấy bên đường đã có sẵn một chiếc xe ngựa chờ hắn. Thấy quanh xe ngựa có rất nhiều hộ vệ, sợ để lộ hành tung nên ta đành bỏ cuộc. Nhưng chiếc xe ngựa đó chạy rất vững vàng, lại cực kỳ rộng rãi, không giống đồ dùng của gia đình bình thường. Cọng thêm đám hộ vệ kia ai nấy đều có nội công thâm hậu, ta đoán… nam t.ử kia mười phần là nhân vật có m.á.u mặt.”
Hà Viễn Đạo đang định nói tiếp thì Đàm Khải bỗng từ ngoài cửa bước vào, tiến đến cạnh Lận Hiệu, ghé tai nói nhỏ câu gì đó.
Hà Viễn Đạo lén đưa mắt nhìn sang. Không biết có phải ảo giác của gã không, dường như vừa nghe thuộc hạ bẩm báo xong, đôi mắt vốn bình lặng như mặt nước không gợn sóng của vị cẩm y công t.ử bỗng dâng lên những gợn lăn tăn, nét mặt lạnh lùng cũng thoắt cái dịu đi trông thấy.
Đang thầm lấy làm lạ thì thấy cẩm y công t.ử đột nhiên đứng dậy, dặn hai gã hộ vệ trẻ tuổi phía sau: “Đưa hắn đến Đại Lý tự.” Dứt lời, cất bước đi thẳng ra ngoài.
…
Đêm qua trước khi rời khỏi Phùng phủ, Thấm Dao đã đặc biệt hỏi thăm Phùng Bá Ngọc địa chỉ của tiệm trang sức nơi vũ kĩ Nhu Khanh mua đôi hoa tai.
Về nhà trằn trọc suy nghĩ cả đêm, Thấm Dao quyết định phải đích thân tới tiệm đó xem cho rõ ngọn ngành. Ăn trưa xong, Thấm Dao chỉ bảo là muốn về Thanh Vân Quán một chuyến. Xin phép mẹ xong, nàng cùng A Hàn rời khỏi Cù phủ, đi thẳng tới Tây thị.
Tây thị so với Đông thị thì hàng hóa buôn bán tạp nham hơn nhiều, từ đồ quý giá đến đồ bình dân, thứ gì cũng có. Thấm Dao và A Hàn bị dòng người đông đúc xô đẩy làm lạc mất nhau mấy bận mới tìm được tiệm trang sức cần tìm trong một con hẻm hẹp, chẳng mấy nổi bật ở cuối Tây thị.
Trước cửa tiệm có một hàng xe ngựa đang đỗ, chiếc thì khiêm nhường, chiếc thì bề thế, vô cùng không ăn nhập với vẻ ngoài xám xịt, bụi bặm của cửa hàng.
“Nhuận Ngọc Trai…” Thấm Dao sợ mình nhầm nên ngước lên nhìn kỹ tấm biển của tiệm một lúc lâu rồi mới gật đầu với A Hàn: “Chắc chắn là chỗ này rồi.”
Bước vào trong quán, hai người mới phát hiện tiệm này tuy bề ngoài có vẻ xuề xòa nhưng bên trong lại được bài trí vô cùng trang nhã, sang trọng mà không hề tục tĩu, so với Trích Tinh Lâu lừng danh thì chẳng hề kém cạnh chút nào. Mấy năm gần đây, Trích Tinh Lâu ngày càng phô trương, hận không thể dát vàng khảm ngọc lên từng bộ bàn ghế, làm màu đến mức khó chịu. Trong khi Nhuận Ngọc Trai lại được bài trí thanh nhã, tuy là tiệm bán đồ trang sức mà hiếm hoi thay lại toát lên bầu không khí đầy học thức thư hương.
Chủ tiệm vừa thấy Thấm Dao và A Hàn bước vào bèn nở nụ cười hồ hởi, chạy ra đón tiếp: “Hoan nghênh các vị, xin hỏi hai vị hôm nay tới để làm trang sức hay tới lấy đồ đã đặt vậy?”
Thấm Dao cố làm ra vẻ sành sỏi, vừa đưa mắt đ.á.n.h giá đồ trang trí trong tiệm, vừa thong dong bước vào trong: “Ta nghe một người bạn nói tiệm các người làm đồ trang sức rất tinh xảo, chỉ cần vẽ mẫu đưa cho, món trang sức nào lạ mắt đến mấy cũng có thể chế tác ra được, có đúng vậy không?”
Chủ tiệm không chút do dự gật đầu, cười nói: “Tiểu nương t.ử nói quả không sai, tổ tiên Đông gia chúng ta xuất thân là thợ chế tác trang sức, tay nghề đó ở thành Trường An này phải gọi là đứng hàng nhất nhì. Chỉ cần cô nương miêu tả rõ món trang sức mình muốn, hầu như chẳng có gì mà thợ của tiệm chúng ta không làm được.”
