Chiêu Hề Cựu Thảo - Thư Hải Thương Sinh

Chương 6: Chương 6: Hề sơn cuốn · Thanh Thành

Thanh Thành công chúa, chủ của Tam quốc. Ái tình xa xỉ, cả đời trong sạch, không gần đàn ông. Không bệnh mà chết, chôn tại An lăng.

–[Chiêu chủ Tập truyện · Thanh Thành thiên]

Sau khi Quý Duệ tỉnh lại đã chủ động xin đi giết giặc, đưa thê tử Thu Lê và một vạn kỵ binh rời xa Đại Chiêu, đến biên giới Quỷ vực và Đông Dật, nơi có tên là Thanh Hằng, vốn không ai quản lý để sinh sống.

Một vạn kỵ binh bị biến thành giấy được Hề Sơn quân bỏ vào trong một hộp gỗ, phong ấn bằng sợi dây chứa yêu khí màu đỏ rồi đưa cho Quý Duệ, tuy nạn lớn không chết nhưng xương cốt đã bị tổn thương vĩnh viễn. Nàng nói: “Tới Thanh Hằng thì gỡ dây ra, hô ‘Y lệnh Hề Sơn, gọi ngươi xuất hiện’ là được.”

Phù Tô đứng cách Hề Sơn Quân hơi xa, nhìn Quý Duệ, Quý Duệ cũng nhìn chàng thật lâu, sau đó đặt tay lên ngực, quỳ xuống nói: “Lần này thần đi không ngày về, Chủ công hãy giữ sức khỏe.”

Phù Tô cau mày, đi tới đỡ Quý Duệ nói: “Ta và quân gặp nhau thuở thiếu thời, trải qua bao chuyện, trao đổi ân tình, nay lại ép ngươi tới bước đường cùng thế này, chỉ mong lần này quân đi Thanh Hằng, sẽ được tiêu sái tự do.” Chàng quay đầu, con ngươi đen lay láy nhìn Hề Sơn Quân, khóe miệng khẽ nhếch. Những gì mà chàng và Quý Duệ trải qua đều là cái bẫy do người vợ chưa cưới tuyệt vời này lập nên, giống như dùng chút đồ thừa để dẫn dụ lũ thú nhỏ đang đói khát, bỡn cợt khinh nhờn đẩy chàng và Quý Duệ tới bước này. Rốt cuộc nàng ta muốn gì? Phù Tô không thể nào hiểu được.

Quý Duệ kéo tay Thu Lê, muốn nàng cùng quỳ, quay sang thi lễ trước Hề Sơn quân, “Trước đây không biết cha vợ ta là Phu nhân, cũng may chưa từng thất lễ. Xin cảm tạ ân tái sinh của Phu nhân, mong từ nay Phu nhân dốc lòng chiếu cố, chăm sóc Chủ công trưởng thành. Ta và Thu Lê tự sẽ cúng bái quỳ lạy bài vị của ngài, cầu ngài được vạn phúc thiên tuế.”

Hề Sơn Quân mỉm cười, quầng mắt thâm đen hơn mấy phần. Nàng nói: “Nếu Phù Tô được thiên tuế thì cũng sẽ có một ngày ta nhất định được thiên tuế.”

Phù Tô rũ mắt, nghĩ tới, lời này ý nàng ta là muốn làm Hoàng hậu? Hình như có mấy con chim sẻ màu xám nhìn thấy chàng, hót ríu ra ríu rít không ngừng. Hề Sơn ngẩng đầu nhìn, nheo mắt nhìn lên ngọn cây, đột nhiên mỉm cười, “Cuối cùng cũng tới.”

Nàng xoay người nói với Quý Duệ: “Lần này đi Thanh Hằng, nếu đi đường bộ thì sẽ gặp nạn suốt đường, đừng ngại xuôi theo sông Trừng Giang, đến Bình Cảnh, sau đó chuyển hướng qua Xích lưu, khoảng hai mươi ngày là tới nơi. Bề tôi của ta là Thúy Nguyên là bạn cũ với Niên Thủy quân cai quản Trừng Giang Xích lưu, hắn hộ tống hai người đi đường thì chắc Niên Thủy Quân cũng nể chút tình mọn mà giúp các ngươi một tay.”

Kì này Trịnh vương chắc đang giận lắm, muốn mượn lực lượng Bách quốc để truy nã Quý Duệ, nào ngờ Hề Sơn quân suy nghĩ chu toàn quá. Thúy Nguyên đứng bên bờ sông, chống bè gỗ nói với Tam nương mặc hoàng y trên bờ, rớt nước mắt ràn rụa nói: “Từ nhỏ tới lớn, dầu gì Thúy Nguyên ta cũng là một đại yêu quái đánh không chết, mặt mũi lại xinh đẹp, sao nay lại phải đi chèo thuyền cho người ta? Đúng là đạo vua đã mất, sắc đẹp mê hoặc, tàn hại bề tôi! Trời ơi là trời ơi!”

Tam nương bất đắc dĩ, “Nếu ta là chàng thì sẽ ngoan ngoãn cho xong. Chàng lớn tới ngần này, ngoại trừ giả ngốc làm nũng thì vẫn chẳng biết tới đạo lý châu chấu đá xe, yếu không địch lại mạnh là gì.”

Thúy Nguyên giận cá chém thớt: “Nàng và nàng ta đúng là cùng giuộc. Nếu đã vậy thì mắc gì ngủ với ta, sinh con của ta làm gì? Nàng và nàng ta tự sinh đi! Sinh con cùng Nhị lang mà nàng nhớ mãi không quên á!”

Hề Sơn quân ở xa nheo mắt, nhìn Thúy Nguyên hừ lạnh một tiếng.

Thúy Nguyên hoảng hồn, nấc một cái, nuốt nước mắt vào lòng. Quý Duệ ôm hộp gỗ, cười ha hả đứng dậy, nói với Phù Tô: “Chủ công, nếu thiên đạo không ngừng thì cũng không có chỗ nào là vui vẻ!”

***

Kể từ khi Phù Tô trở về, Quý Duệ khỏi bệnh rời đi thì Hề Sơn cũng trở lại yên tĩnh cùng với… cảnh khốn khó bần cùng bất biến xưa nay. Hai Sáu đã bò nhanh lắm rồi, biết tự trèo lên cây, Hai Nhăm vẫn chưa biến thành người, vẫn là một con khỉ lông xanh. Nó lại ngoan ngoãn như trước, nhưng từ khi khỏi bệnh thì không thích nói chuyện nữa, cũng không quanh quẩn như Hề Sơn quân, chỉ có thi thoảng học chữ với Phù Tô thì mới tỏ ra vui vẻ.

Hiếm khi có khách ghé thăm Hề Sơn.

Một nữ tử mặc hắc y mang theo mấy trăm con chim, là yêu quái đã thành người có cánh dài, đứng thành một đám đen kịt ở trước căn phòng đá, quỳ rạp trước áo bào trắng của Phù Tô, thâm tình thưa: “Công tử, cuối cùng thiếp cũng tìm được ngài.”

Phù Tô lùi ra sau một bước, lạnh nhạt nói: “Phụng nương, đã lâu không gặp.”

Nữ vương bệ hạ của Điểu quốc cảm khái: “Thiếp sai người tìm ngài rất lâu, dù con cháu Nô rải rác khắp cả nước mà cũng không thể ngờ ra ngài lại đang ở trong kết giới của yêu quái. Trước đây có nghe đám con cháu bên dưới kể từng thấy một bạch y công tử đẹp tuyệt trần ở Hề Sơn, thiếp còn bán tín bán nghi, nào có ngờ lại đúng thật là ngài.”

Ả ghét bỏ liếc Hề Sơn quân, thấp giọng: “Công tử à, yêu quái này ở thế giới ta không phải loại lương thiện đâu, vừa nghèo vừa gian ác, là loại yêu quái lưu manh có tiếng đấy. Ngài cao quý bậc nào, nhất định bị nàng ta lừa gạt mới cực chẳng đã ở đây chứ gì. Bây giờ thiếp đích thân tới đón, ngài theo thiếp đi.”

Hề Sơn mỉm cười, cúi người nâng chiếc cằm nhọn xinh đẹp của Phụng nương: “Tước vương bệ hạ, cái tên yêu quái lưu manh vừa nghèo vừa gian trong mồm ngươi đã mang thai giống loài của công tử nhà ngươi rồi, ta sống là yêu quái của chàng, chết cũng quỷ hồn nhà chàng, chàng đi đâu thì ta chỉ có thể theo đó. Thế thì sống thế nào mới tốt đây?”

Phụng nương thét lên một tiếng chói tai, cái lưỡi run rẩy, ngỡ ngàng nhìn Phù Tô.

Đôi mắt đen của Phù Tô nhìn Hề Sơn quân, hồi lâu mới cầm quyển sách lên, giọng nói dịu dàng mềm mại: “Phụng nương, đi đi. Nếu vì ân cứu mạng thì ngươi đã trả xong rồi.”

Chàng bỗng nhớ tới chuyện trước đây, bỗng cảm thấy có chút không đúng. Thái tử điện hạ nhỏ tuổi năm đó hay mặc thường phục hằng ngày có màu đen ánh đỏ, vì trong điện buổi tối nóng quá nên chỉ mặc một bộ tẩm y vừa mỏng vừa rộng đi ra Phù Dung đường để đọc sách, rốt cuộc khiến người ta tưởng là yêu quái, chàng đi tới bên hồ thấy một bé gái đang bị đạp nước, kéo nó lên, thì ra là một tiểu yêu quái chim tước. Tiểu yêu quái cứng miệng nói Thái tử điện hạ là ân nhân cứu mạng của ả, Thái tử điện hạ cũng thản nhiên gật đầu, dửng dưng thừa nhận. Ai ngờ nhiều năm về sau, tiểu yêu quái này trở thành bệ hạ Điểu quốc, cùng đàn chim khóc sướt mướt cõng chàng đang giả chết bị niêm phong trong Định lăng ra ngoài, dán cổ chàng lại, tự mình biến thành một bà già. Bà lão do con chim tước trắng biến thành khẩn thiết nói: “Điện hạ, ngài nhất định phải báo thù cho Hoàng hậu quá cố.” Phù Tô ngẩng đầu lên, ngọn lửa thù hận trong mắt con chim nhỏ này còn dữ dội hơn cả chàng.

Chân tướng của báo ân, quả thật khó mà giải thích. Như giữa Thu Lê và Quý Duệ, Phụng nương và chàng, chàng và Hề Sơn quân, đều là những bài học đầy máu.

Phù Tô ngẫm nghĩ, cẩn thận suy xét một hồi, mới thản nhiên nở nụ cười, “Sai rồi, hẳn là Bệ hạ có gì cần nhờ, nếu phải dùng Tô cứ nói đừng ngại.”

Phụng nương hơi chột dạ, hồi lâu mới cầm khăn tay lau nước mắt, nghẹn ngào nói: “Thiếp, thiếp thật sự hết cách rồi, Điện hạ, lần này ngài nhất định phải giúp ta.”

Hề Sơn quân đứng bên cạnh nhếch mép cười, trên đời này, chưa biết ai mới là lưu manh.

***

Lại nói, Điểu vương điện hạ Phụng nương vốn là một yêu vương tu luyện rất cần cù chăm chỉ, vất vả trải qua bảy tai tám kiếp, có oán báo oán có thù báo thù, minh minh bạch bạch đi tới ngày hôm nay, có công đức thì tu, có thể giúp người thì giúp chứ chưa bao giờ ăn thịt hay hại bất kì ai. Tự kiềm chế mấy ngàn năm nay mới tu thành Tiên, quả thật không dễ dầu gì. Đến bước tu tiên cuối cùng, trải qua lôi kiếp xong rồi nhưng sống chết gì cũng không thể phi thăng, Bệ hạ phiền muộn tới mức ói một chậu máu đầy. Ả đi tới mọi tiên sơn hỏi các tiên nhân, các chúng tiên đều không đưa ra được một câu trả lời, sau này có một vị địa tiên tính tình nhiệt tình tốt bụng, nhân ngày tới lên trời phục mệnh thì có đặc biệt hỏi các đạo hữu tiên quân, lúc ấy mới hay hai vị đứng đầu Thiên tôn cãi nhau, Phụng nương chính là nạn nhân cuộc tranh cãi của bọn họ.

Từ sau thời phong thần, hai vị Thiên tôn đã không vừa mắt đối phương, tuy có chút tình nghĩa đồng môn nhưng nhìn xem nhân mã khắp nơi, ngũ nhạc tam xuyên, lạc trừng hoàng trường, thập điện địa phủ, thiên quân nhân vương, có chỗ nào mà không có học trò hai vị nhị tôn đang tranh giành? Hôm nay ngươi làm Thái Sơn quân thì chắc chắn ngày mai hắn sẽ làm chủ Hoa Sơn điện; Đồ nhi của người này xuống trần gian vào triều đình rèn luyện lập công lớn thì thế nào cao đồ của vị kia cũng làm gian thần nịnh tướng, chăm chăm đi lột da vút roi các tuyệt thế công thần. Mặt mày hai vị Thiên tôn đều ôn hòa hiền hậu, râu dài hơn váy tiên nữ nhưng sống đã sống tịch mịch suốt mấy ngàn vạn năm nên tính nết hơi trẻ con, đấu nhau từ trên trời xuống dưới đất, từ trần gian qua minh giới. Không cần biết qua bao nhiêu tầng trời, hai lão già này không vui thì đến điện Thiên quân cũng bị quậy ầm ĩ. Các vị trên trời đều biết lặng lẽ xếp hàng, ngay cả con chó nhà Linh Bảo Thiên tôn cũng biết ưỡn ngực sủa con mèo nhà Đạo Đức chân quân!

Bên này thấy Tước vương sắp tới ngày quy vị, Linh Bảo Thiên tôn đang vui vẻ vì sắp có một kiện tướng đắc lực, thì bên kia Đạo Đức Chân quân lại không vui. Một con khổng tước trắng nho nhỏ, cả đời mới chỉ tiện tay làm mối an thai thôi, trước đây không có công đức gì vượt bậc, làm một thần chức vô dụng ngàn năm, dựa vào gì để ả được ăn may như vậy? Vào đúng dịp tiệc trà của các tiên, Chân quân chỉ cây dâu mắng cây hòe mà nói: “Mấy cái cửa sau của lão nhi xa hoa là thế, mà đầy rẫy một đám súc sinh, yêu khí ngất trời rồi mà còn kéo thêm về, hào quang trên trời nay cũng nhuộm luôn màu cứt gà rồi, rốt cuộc có biết xấu hổ hay không?”

Dưới môn hạ của Linh Bảo có nhiều súc vật, hình như đây cũng là sở thích của vị Thiên tôn này.

Linh Bảo Thiên Tôn cười lạnh, vẫy cây phất trần nói,“Trên trời dưới đất ai cũng biết, môn hạ của Linh Bảo ta đây, trước đây chưa từng có đồ đệ nào có đạo tâm lung lay, tuy có là linh vật tu thành nhưng tính tình đứa nào đứa đó đơn thuần, hấp thụ khí đất trời mà sống, còn hơn cái đám ra vẻ đạo mạo chẳng biết thác sanh đi từ đâu ra.”

Đạo Đức Chân quân có một nguyên tắc rằng, cho dù sư đệ nói cái gì, miễn là cứ theo đó mà nói ngược lại thì sẽ có thể ra được chân lý đất trời trước nay không hề thay đổi. Mà quan trọng là nếu có thể đánh tan nhuệ khí của sư đệ thì dẫu hắn có dốc hết sức lực toàn môn cũng được.

Đạo Đức Chân quân bẩm Thiên quân: “Nếu đã thế, nguyện đánh cược với Linh Bảo một phen.”

Thiên quân sớm đã chán ngán với trò tranh chấp đối đầu nhau của hai vị Thiên tôn, chỉ cười bảo: “Tất nhiên là được, vậy để Quả nhân quyết định quà thắng cuộc. Nếu thắng, trong vòng ba ngàn năm, hễ thấy đối phương thì phải hành lễ, trong lòng không được lộ ra bất kì căm phẫn nào. Còn việc chọn người, cũng do Quả nhân chọn. Một là môn hạ Linh Bảo, một là đồ đệ Đạo Đức, đều là những học trò mà hai ngươi ưng ý, nhất định không được đổi đạo tâm, ai bỏ đạo, rơi vào phàm trần thì tính là thua, thế nào?”

Nhi tôn đều bảo hay.

Người được chọn trong môn hạ Linh Bảo, chính là Phụng nương. Theo ý chỉ Thiên tôn, nếu ả có thể thắng, bất chấp mọi thủ đoạn, tới khi lập được công đức thì nhất định sẽ được phi thăng lên trời.

“Vậy quan hệ gì tới Cô?” Phù Tô ngạc nhiên.

Phụng nương tức ta tức tưởi khóc lóc: “Công tử nào biết, theo ý chỉ Thiên quân, lần này ta không chỉ phải tới bên Thanh Thành điện hạ bảy mươi năm trước, cũng chính là bà cô của ngài mà còn phải quyến rũ Vân tướng năm đó để ông ta vứt bỏ đạo tâm, thích Thanh Thành điện hạ thì mới tính là thắng. Mặc dù pháp lực của thiếp không tệ nhưng nếu dùng biện pháp di hồn đổi xác, sẽ không thể chăm sóc chân thân nên cần có long khí che chở bảy bảy bốn chín ngày mới đảm bảo không bị dã thú ăn thịt. Nhưng long khí bình thường thì đâu có được? Thế nên không còn cách nào khác thiếp mới nhờ tới công tử.”