Thấm Dao mỉm cười gật đầu, rút ra một tờ giấy từ trong n.g.ự.c đưa cho chủ tiệm xem: “Vậy thì tốt quá. Mấy hôm trước ta tình cờ thấy có người đeo một đôi hoa tai rất hợp ý ta. Nhưng ta tìm mãi ở mấy tiệm trang sức khác mà chẳng tìm được kiểu dáng giống y như đúc. Không biết quý tiệm có thể dựa theo mẫu vẽ trên giấy này mà làm một đôi không?”
Chủ tiệm cúi đầu nhìn tờ giấy, hơi sững người lại, nói: “Thật trùng hợp, đôi hoa tai cô nương vẽ trên giấy đây là do tiệm chúng ta chế tác. Ta nhớ cách đây mấy hôm cũng có một vị lang quân trẻ tuổi tới tiệm nghe ngóng về đôi hoa tai này.” Nói đoạn, hắn giơ tay ướm chừng trên đỉnh đầu: “Tiểu lang quân đó cao cỡ chừng này, tướng mạo rất khôi ngô tuấn tú.”
Thấm Dao biết người chủ tiệm nhắc tới Phùng Bá Ngọc, bèn vội tiếp lời: “Đủ thấy đôi hoa tai này được làm tinh xảo tuyệt diệu tới mức nào, ai nhìn cũng khó mà quên được.” Nàng làm bộ sốt sắng vì muốn có được món đồ ưng ý: “Nếu đã là do quý tiệm chế tác, hẳn việc làm thêm một đôi giống hệt cũng chẳng khó khăn gì. Hay thế này đi, hôm nay ta đặt cọc, đợi các ngươi làm xong ta sẽ tới lấy hàng.”
Chủ tiệm cười bẽn lẽn: “Vị tiểu nương t.ử này, không giấu gì cô, kiểu dáng của đôi hoa tai này thì không khó làm, nhưng khó ở chỗ loại đá để chế tác nó. Muốn làm ra hình giọt mưa sống động như thật, bắt buộc phải dùng đến thủy tinh Bích Văn. Cô nương hẳn cũng biết, thủy tinh Bích Văn là vật hiếm có khó tìm, bao nhiêu năm nay bổn tiệm cũng chỉ mới thấy qua một khối duy nhất, lại là do chính vị tiểu nương t.ử đặt hoa tai ngày đó tự tay mang tới tiệm. Có được khối thủy tinh Bích Văn của nàng, Đông gia chúng ta mới chế tác ra được đôi hoa tai độc đáo đến thế. Cho nên, nếu cô nương muốn làm một đôi giống y như đúc thì trước tiên phải tìm được một khối thủy tinh Bích Văn đã.”
Lòng Thấm Dao thót lên một tiếng. Thì ra đôi hoa tai đó lại được làm bằng thủy tinh Bích Văn. Thảo nào nó có thể tỏa ra thứ ánh sáng mê hoặc đến thế trong đêm tối. Nhưng Nhu Khanh chẳng qua chỉ là một vũ kĩ chưa được chuộc thân ở Tiểu Trùng Sơn, ngày thường muốn giấu giếm chút của cải làm vốn riêng e rằng cũng khó khăn khôn xiết, cô nàng lấy đâu ra khối thủy tinh Bích Văn đó?
Càng kỳ lạ hơn là, một viên đá quý hiếm đến thế, nếu rơi vào tay bá tánh bình thường ắt hẳn sẽ mừng rỡ như điên, coi như báu vật trân quý mà truyền đời làm gia bảo. Vậy mà Nhu Khanh lại tùy tiện lấy ra làm thành hoa tai...
Đang mải suy nghĩ, A Hàn đứng bên cạnh khẽ kéo gấu áo gọi: “A Dao, A Dao.”
Thấm Dao ngẩng đầu lên thì thấy chủ tiệm đang nhìn nàng với vẻ bối rối. Hóa ra nãy giờ hắn b.ắ.n nước bọt liên hồi nói bao nhiêu chuyện mà Thấm Dao chẳng nghe lọt chữ nào, coi hắn như không khí.
Thấm Dao bèn cười cười chữa ngượng: “Xin lỗi xin lỗi, ban nãy ta mải nghĩ xem nên đi đâu tìm khối thủy tinh Bích Văn nên không để ý nghe ngươi nói. Vừa nãy ngươi nói tới đâu rồi?”