Hề Sơn quân cười lạnh, “Bệ hạ giỏi nhỉ? Ngươi lừa ai đó? Dã thú tầm thường sao dám tới gần thân xác ngươi? Hẳn là ngươi đã nhận tin Đạo Đức Chân quân muốn thừa dịp ngươi thi pháp sẽ phái học trò tổn hại chân thân ngươi nên mới nhớ tới Phù Tô chứ gì. Phù Tô chưa chết, thân là Thái tử Bách quốc, ngươi ắt cho rằng đến lúc đó Đạo Đức Chân quân muốn làm gì cũng phải băn khoăn mấy phần. Ngươi nghĩ ra ý kiến hay đấy. Ta giỏi bói toán mà còn không biết rốt cuộc Đạo Đức Chân quân muốn đưa ai lên làm quân chủ trần gian, nếu ông ta muốn hại Phù Tô, trốn còn không kịp, nào có đạo lý tự nộp mình tới cửa?”

Phụng nương tỏ ra đáng thương: “Công tử là vị hôn phu tương lai của Sơn quân, Sơn quân ở bên cạnh, chẳng lẽ lại khoanh tay đứng nhìn?”

Hề Sơn quân không thích Phụng nương ba phần, cảm thấy tâm tư ả quá thâm độc, trong chuyện này, vừa lợi dụng Phù Tô vừa lợi dụng nàng. Mặt vẫn không biểu cảm, trong đầu suy nghĩ, thành khẩn nói: “Không phải ta không chịu giúp Bệ hạ, chỉ là nói tới chuyện này thì cũng không cần Bệ hạ phải liều mình như thế. Hơn nữa Bệ hạ trước nay một lòng hướng đạo, chưa từng có phàm tâm thì có khi sẽ không dễ thắng. Nếu đã vậy, hãy cứ làm theo cách của ta, nếu ngươi chiến thắng, sau này sẽ phải cho ta mượn một vật để dùng.”

***

Năm đó, Thanh Thành điện hạ hai mươi tuổi, tính theo số năm thì đây là năm thứ hai nàng thích quan Trạng nguyên Vân Lang. (* Lang-琅 trong Vân Lang là ngọc cẩm thạch)

Mỗi ngày sau khi Trưởng công chúa thức dậy sẽ có hai chuyện muốn làm.

Chuyện thứ nhất, nhìn gương trang điểm dán hoa vàng (*), cố gắng ăn diện thành cô nương đẹp nhất trên đời. Chuyện thứ hai là tới hồ Thái Dịch ở sâu trong Thượng Thư các, đợi thiếu niên Vân Lang đi đến.

(*) Chỉ cách trang điểm của phụ nữ thời xưa, bắt nguồn từ thời Tần, tới Ngụy Tấn, Nam Bắc triều Tùy đường mới bắt đầu càng phổ biến, là hình thức dùng phấn bột màu vàng vẽ hoặc cắt giấy vàng thành hình trăng sao hoa bướm để dán lên trán, hoặc tô vẽ chút màu vàng lên trán.

Đợi tới khi chàng cự tuyệt tình yêu của mình, Thanh Thành đi dọc theo bờ sông trong làn sương quanh năm không tiêu tán trở về đầu nguồn hồ Thái Dịch, kết thúc một ngày.

Bên bờ sông hồ Thái Dịch có rất nhiều cành liễu rũ, bóng râm xanh mát dưới nắng mặt trời, nhìn xung quanh thấy đất trời mênh mông, không rõ nơi xa kia có gì.

Suốt dọc đường Thanh Thành đi mà chán lắm, thường xuyên thi với cung nữ đi trên tấm đá xanh. Oẳn tù tì phân thắng bại, tiểu công chúa thường thua, nhìn đôi chân nhỏ nhắn của cung nữ như con thỏ trắng, ngoan ngoãn thật thà nhảy về phía trước một bước. Cung nữ từ từ cách nàng rất xa, theo chiều gió giơ khăn ngửa cổ lên gọi: “Điện hạ, từ đây có thể nhìn thấy Vân lang  (*) nè.”

(*) Lang –  này là dùng để gọi một người nào đó, tránh gọi thẳng họ tên. Khác với chữ Lang (琅) trong tên Vân Lang. Dùng chữ lang – 郎 này sẽ không viết hoa để dễ phân biệt.

Thanh Thành thường gọi thẳng tên họ của Vân trạng nguyên là ‘Vân Lang’, khiến cho đám thiếu nữ bên cạnh nàng cũng học theo gọi ‘Vân lang’. Cũng không biết gọi thẳng tên chàng như vậy là vì kiêu ngạo hay vì hèn mọn. Nàng cảm thấy mình rất kiêu ngạo, nhưng thật ra, đám con gái kia hiểu nàng, những tiếng gọi ‘Vân lang’ đó khiến nàng vô thức cảm thấy mình chỉ có thể hèn mọn vậy thôi.

Cũng không biết vì sao lại thích Vân Lang như vậy nữa, chỉ là thứ tình cảm này như một đóa hoa, mọc trên một miếng đất không phù hợp. Nàng thường xuyên mơ thấy chàng, thường xuyên giả vờ vô tình gặp phải chàng, có thể là lúc ở bên cầu, trong vườn hoa hoặc khi ở cung yến, hay trên triều đình. Hình như do bị lên men ở trong cung, năm đó, ngày nọ, nàng không màng tới quy củ, hùng hổ mắng vương tử ngoại tộc tới cầu thân, hoặc xúc phạm con nhà thế gia tới cầu thân, khiến mặt mày họ biến đủ thứ màu. Thanh Thành quả thật là một cô nương không hiểu quy củ nhất thế gian, thiếu niên Vân Lang thường vô tình gặp phải cô nàng mặt dày mày dạn này, bất đắc dĩ không biết phải làm sao, chỉ đành mỉm cười nhẹ. Nàng cũng không thường nghĩ tới Vân Lang lắm, vì chỉ cần nghĩ tới sự thật là chàng không thích, trong lòng cảm thấy đau đớn khổ sở suýt nữa không hít thở được mà chết.

Vân Lang có tên tự là Bạch Thạch, là trưởng tôn của Vân thị ở Phúc Châu. Đã lâu Vân thị chưa từng có một nhân tài xuất chúng đến vậy, mọi người trong tộc đều coi chàng là hi vọng, nhưng từ nhỏ chàng đã vui vẻ nói, trong mắt không màng thế tục, chỉ có quân vương bách tính và triều đình dân gian, chưa từng tốn chút xíu thời gian nào nghĩ tới những chuyện ân tình vặt vãnh, nhất là chuyện nam nữ.

Mẫu hậu dịu dàng đôn hậu, thường xuyên lựa lời uyển chuyển nhắc: “Nhẫn Đông à, trăng sao trên trời cũng đẹp lắm, vì sao con chỉ nhìn mà chưa từng nghĩ sẽ lấy xuống?”

Ấy cũng vì quá xa xôi, chỉ có thể ngước nhìn, thích vậy đó nhưng vĩnh viễn không thể với tới. Bởi thế, cũng như Vân Lang.

Phụ thân Lý Tông bệ hạ rút cây ngự kiếm bén ngót, ném dưới chân nàng, nổi giận đùng đùng: “Nhà họ Thành ta trước nay chưa từng có một công chúa phải hèn nhát như vậy, cũng chưa từng có ai không biết điều, phụ lòng các thần tử như thế. Hoặc là con giết hắn, hoặc tự vẫn đi!”

Thanh Thành cảm thấy dưới chân mình lạnh ngắt thấu xương, bịt kín mắt. Hồi lâu sau mới he hé nhìn lén sắc mặt Phụ thân. Phụ thân không nổi giận, bình tĩnh nhìn nàng.

Giết Vân Lang, nàng không sống nổi. Nhưng tự giết mình thì Vân Lang chắc chắn sẽ vẫn sống tốt như thường, mặc triều phục màu đỏ đĩnh đạc an tĩnh đứng trong triều, mà đáng sợ hơn có lẽ là qua ngày thứ hai chàng đã quên mất mình luôn rồi.

“Phụ thân, con cần suy nghĩ kĩ về chuyện này.” Nhẫn Đông đau khổ nhăn nhó nhặt kiếm bỏ đi.

Trưa hôm đó, lúc mặt trời ở ngay đỉnh đầu, nội thị lúng túng thưa: “Bệ hạ, cạnh hồ Thái Dịch có hai cái cây nhỏ chẳng biết bị ai chém gãy, cũng không biết thế nào, đắp thành hai gò đất, ghi là, ghi là…”

“Ghi cái gì?” Lý Tông vừa phê tấu chương vừa hỏi.

Nội thị nuốt nước miếng, lí nhí: “Ghi Mộ của Nhẫn Đông và Vân Lang.”

Lý Tông khựng bút, một giọt mực lớn rơi xuống.

Có tiền đồ ghê nhỉ. Cầm cây kiếm mà chỉ dám chặt cây cho hả giận, một nhát chém gãy hai cây, còn chôn cùng nhau, đặt tên một cây Nhẫn Đông, một cây Vân Lang, công chúa khóc ghi rằng, lại thành vợ chồng quỷ.

Bệ hạ hết cách, quyết định mặc kệ cô con gái này. Ngôi mộ kia trở thành câu chuyện cười ở hồ Thái Dịch cuối Hàn Lâm viện và Thượng thư các, hễ buồn là nhắc lại, chẳng ai thấy chán.

Vân Lang rảo bước nhanh như gió, lúc tới trước tam cung bẩm báo chính sự có thi thoảng nhìn qua cái ụ đất kia, nhưng cũng không để trong lòng.

Nhẫn Đông trốn sau cây tự đập đầu như muốn đập gãy răng, nhìn bóng người cao cao kia, thở ngắn than dài. Ai oán một tiếng, rơi một giọt nước mắt, thở dài một hơi, rồi lau khô.

Từ hai năm trước khi bị đập đầu vào bụi tường vi, sau khi mất trí nhớ thì Nhẫn Đông chưa khóc bao giờ. Nàng không biết con người sẽ khóc vào lúc nào, thế nhưng nhìn dòng chũ ‘Mộ của Nhẫn Đông và Vân Lang’, nhìn ngang nhìn dọc, cảm thấy thật sự tuyệt vọng đến mức không còn cách nào hết.

Tiểu công chúa hai mươi tuổi cảm thấy tuyệt vọng, nhưng mà con người sống trên đời ấy mà, chọn đường nào thì phải tự chịu khổ sở của con đường ấy. Tính theo năm, nàng đã hai mươi ba tuổi, thích Vân Lang được năm năm rồi, bộ dáng tuyệt vọng lại đổi sang kiểu khác

Năm đó, Vân Bạch Thạch hai mươi mốt tuổi từ trong Thượng thư các đi ra, nay đã ngồi vững vị trí Phụng Thường (*), đứng đầu Cửu khanh, rời khỏi cuối hồ Thái Dịch. Ánh trăng soi rõ, chiếu sáng cả một phần lầu các nơi Thanh Thành đang nhìn tới, lúc đang ba chân bốn cẳng chạy bên bờ hồ Thái Dịch tĩnh lặng, rốt cuộc vẫn không nhìn thấy thiếu niên một thân áo đỏ, ngày ngày ngồi trong lầu các. Chàng vẫn thường thong thả cẩn thận, ngồi lật hết tờ văn thư này tờ khác dưới ánh nến lập lòe mà chẳng bao giờ ngẩng đầu nhìn nàng đang đứng dưới cây liễu xa xa. Nhẫn Đông cảm thấy chắc mình là người có cái cổ dài nhất trong tất cả các công chúa mọi triều đại, vì phải ngểnh cổ, nhóm chân thế này mới có thể nhìn Vân Lang. Cái cổ duyên dáng cao quý của công chúa được luyện tập thế này mà ra, nghĩ tới là xấu hổ quá.

(*) Một chức quan trong Cửu khanh, trông coi việc thờ cứng xã tắc, tông miếu và triều hội cũng như các lễ nghi mai táng.

Nhưng mà bây giờ nhìn lên, ở đó vắng tênh, tối thủi thùi thui.

Nhẫn Đông xin ý chỉ của Bệ hạ, muốn khai phủ xây nha.

Phủ công chúa ở kế bên dinh Phụng Thường. Cách một bức tường, Nhẫn Đông dỏng tai là có thể nghe thấy tiếng của Vân Lang. Thế là nàng ngồi cả ngày bên cạnh bức tường viện để thuê thùa trồng hoa, mỗi khi mệt thì vào nằm trên giường, không làm gì ngẩn người ra. Trong nắng có những hạt bụi đang bay tới trước mặt, nàng vẫn luôn chìm trong suy nghĩ, tự mình nằm yên không nhúc nhích, có lẽ sẽ có một ngày bị bụi bao phủ, có lẽ sẽ có một ngày bỗng không còn thích Vân lang nữa.

Ngày đó, nhất định sẽ là một giấc mộng cực kì cực kì xinh đẹp.

Là một cô gái quá lứa lỡ thì hai mươi ba tuổi, thi thoảng làm cáo mượn oai hùm vênh váo đi trong thành, mấy cái mão cao cao bắt đầu làm như không nhìn thấy nàng. Dù nàng có khí thế Tam quốc thì sao chứ? Là một cô gái quá lứa lỡ thì kì kì quái quái, hơi bị u ám, không chừng qua ngày hôm sau không chịu được nữa, nổi điên thì sao.

Hoàng thất cũng bắt đầu lảng tránh hai chữ ‘Thanh Thành’. Thanh Thành trở thành đề tài khiến Bệ hạ và Nương nương đỏ mặt, người bình thường không dám tùy tiện nhắc tới. Nhẫn Đông thích sưu tầm những con vật nhỏ có hình thù kì lạ, thi thoảng đi tới trước cửa viện Phụng Thường, tranh thủ dịp tiết khí Vân Lang đang phơi nắng dụng cụ hiến tế thì vơ vội mèo chó nào đó chạy tới trước mặt Vân Lang.

“Vân khanh.”

“Vâng, thưa điện hạ.”

“Chàng thấy con sói ta mới mua thế nào? Nghe đâu là sói tuyết con đấy, vào đông thì lông vàng trên người sẽ biến thành màu tuyết, uy phong lẫm liệt, há mồm một cái là có thể cắn đứt cổ heo luôn!”

“Điện hạ, thần thấy con này có lông vàng toàn thân, lông dài rủ đất, tai nhọn, mũi tròn, lưỡi thè tới cằm, rõ ràng là con chó, là giống chó sư tử (*) chưa trưởng thành.”

(*) Hay ngày nay thường gọi là chó Chow Chow.

Nhẫn Đông hậm hực chán nản ôm chó con về phủ. Có đôi lúc Vân Lang thật đáng ghét, vì chàng chỉ nói thật mà thôi.

Nhẫn Đông đã qua thời tuổi xuân đẹp đẽ, còn Phụng Thường khanh hai mươi mốt tuổi lại đương lúc rực rỡ chói lòa.

Nghe nói Nhị cô nương nhà Thái Úy và Út nữ nhà Tư Không đánh nhau trên phố. Cả hai đều là đại mỹ nhân yểu điệu duyên dáng mà đánh dữ quá chừng, mấy bà đanh đá trên phố còn thua xa. Xưa nay Thái Úy vốn không ưa gì Tư Không, hai nhà lại là hàng xóm đối diện, Thái Úy đại nhân đứng trên bờ tường, cầm đuốc nhảy đông đổng: “Thằng ranh chó chết, ta nói đánh ngươi nói hòa, ta nói cứu trợ thiên tai ngươi kêu quốc khố trống rỗng. Khó khăn lắm ông đây mới chọn được thằng rể mà cmn ngươi lại tới cướp! Mang ngựa qua đây, hôm nay ta không đốt nhà của ngươi thì mai lên ngự tiền ông đây cũng đổi họ ngươi!”

Tư Không vốn là người văn nhã, giờ cũng không làm gì, bắc thang loạng choạng trèo lên, cầm nắm bùn cố sức ném qua nha nhà đối diện, “Ta… Ta ném chết ông! Còn dám tính toán với ta à! Năm đó cả nhà ông thổ phỉ đê tiện bị quân của Tề vương đánh chạy trối chết, cũng là nhờ ông cố nội nhà ông là ta đây cầm được Hoàng lệnh mới giữ được ông! Bây giờ còn chu mông làm gì? Đừng tưởng người ngoài không biết gốc gác nhà ông ra sao! Nhất định ta phải có người con rể này, ông dám đốt nhà ông cố nội mình, ngày mai ông cố nội ông sẽ đào mộ tổ tiên nhà ông!”

Nghe nói cuộc võ mồm này náo nhiệt, tưng bừng lắm. Nghe nói khi binh mã tư kinh kỳ Lý tướng quân tới hòa giải thì lệ rơi đầy mặt, bên này trúng tát, bên kia chịu đạp, ầm ĩ tới hơn nửa đêm mới yên.

Nghe nói người con rể mà bọn họ giành chính là Phụng Thường khanh mới nhậm chức, Vân Bạch Thạch. Mắt Vân Bạch Thạch xưa nay luôn nhìn thẳng, rõ ràng chẳng hề có tâm tư dụ dỗ cô nương nhà nào. Cậu con rể thế này, tám phần là do các cha vợ chọn trước, sau đó các cô nương bị cha mẹ đầu độc, cảm thấy đó là vật cá nhân của mình rồi, vốn là nhà danh gia vọng tộc hô mưa gọi gió đã quen, bỗng nghe thấy có người định cướp thì sao có thể không cầm sẵn cục gạch trong tay.