Trên mặt chủ tiệm lại hiện lên nụ cười tươi rói, hắn dẫn Thấm Dao đến trước một dãy tủ gắn trên tường: “Những người mua tinh mắt như cô nương, thời buổi này hiếm gặp lắm. Tuy đôi hoa tai cô muốn bổn tiệm tạm thời không có, nhưng ở đây còn rất nhiều món trang sức kiểu dáng mới lạ, tất cả đều là độc nhất vô nhị ở thành Trường An này. Tiểu nhân dám đảm bảo với cô nương, bước ra khỏi bổn tiệm, cô nương tuyệt đối không tìm được món thứ hai giống hệt.”
Thấm Dao tình cờ còn rất nhiều điều muốn dò la từ chủ tiệm nên cứ để mặc hắn dẫn mình đến trước dãy tủ, cất giọng nói: “Hiếm khi gặp được món trang sức ưng mắt đến thế, tiếc là có cầu mà chẳng được. Đúng rồi, nãy ngươi nói vị tiểu nương t.ử đặt làm trang sức đó tự mang đá đến tiệm các ngươi? Không biết cô ấy có làm thêm món trang sức nào khác ở tiệm các ngươi không?”
Chủ tiệm vừa lấy mấy chiếc hộp đựng trang sức bằng gỗ hoa lê chạm khắc mây nước từ trên tủ xuống, vừa nói: “Vị tiểu nương t.ử đó trước kia cũng từng tới đây mấy bận. Dáng vẻ xinh đẹp, ăn nói lại nhẹ nhàng êm ái, thực sự là một đại mỹ nhân. Cô ấy có lúc đến một mình, có lúc lại đi cùng bạn, nhưng đa số chỉ xem chứ không mua. Cô nương cũng biết đấy, đồ trang sức của tiệm chúng ta đẹp thì có đẹp thật, nhưng cái giá thì quả thực là...”
Quả thực là quá đắt, Thấm Dao liếc mắt nhìn giá tiền niêm yết trên món trang sức, thầm nối tiếp lời hắn trong bụng.
Dường như nghe được tiếng nói thầm của Thấm Dao, chủ tiệm cười lão luyện, tiếp nối câu chuyện ban nãy: “Cho nên về sau khi tiểu nương t.ử đó đột nhiên mang một khối đá quý hiếm tới tiệm làm hoa tai, ta còn thấy hơi kỳ lạ. Không chỉ vậy, hôm đó cô ấy còn mua rất nhiều trang sức ở bổn tiệm. Cứ như thể chỉ sau một đêm là trở nên giàu có, ra tay cực kỳ hào phóng.”
Giàu lên sau một đêm? Thấm Dao chau mày, lẽ nào suy đoán của nàng và Phùng Bá Ngọc không sai, cái c.h.ế.t của đám người Nhu Khanh quả nhiên có dính líu không thể chối cãi với một quyền quý nào đó ở Trường An?
Chủ tiệm lúc này đặt mấy chiếc hộp đựng trang sức lên bàn, lần lượt mở ra trước mắt Thấm Dao: “Mấy món này đều là đồ mới chế tác của Đông gia chúng ta dạo gần đây, vẫn còn nóng hổi đấy, cô nương xem có lọt vào mắt xanh món nào không?”
Thấm Dao cúi đầu nhìn, chỉ thấy trong mấy chiếc hộp đựng những món trang sức muôn hình vạn trạng, có con bướm ngọc bích xanh biếc nhỏ giọt, có trâm hoa cài đầu khảm mã não đỏ, có đôi hoa tai làm bằng trân châu Đông Hải to bằng ngón tay cái, mỗi món đều tỏa sáng lấp lánh, độc đáo tinh xảo.
Đặc biệt nhất là một cây trâm hình hoa mai. Chẳng rõ làm bằng chất liệu gì mà toàn thân trong suốt rạng rỡ, năm cánh hoa được chạm trổ vô cùng sống động, giữa tâm điểm điểm nhụy phấn sắc sảo từng đường nét, nổi bật tương phản thú vị với thân trâm trắng muốt tựa tuyết, quả thực là đoạt công tạo hóa.
Dù xưa nay Thấm Dao không mấy mặn mà với đồ trang sức cũng không kìm được mà khẽ thốt lên một tiếng tán thưởng, cầm cây trâm lên ngắm nghía tỉ mỉ.
Chủ tiệm chẳng còn xa lạ gì với phản ứng này của Thấm Dao, hầu như nữ t.ử nào nhắm trúng một món đồ trang sức cũng sẽ để lộ vẻ mặt như vậy. Hắn đắc ý cười nói: “Thế nào? Cây trâm này gọi là Đạp Tuyết Tầm Mai, theo lời Đông gia thì là mượn ý cảnh trong bài thơ của Mạnh đại thi nhân triều ta, chất liệu làm từ Hàn ngọc Đông Hải. Loại ngọc lạnh này cực kỳ hiếm có khó tìm, bao nhiêu năm nay bổn tiệm cũng chỉ kiếm được một khối nhỏ bằng bàn tay. Đông gia nghĩ làm vòng tay thì quá nhỏ, làm hoa tai thì lại uổng phí quá, nên đã chế tác thành cây trâm này. Cô nương đến thật đúng lúc, cây trâm này hôm nay mới bày ra, nếu ngày mai cô nương mới đến xem thì bảo đảm đã có người mua mất rồi.”