Ngày hôm sau, vì trị gia không nghiêm mà Thái Úy và Tư Không bị phạt ba tháng tiền lương, Bệ hạ nghĩ tới đứa con gái chẳng hề thua kém của mình nên cũng tự thấy ngại, vì thế cứ ậm ờ cho qua chuyện.

Mấy hôm sau, Phúc Châu Vân thị lão Phong quân (*) lên điện Thái âm, xin Hoàng hậu nương nương ban chỉ tứ hôn cháu mình Vân Lang và con gái của thế gia Minh thị, Minh Lan, mỹ nhân nổi tiếng Bách quốc, năm nay mới tròn mười bốn tuổi.

(*) Phong quân = quý tộc được phong ấp

Vân Phong quân thưa: “Hai nhà Vân, Minh đã qua lại nhiều đời, Minh Lan từ nhỏ luôn kính mến Vân Lang, Vân Lang và nàng vốn cũng là thanh mai trúc mã.”

Hoàng hậu nhớ tới cô con gái sắp hai mươi bốn tuổi của mình, thở dài, đồng ý.

Lúc ý chỉ được đưa tới Phụng thường viện, Nhẫn Đông nghe rất rõ ràng. Vân Bạch Thạch chỉ cách mình vài bước, nhưng thật ra vài bước đó lại cách tới hàng ngàn cục gạch khác.

Thị nữ của nàng đang đứng xa quá, thái giám truyền chỉ như đọc mãi đoạn này không xong, có bốn chữ ‘Cặp đôi trời sinh’ mà Nhẫn Đông cảm thấy hắn đã kéo dài từng chữ một, như thể không cần động tay đứng cách một bức tường mà đã đánh chết được nàng, nên cứ kéo không chịu thôi.

Máu rơi xuống vạt áo, thấm ướt một lóp vải xanh.

Cục đá kia không nhúc nhích, Nhẫn Đông đập một hồi lâu, máu me bê bết rồi bật khóc. Nàng áp mặt mình lên những viên đá nóng hôi hổi đến cháy người, cố gắng không để phát ra bất kì tiếng khóc nào, nổi gai ốc toàn thân, dùng tất cả hơi sức để kiềm chế, chỉ sợ Vân Lang ở cách đó không xa nghe thấy tiếng gì.

Tất cả mọi người đều biết nàng yêu chàng hèn mọn chừng nào, nhưng chuyện này thì nàng chưa từng nhượng bộ. Nếu nàng không giữ tôn nghiêm cho chính bản thân, để chàng cảm thấy mình là một cô nương yêu một kiêu hãnh, sống một cách tự do, để chàng biết mình không có chàng thì vẫn có thể vui vẻ với cuộc đời này như trước đây thì sợ rằng nàng không thể sống nổi.

Nhưng mà trên đời này, ngoại trừ tiếng ho phong hàn không kiềm được thì còn có cả tiếng khóc thút thít. Nàng cắn chặt mười ngón tay đến máu chảy đầm đìa, bóp cổ họng thật chặt đến mức thở hổn hển, nhưng không thể nào đè nén tiếng nức nở.

Nàng biết chắc chắn tất cả bọn họ đều đã nghe được mất rồi. Vì bỗng dưng cái viện bên cạnh im ắng bất ngờ. Cả người Nhẫn Đông lạnh ngắt, tay chân nhũn ra, không nhấc nổi bước chân. Nàng chỉ biết quỳ mọp xuống đất, vươn hai tay như đồ điên, bám trên bùn đất, bò về phía trước như loài côn trùng.

Đây là lần đầu tiên trong đời nàng trở nên hèn mọn đến vậy. Toàn bộ nước mắt mặn đắng thấm hết vào đất bùn.

Con đường đó là con đường nàng tốn sức nhất từ lúc mới bắt đầu biết đi đến giờ, cảm thấy bị từng cái lá cọng cỏ trên đường đánh bại, chúng mềm mại là thế mà có thể làm đau nàng đến vậy, như chính trái tim của nàng. Thứ có thể tổn thương nàng, rốt cuộc thì vẫn chỉ có trái tim thật thà thấu rõ chính bản thân.

Nàng sầu đau trong phủ công chúa suốt nhiều ngày, về sau mới nghe kể, Vân Lang đã cự hôn.

Vân Lang dâng thánh chỉ lên ngự tiền, nói: “Cả đời thần hướng đạo, chưa từng nghĩ tới tình cảm nam nữ, nếu phải miễn cưỡng để thành nhân duyên thì chẳng qua chỉ là hại mình hại người. Lòng thương của tổ mẫu, ý tổt của Điện hạ nương nương, nhưng Bạch Thạch thật sự không dám tuân theo.”

Có lẽ Bệ hạ cũng đang nghĩ tới đứa con gái không có tiền đồ của mình, nhíu mày một lúc rồi cũng thản nhiên đồng ý.

Suy nghĩ của Nhẫn Đông lại thay đổi. Đáng ra phải vui mừng, nhưng nay lại đang đau khổ kiểu khác. Nhẫn Đông hai mươi ba tuổi, bi kịch lớn nhất nàng có thể nghĩ tới không phải Vân Lang không thích mình, không muốn lấy mình mà là chàng không thích bất kì ai, không muốn cưới một ai cả. Mặc nàng đã thích chàng từ mười tám đến hai mươi ba, hay từ hai mươi ba đến bao nhiêu chăng nữa, dù nàng có cố gắng thế nào, dù cho giả vờ không hề cố gắng thì cũng chẳng có tác dụng gì.

Nhẫn Đông không chấp nhận số phận, nhưng mà vận số này càng không nhìn thấu, lúc nàng đang dương dương tự đắc kiên trì gì đó thì nó đã kéo sinh minh mệnh nàng rời xa khỏi giấc mộng ban đầu. Nàng lờ mờ không nhận ra, sáng sớm mỗi ngày vẫn ngậm muối trúc (*) thật lâu, để mỗi khi dắt chó mèo đi dạo nhoẻn miệng cười lộ răng trắng lóa mắt cho chàng ở xa nhìn một cái.

(*) Muối trúc: Được làm bằng muối phơi khô vào trúc ba năm tuổi, lấy đất vàng bịt kín, dùng gỗ cây tùng đốt, nung 1000-1300 độ mà ra. Ý bảo muối này tốn kém, hiếm hoi mà Nhẫn Đông chỉ dùng để súc miệng trắng răng.

Nhẫn Đông thường nghĩ, nếu nàng mà là đàn ông thì chẳng có tiểu cô nương nào trên đời này mà không bị nàng quyến rũ hết. Nhưng Vân Lang lại chính là một người đàn ông đã bị Lý Đam (*) quyến rũ nhiều năm, kiếp trước nuốt quả cân rồi đầu thai (*), từ khi sinh đã mang nhiệm vụ dạy Nhẫn Đông từ con rồng thoái hóa thành con sâu lông.

(*) Lý Đam – còn được gọi là Lão Tử, được coi là người viết Đạo đức kinh (道德經) – cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn, và ông được công nhận là Khai tổ của Đạo giáo (Đạo tổ 道祖), là một trong ba tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hoá trung hoa, hay còn gọi là Tam giáo.

(*) Quả cân làm bằng sắt, ý bảo nuốt vào bụng giúp lòng dạ quyết tâm sắt đá.

Lúc nàng hai mươi lăm tuổi thì Bệ hạ và nương nương cũng không còn quan tâm nhiều nữa, mặc nàng tự vui trong nội thành. Thi thoảng trong cung có cúng tế ngày xuân, nàng tiến cung thỉnh an, nhìn thấy Phụng Thường khanh đại nhân đang chia phúc cho cô nương thiếu lang các nhà, cầm cành liễu nhúng vào nước mưa đầu tiên của mùa xuân, phẩy qua trán của đám trẻ, dải ngọc trên mỹ quan đung đưa, càng tôn thêm khuôn mặt như ngọc.

Các quý nữ ngượng ngùng khép nép xếp hàng nhìn lén ngọc lang, còn Nhẫn Đông thì bận lắm. Xếp hàng chờ nhận nước phúc xong, nháy mắt, nàng lại bay xuống cuối hàng đứng xếp tiếp, hết lượt này tới lượt khác, tự mình thấy vui. Cuối cùng, khi mái tóc đen của Thanh Thành điện hạ ướt đẫm mưa xuân, nàng vẫn vui vui vẻ vẻ đứng thẳng lưng, trước mặt Phụng Thường khanh đại nhân mặc một thân áo đen.

“Điện hạ, thế này không hợp lễ.” Vân Lang ý nhị ôn hòa, như đang khuyên nhủ một đứa trẻ không hiểu chuyện chứ những người bên cạnh bị Thanh Thành điện hạ đều bối rối không biết làm sao.

Nhẫn Đông là một nhân vật cực kì bá đạo, cực kì liều lĩnh, nàng vén mấy sợi tóc ướt đẫm qua hai bên, lộ ra đôi mắt cực to, hung dữ nói: “Ta đường đường là một công chúa, đáng ra phải được hưởng phúc khí lớn nhất thế gian này. Chẳng qua có mấy giọt mưa chứ mấy, hôm khác trời mưa ta hứng một vại rồi cho người trả chàng! Còn rề rà thế này, thừa bao nhiêu ta cho chàng uống hết bây giờ!”

Vân Lang ngẩn ra, bình tĩnh nhìn nàng, hồi lâu sau mới lấy một cái khăn mềm thêu trúc xanh đưa nàng, cười nói: “Không phải thần không biết trên biết dưới, chẳng qua lúc hứng đợt mưa này là lúc trực đêm, Điện hạ ngại tiếng chậu đồng làm phiền thanh mộng của người nên hứng nước vào chậu ngọc. Dù thần đã cố gắng hết sức để tránh đi, nhưng không khỏi có chút ít ngọc dịch của diện hạ bị lẫn mấy phần vào phúc thủy.”

Nụ cười của Vân Lang dịu dàng đẹp đẽ, nhưng mặt của Nhẫn Đông lại tái xanh. Nàng vẫn nhớ dáng người tùy tiện ôm bô tiểu nửa đêm, vừa chống nạnh vừa chửi của mình, lúc đó đang ngủ mơ màng, mưa rơi lộp bộp vào kim loại điếc cả tai, không thể chịu nổi. Cả đầu nóng bừng bừng.

Vì chuyện này mà Nhẫn Đông xấu hổ suốt một thời gian dài, cuối cùng cũng ý thức được bản thân mình trước giờ là một người rất hay kích động, xốc nổi. Nàng vào thắp hương trong Hoàng tự, thấy các đại hòa thượng ai cũng ôn hòa lễ độ, khiến người ta thấy ấm áp như gió xuân, trong lòng không khỏi hâm mộ ba phần. Nếu nàng cũng mềm mỏng dịu dàng một chút thì chắc Vân Lang sẽ đối xử với nàng bằng con mắt khác đi phần nào chăng.

Nàng đọc kinh phật mấy ngày liền, ấy mà lại thêm bức bối, lúc muốn bỏ cuộc cho xong thì biết vợ của quản sự trong phủ bị kiết lị nên không dám ăn mặn, mới ăn chay có mấy hôm thôi đã oán thán suốt ngày, bảo là ngày nào cũng đói, không có sức lực, cũng không nổi nóng nổi nữa.

Mắt Nhẫn Đông sáng rỡ. Nàng vốn không tin vào mấy cái thuyết quỷ thần tu hành này, đọc mấy quyển kinh kệ này thì làm sao thay đổi tính tình? Nhưng lời của vợ quản sự đã khai sáng nàng. Vợ quản sự vốn làm một người nóng nảy, ăn chay là có thể không nổi nóng nữa, thì ra các đại hòa thượng ôn hòa nhã nhặn như vậy là vì không ăn đồ mặn nên không có sức chứ gì.

Nhẫn Đông là một người không thịt không vui, nhất là miếng ba chỉ mỏng mỏng trong món nếp bọc thịt. Tính khí của công chúa diện hạ cũng do miếng thịt đó mà ra. Nhưng mà, bây giờ nay đã khác xưa, Nhẫn Đông đã ngộ ra rồi, nàng bắt đầu ăn chay.

Ăn được khoảng nửa tháng, Thanh Thành trưởng công chúa hồi trước uy phong lẫm liệt, nói chuyện cay nghiệt nay thành một miếng đậu hũ run lẩy bẩy, như thể đập cái là nát. Lúc nàng mang vành mắt thâm xì ôm mèo chó đứng đợi trước Phụng Thường tự, thấy Vân Lang bước từ trong kiệu lam như cây tùng bách, máu nóng trong người lại chảy rần rần, giống như giếng mới vừa được đào trúng, đột ngột phun trào. Nàng nhìn chàng, vẫn không thể trở nên bình tĩnh tao nhã, khiến chàng phải nhìn mình bằng một cặp mắt khác như trong tưởng tượng.

Dường như nàng có thể nghe được tiếng máu chảy ồ ạt trong người, như một người không tiêu hóa nổi đồ bổ đột nhiên ăn một đống thịt béo dầu mỡ, hai mắt Nhẫn Đông tối sầm, không còn tri giác.

Lúc Nhẫn Đông tỉnh lại, tì nữ cố gắng nháy mắt ra hiệu với nàng, nàng sực nghĩ ra gì đó, bất ngờ bật dậy, vén rèm lên, hai mắt sáng trưng, thấy được bộ dạng Vân Lang mặc áo đỏ đang rất kinh ngạc nhìn mình. Chàng đang ở xa xa trong viện, thấp giọng dặn dò tiểu đồng nấu thuốc.

“Ngày mai có thể thêm một nắm bạch thược dược, thục địa vàng.”

“Đang mùa hạ, thêm mấy miếng lá bạc à để mát lành hơn, có ích cho bệnh nhân.”

“Thuốc này không đắng, Điện hạ có thể uống nước nhưng ô mai, ba chỉ cắt hạt lựu (*瓜子肉) thì để chờ một chút rồi hẵng đưa vào.”

“Những thứ như thịt bồ câu tuy tốt, Điện hạ cũng cần tẩm bổ nhưng phải theo trình tự.”

***

Thấy Nhẫn Đông tỉnh lại, Vân Lang cười nhẹ, từ xa hành lễ: “Thần Vân Lang mạo muội, trong tình thế nguy cấp, đã mạo phạm điện hạ, xin điện hạ tha lỗi.”

Vân Lang đang thỉnh tội vì đã ôm Nhẫn Đông về phủ, Nhẫn Đông mặt mày xanh xao, môi trắng bệch, nhìn cái bộ chàng muốn tránh mình còn không kịp, sợ bị nhờ vả mà trong lòng thấy buồn hiu, hoạch họe: “Ngươi vốn là thần tử, thấy quân chủ sinh bệnh, sao thấy chẳng có vẻ mảy may lo lắng?”

Vân Lang rũ mắt: “Thần nguyện tự trừ một năm lương bổng, xin Điện hạ tha cho thần tội không lộ sắc mặt.”

Vân Phụng thường nói, không phải mình không quan tâm mà do vẻ mặt ngày thường nàng không nhìn ra mà thôi.

Biểu cảm của Nhẫn Đông trước nay rất đa dạng như con khỉ, gặp phải Vân Phụng thường mặt  liệt thì không biết phải thể hiện thế nào. Nàng ủ bệnh thời gian dài, trong bụng toàn tà hỏa, thấy bên cạnh nha hoàn đang đứng thẳng trong hành lang có bộ khung thêu, trên đó còn cắm cây kim, lập tức cầm cây kim lên, đi xiêu xiêu vẹo vẹo tới cạnh Vân Lang, như xác chết bật dậy khiến mọi người sợ hết cả hồn.

Sau đó, nàng lôi cánh tay dài như ngọc vủa Vân Phụng thường. Nha hoàn, thị vệ đều hoảng lên, cảnh mà bọn họ không muốn nhìn thấy nhất đã xảy ra, bệnh háo sắc của Điện hạ đã tới mức không thể cứu vãn, cuối cùng không nhịn được nên định dùng sức mạnh với Vân lang quân.

Vóc người Vân Lang cao, lông mi dài như ngón út thiếu nữ, nửa gương mặt chìm trong nắng ấm áp.

Chàng vẫn không hề có chút biểu cảm nào như trước, im lặng cúi đầu nhìn động tác của Nhẫn Đông. Nhẫn Đông không xé áo quần của thanh niên bên ngoài dịu dàng trong lạnh như băng sương này, nàng chỉ lấy cây kim thêu đâm thật mạnh xuống ngón trỏ của Vân Lang. Máu nhanh chóng chảy ra, đôi mắt đen láy của Vân Lang nhìn Nhẫn Đông, ngoại trừ xa cách và cung kính thì chẳng có biểu tình gì khác.

Khuôn mặt Nhẫn Đông nhăn nhúm, tất cả dáng vẻ kiêu ngạo phách lối nháy mắt đều biến mất. Nàng ngẩng đầu lên, khe khẽ v**t v* khuôn mặt trắng như ngọc lạnh buốt như băng của Vân Lang, chán nản nói: “Vân Khanh, kim cũng không thể khiến chàng cảm thấy đau đớn, mặt trời cũng chẳng thể sưởi ấm da thịt chàng thì một kẻ không thể thoát khỏi ngũ hành như ta đây làm gì có biện pháp nào chứ?”

Ấy mà Vân Lang lại lùi về sau mấy bước, con ngươi đen láy không chút cảm xúc nhìn nàng, dùng âm giọng chỉ có hai người mới nghe được, dịu dàng nói: “Điện hạ, chớ tới gần ta như vậy, ta không chịu được.”

Chàng xoay người cáo từ, Nhẫn Đông nhìn ánh nắng, ngồi cuộn người trên ghế tựa, cố gắng dùng hết sức để co mình lại, con mèo nàng nuôi cũng bắt chước cuộn mình, nằm song song với nàng, kêu meo meo.