Quả đúng như lời chủ tiệm dự đoán, Thấm Dao quả thực đã nhìn trúng cây trâm này. Cầm trên tay quả thực yêu thích không nỡ buông, nhưng chẳng cần hỏi giá nàng cũng biết món đồ quý giá cỡ này chắc chắn có giá trị liên thành, vượt xa giới hạn khả năng chi trả của mình.
Miết một hồi lâu, nàng như cắt từng khúc ruột đặt cây trâm lại vào hộp, làm bộ điềm nhiên nói: “Ừm, cũng không đến nỗi nào, nhưng vẫn kém đôi hoa tai hình giọt mưa kia.”
Nói đoạn, nàng làm bộ muốn đứng dậy: “Thôi được rồi, nếu đôi hoa tai kia bắt buộc phải có thủy tinh Bích Văn mới làm được, ta sẽ thử đi tìm xem sao, nếu tìm được thật thì sẽ quay lại quý tiệm làm hoa tai.”
Nàng rõ ràng chẳng định mua gì mà còn lê la vòng vo một hồi lâu, lúc này cảm thấy hơi xấu hổ bèn chuẩn bị chuồn êm, rút lui toàn diện.
Chủ tiệm vẫn chưa chịu từ bỏ, cố ý chặn Thấm Dao lại: “Cô nương xin dừng bước, chỗ ta còn một món trang sức này cô nương chưa xem qua đâu. Cô nương nán lại xem thử, biết đâu lại hợp ý.” Vừa nói, hắn vừa xoay người lấy một chiếc hộp bằng gỗ t.ử đàn từ ngăn cao nhất trên tủ xuống, dè dặt mở nắp hộp.
Bên trong là một chuỗi dây chuyền san hô đỏ như máu, thoạt nhìn không có gì đặc biệt, nhưng nhìn gần mới phát hiện mỗi hạt san hô đều được điêu khắc thành hình đóa hoa ngọc lan, đường nét chạm trổ tinh xảo, vô cùng kỳ công.
“Đây là bản vẽ mà Đông gia chúng ta đặc chế riêng cho một vị khách quen của quán. San hô đỏ có nước màu đẹp cỡ này không dễ gì gặp được, nếu cô nương thích, tiệm chúng ta vẫn còn một chuỗi phôi hạt nữa. Tuy không thể làm giống y đúc, nhưng có thể vẽ một mẫu khác làm riêng cho cô nương.”
Đẹp thì có đẹp, nhưng vẫn không sánh bằng cây trâm Đạp Tuyết Tầm Mai kia. Thấm Dao uể oải mỉm cười lắc đầu, không kìm được lại nhấc cây trâm Đạp Tuyết Tầm Mai lên mân mê trong lòng bàn tay.
Chủ tiệm quan sát sắc mặt, khẽ cười: “Ta thấy cô nương rất thích cây trâm này, đừng trách tiểu nhân không nhắc nhở cô, trang sức của bổn tiệm chỉ có độc một món, bỏ lỡ thì không bao giờ có lại nữa đâu.”
Thấm Dao quả thực hận không thể niệm cho mình một đoạn Thanh Tâm chú để xua tan những suy nghĩ không nên có trong đầu. Vừa định đứng lên từ tốn cáo từ thì A Hàn vốn nãy giờ vẫn im lặng chợt cất tiếng: “Ồ, đó chẳng phải là Thế t.ử Lan vương sao?”
Hôm nay Lận Hiệu mặc một bộ trường bào màu đen nhánh, ngang hông thắt dải lụa màu ngọc, trên đầu không đội mão mà chỉ cài một cây trâm gỗ mun, cách ăn vận gọn gàng thanh nhã.
Thấm Dao có chút bất ngờ, đứng lên chào hỏi: “Thế tử, sao ngài lại ở đây?”
Lận Hiệu bước tới gần, đầu tiên gật đầu chào A Hàn, sau đó nhìn Thấm Dao giải thích: “Ta vừa hay đi phá án ở Tây thị, nghe thuộc hạ báo nàng đang ở gần đây bèn tới xem sao. Không ngờ thực sự là nàng.”
Nói đoạn, ánh mắt hắn dừng lại ở cây trâm hoa mai trên tay Thấm Dao, giọng dịu dàng: “Đến chọn trang sức sao?”