Mãi lâu sau lúc các thị nữ lo lắng nhìn nàng, Nhẫn Đông mới cất tiếng, kêu ‘meo meo’. Mèo con và Nhẫn Đông cùng thi nhau kêu ‘meo meo meo meo’ liên tục không ngừng. Đám thị nữ ngẩn người, lúc họ đều đang chắc mẩm Nhẫn Đông phát điên rồi thì Nhẫn Đông ngẩng đầu, nhẹ nhàng hỏi: “Các ngươi có biết ta dùng miêu ngữ nói gì không?”

“Chúng nô tỳ cả gan xin hỏi.” Đám tỳ nữ duyên dáng cùng đồng thanh.

Nhẫn Đông nghiêm túc nói: “Ta đang mắng Vân Lang đó.”

Trong đám có một tỳ nữ thấy nàng đáng thương quá, nhìn nàng cười bảo: “Điện hạ mắng gì thế, dạy cho chúng nô tỳ để hiểu hơn với.”

Nhẫn Đông đứng trên ghế tựa, chống nạnh, quay về phía cái viện bên cạnh, dùng hết sức bình sinh, to giọng mắng la: “Vân Lang chàng đúng là cái đồ nhà quê thiếu hiểu biết, đồ con rùa cố chấp không có mắt nhìn. Ta đường đường là chủ Tam quốc mới nhìn trúng chàng, chàng tưởng ông cố nội bà cố nội nhà chàng không đốt mấy trăm cây nhang mà dễ gì được vậy hả?! Nếu tính ta mà như công chúa các thời trước là bây giờ chàng bị tiền dâm hậu sát quăng xác xuống ao rồi! Trước giờ chàng không tự soi mặt mình vào bãi nước tiểu mà xem, ta là cô nương như hoa như ngọc, như liễu rũ trong gió, tô son dặm phấn, thướt tha e lệ thích chàng mà chàng lại tưởng mình là tiên giáng trần thật à? Cầm đáy nồi đập vào đầu đi, chàng có giá lắm chắc! Thích chàng là do mắt ta bị mù, sao cmn chàng cũng không mù luôn giùm cái đi?!”

Liễu rũ trong gió? Tô son dặm phấn? Thướt tha e lệ?

Mấy quan viên cấp thấp trong viện bên cạnh nhịn cười đến khó chịu, cố gắng nháy mắt ra hiệu cho nhau, nhìn chủ vị bên trên, chàng nhi lang xinh đẹp lại vẫn thản nhiên như cũ, vừa lật công văn phê duyệt, miệng nở nụ cười nhạt: “Học vấn của Điện hạ đã tiến bộ rồi.”

Nhẫn Đông xả được cơn giận, ngày hôm sau vui vẻ tham gia tiệc rượu hằng năm của phụ hoàng và mẫu thân mình. Không biết ai lại xếp chỗ ngồi nàng và Vân Lang bên cạnh nhau, nàng hung dữ trừng một cái khiến mấy vị lễ quan rơi nước mắt. Bình thường họ không xếp hai người này ở cạnh nhau thì Thanh Thành điện hạ sẽ mắng chửi liên hồi là ‘đồ ngu ngốc đồ vô dụng’, nay theo thói quen xếp ra vậy thì lại thành chọc phải bà cô này.

Không phải không có lý do mà nàng có thể chịu đựng áp lực cực lớn của vai trò đệ nhất gái ế của đế quốc. Sự hung hãn của Thanh Thành điện hạ thường được lão thái giám lấy làm chuyện kể hằng đêm, dọa mấy tiểu thái giám mới vào cung sợ vãi ra quần.

Là một cô nương rất cá tính, đương nhiên nàng cũng chẳng tỏ ra vui vẻ dễ thương gì với Vân Lang hết. Hồn nhiên há miệng to chân giò đầy dầu mỡ trước mặt chàng, thi thoảng còn đưa mắt qua nhìn như khiêu khích.

Vân Lang vẫn lịch sự tao nhã, ăn vài miếng đã ngưng đũa. Trước nay chàng luôn cẩn trọng, chưa từng buông thả bản thân trong cung yến.

Nhẫn Đông đã hiểu nỗi khổ của ăn không đủ no, cái thói quen không quan tâm Vân Lang là cả người sẽ khó chịu bức bối đúng là không chấp nhận được, nhưng dù sao thì cũng đã thành quen mất rồi. Nàng lấy một con dao nhỏ tinh xảo trong túi ra, thần kinh yếu ớt của Bệ hạ và Nương nương căng lên, vừa nãy bọn họ vẫn làm bộ không nhìn thấy hình ảnh cực kì xấu hổ của khuê nữ, nhưng dẫu gì cũng đã yêu chiều nhiều năm rồi, mắt nhắm mắt mở cho qua.

Quần thần lặng ngắt như tờ. Bọn họ nghĩ hẳn là Nhẫn Đông đang thẹn quá hóa giận, muốn vẽ vài đường lên mặt Vân Phụng thường.

Nhưng Nhẫn Đông không làm như vậy, Nhẫn Đông hùng hục cắt một miếng chân giò lớn, gắp cục thịt còn dính cả miếng da giòn vào dĩa của Vân Lang, lạnh lùng nói: “Ăn!”

Nét mặt hưng phấn của các chư hầu bỗng chốc tái xanh. Đều muốn nhét nha đầu đáng xấu hổ này về lại bụng mẹ. Lúc nghe bảo cháu gái đã mắng Vân Lang một trận to lắm, chư vương còn nghĩ chắc cô nương này đã tỉnh táo lại rồi, không đi mê đắm một gã đàn ông nữa, đều vỗ tay khen hay, nhưng ngày hôm nay thấy cảnh này, bản mặt của tôn thất Thành gia mấy trăm naăm bị tát mấy phát vang quá chừng.

Con ngươi đen láy của Vân Lang nhìn Nhẫn Đông, hồi sau mới cười. Chàng nói: “Điện hạ có bệnh.”

Nhẫn Đông hừ mũi: “Chàng mới có bệnh.”

Vân Lang điềm nhiên ăn xong miếng chân giò, sau đó ngẩng đầu, vẫn nghiêm túc nói: “Điện hạ có hai bệnh.”

Nhẫn Đông lừ mắt, “Cả người chàng mới có bệnh. Ông nội chàng có bệnh, bà nội chàng có bệnh, cha chàng có bệnh, mẹ chàng có bệnh, tỷ tỷ chàng có bệnh, ca ca chàng có bệnh, con chàng có bệnh, cháu nội chàng có bệnh, chắt chàng có bệnh, chút chít chàng có bệnh.”

Vân Lang cúi đầu kính cẩn nghe nàng nói, hồi sau mới ngẩng lên, khóe môi như treo gió xuân, lộ ra nét vui vẻ, mọi người nhìn đến ngây ra, chàng nói: “Bệnh của điện hạ, một là không chịu nghe người ta nói hết; hai là thường khiến ta… thấy vui vẻ thế này.”

Khuôn mặt của Nhẫn Đông ban đầu đen thui như cục đá trong nhà xí, thế nhưng nghe chàng nói thế, bụng cố gắng không cười, nhưng chỉ chốc sau lại gục đầu vào cái bàn ăn bằng gỗ lim tơ vàng, hai vai run lên không ngừng.

Nhẫn Đông hai mươi lăm tuổi, đã từng hận sâu sắc người trong lòng mình, nhưng khi chàng vừa thản nhiên nói những lời đó xong, lại không nhịn được mà cười, trong lòng thấy rất ấm áp.

Năm hai mươi tám tuổi, cháu gái của Nhẫn Đông, Tề quận chúa Thành Linh mới tròn mười sáu tuổi, đi theo cha là anh họ (đường huynh) Tề vương vào hoành thành triều bái dịp tết, hoang mang thắc mắc hỏi: “Cô ơi, người thích Vân tướng ở điểm nào? Chàng ta đúng là một nam nhi tốt hiếm thấy trên đời, nhưng mà theo cháu thấy thì cũng không tốt đến mức để cô có thể thích tới mười năm ròng như vậy.”

Vân Lang lúc này đã là người có danh tiếng hàng đầu Bách quốc. Trong lịch sử của Đại Chiêu, chỉ duy nhất người này, mới hai mươi sáu tuổi đã có thể làm Hữu tướng,

Cha của Nhẫn Đông đã già đi, đặc cách đề bạt Vân Lang, ý muốn sắp xếp cho con trai, em của nàng, Thành Xán một giang sơn cơ nghiệp vững chắc.

Khi đó Thành Linh đã được nghị thân với Giang Đông Tạ hầu, chỉ chờ năm sau cành xuân đâm chồi thì gả cho nhi lang kinh tài tuyệt diễm trong truyền thuyết. Nhẫn Đông nghĩ, lúc mình đương tuổi trẻ như A Linh đang làm gì? Khi đó, nàng bị đập đầu vào một tảng đá trong bụi hoa nên mất trí nhớ, cả ngày cứ ngây ngây ngô ngô, đội mũ rơm ngồi bên hồ Thái Dịch câu tôm, vô tư vô lự. Sau đó, người của lục cung cũng hay châm biếm giễu cợt, nói nàng khi ấy quá mất mặt, bị tiểu Trạng nguyên cự hôn trước mặt tất cả mọi người. Nhưng mà Phụ thân là một trân trọng người tài hiếm thấy, không vì vậy mà trách tội tiểu Trạng nguyên, ngược lại còn chuyển thẳng chàng tới Thượng thư các, không theo tiền lệ mà cho vào Hàn lâm.

Nàng và Vân Lang chưa quen biết mà đã kết thù. Nhẫn Đông vốn có thù sẽ báo, đang nén giận thôi. Ngày đó, đám bạn nàng hay đi chơi thuyền trong hồ Thái Dịch, quý nữ mỗi nhà đều cắt một bó sen, chất đầy trên con thuyền nhỏ thô sơ. Nhẫn Đông trước nay thích sen, nhìn thấy hoa sen nên dễ dàng an tĩnh lại. Đến khi bọn họ chán, bỏ lên bờ thì Nhẫn Đông vẫn còn ở trên thuyền uống rượu ngọt. Mặt dù rượu ngọt nhưng uống trong cái chén bằng lá sen nên uống nhiều hơn, đã ngà ngà say. Nhẫn Đông vò lá sen rồi ngủ thiếp bên hương hoa thanh khiết, nhớ tới vòng tay ấp ôm nàng mất đi từ lâu, vòng tay đó như là của mẹ, như là của một bóng người lặng lẽ trong lòng nàng. Nàng trong giấc mộng cũng không yên, ban đầu nghe tiếng thấy tiếng sấm, sau đó là tiếng mưa rơi nên đột nhiên tỉnh giấc, mây trên trời đổi màu nhanh quá, nước mưa làm ướt hoa lá từ lâu, ướt cả tay áo màu hoa anh đào.

Sau đó, nàng nhìn thấy một người trong làn mưa. Người ấy mặc triều phục màu đỏ, thân hình cao cao, bước chân nhẹ nhàng. Nàng không thấy mặt chàng, nước mưa làm ướt mặt mày, sương mù quanh năm ở hồ Thái Dịch che mất khuôn mặt của chàng. Nàng nhìn chàng đang bước về phía mình, cảm thấy người trong lòng mình cuối cùng cũng về. Cái ôm thuộc về nàng, đến cả nước mưa cũng không thể nào mất đi sự ấm áp của nó, cứ vậy, sau khi nàng đã chờ đợi thật lâu, đã tới lúc, trở về rồi.

Nang quên mất mình đã gọi gì, người ấy đứng ở đó. Nàng hấp tấp lấy cái mái chèo, khóc òa nói: “Xin chàng đừng cử động.” Không biết là mưa hay nước mắt, rơi lộp bộp xuống lá xanh hoa hồng.

Đó là thứ mà nàng đã mất đi rất lâu rồi, trên đời này không ai biết hết, chỉ có một mình nàng vẫn luôn khốn khổ khắc ghi. Cho dù mất đi vị giác, mất đi cảm xúc, thành cọng cỏ khô, một đụn mây đen, cũng không thể nào quên được.

Nàng đã khổ sở nhớ nhung chàng như thế, nỗi nhớ đau đớn ấy giúp nàng đi tới ngày hôm nay.

Đó là lần đầu tiên nàng gặp Vân Lang, nàng đứng trên thuyền, tay cầm đóa hoa sen. Bỗng dưng nàng chảy máu mũi, máu rơi xuống rễ cây của hoa sen trong tay. Nàng run run đưa cho thiếu niên trên bờ, như trước đây rất lâu rất xa. Lúc chàng bỏ nàng đi thì cũng đương tuổi này. Giọng nàng khàn khàn, chua xót đến mức ngũ tạng quặn thắt, “Quân tử hiệu là Hà (*Hà có nghĩa là sen), thấy đoan minh tú nhã (*), tặng quân đóa hoa này, hòng bày tỏ tấc lòng.”

(*) Đoan minh tú nhã = chính trực thông minh xinh đẹp nho nhã.

Vốn dĩ đây là một đoạn rất đứng đắn, rất thích hợp làm lời thoại trong buổi tình cờ gặp gỡ, mỗi khi Nhẫn Đông nhớ tới cũng tự thấy cảm động, cả đời này dễ dàng gì mà nói ra những lời văn nhã đoan trang như thế. Ấy nhưng giữa bông sen lại xuất hiện một con sâu róm xanh xanh, bị ướt nước mưa nên run rẩy bò vào lòng tay Vân Lang.

Vân Lang nắm tay giữ chặt con sâu lông, nhã nhặn lịch sự đáp: “Tạ Điện hạ, thần rất thích.” Chàng mang con sâu đi, để Nhẫn Đông và bông sen ngẩn người.

Câu chuyện xưa ấy vẫn không thể nào giải thích tại sao nàng lại thích chàng, nhưng lại đủ để trả lời câu hỏi của Thành Linh.

“Chàng là người trong lòng ta, đây là chuyện duy nhất mà chàng đã làm đúng. Cháu thấy chàng cũng chả có gì đặc biệt, nhưng trong mắt ta, chàng đẹp đẽ nhất trên đời. Mà thứ đẹp đẽ nhất trên đời, vốn không có chủ. Thế nên, chàng cứ chậm trễ không thuộc về ta, cũng không thuộc về bất cứ ai.”

Vào năm hai mươi tám tuổi, cuộc đời Nhẫn Đông đã xảy ra ba chuyện quan trọng. Chuyện thứ nhất, cha nàng đã mất. Chuyện thứ hai, nàng trở thành đế quốc Đại trưởng công chúa, người em ruột thịt của nàng kế vị, niên hiệu là Thắng Văn, xưng Cảnh Tông.

Mà chuyện thứ ba, đó là Tây Đột Quyết tấn công Đại Chiêu, chiến tranh liên miên, cả triều rúng động, tiểu tướng Tần Đỉnh bộc lộ tài năng, xin đánh Tây Đột Quyết, Vân Lang làm giám quân, đi theo ra chiến trường. Cựu thần từ thời Lý Tông đã luôn không vừa mắt Vân Lang, Tân đế lên ngôi, chính cục chưa ổn, nhưng Vân Lang lại cố gắng bác bỏ những ý kiến bất đồng, cùng Tần Đỉnh mang mười vạn tướng sĩ ra chiến trường.

Giao chiến với Tây Đột Quyết ba trận, Vân Lang đều thua. Bị chúng lão thần không có thực quyền thời Tiên đế khích bác, Cảnh Tông không chính kiến cũng nghi hoặc ba phần. Dư luận trong nước lúc ấy, nho sinh đều mắng chửi Vân Lang: “Một thằng nhãi trẻ ranh, không kham nổi chức lớn, chỉ biết lợi trước mắt, khác chi kẻ phản quốc.”

Nhẫn Đông tới ngoại thành, ai ai cũng mắng chửi Vân Lang, câu chuyện về gian tướng b*n n**c được truyền miệng không dứt. Lúc nhá nhem về phủ, Bệ hạ đã cho người tra soát tướng phủ, rút chức Vân Lang, lệnh cho tướng thủ thành ngoài biên giới Thu Đại Lâm bắt giữ đưa Vân Lang hồi kinh.

Trong tướng phủ, thứ đáng tiền chỉ có năm bộ xiêm y và mấy xâu tiền. Một Tam công giản dị như thế là hiếm thấy trên đời lắm. Chúng thần xôn xao bàn tán: “Nhất định Vân Lang đã mang theo tài sản mà chạy, hẳn là mượn Đột Quyết để gây loạn mưu phản.”

Nhất thời, mọi người đều đồng tâm hiệp lực, nhất trí đổ dầu vào lửa, mang ba bộ thường phục và hai bộ triều phục Vân Lang bày ra trên điện Thái Cực, chờ Cảnh Tông quyết định một cái là châm đuốc đốt cháy.

Lúc Nhẫn Đông đội mão thanh loan, mặc bộ triều phục tà suôn màu xanh đen thêu hình thái dương và quạ đen đi tới  trước mặt em trai mình, Thiên tử trẻ tuổi nở nụ cười. Y nói: “Hoàng tỷ tới đúng lúc lắm, tên Vân tướng này không thể tin được. Trong triều đều quan tâm, bây giờ lập nghi thức, mai này diệt trừ đám loạn thần tặc từ!”

Nhẫn Đông cũng cười. Nàng đứng thẳng tắp, bao thói bướng bỉnh cứng đầu thời niên thiếu nay biến thành những sợi tóc đen mềm mượt, chúng không rối mà nằm yên chờ đợi. Nàng ôm mớ củi đang chất trên quần áo, cất cao giọng: “Bệ hạ, thần có lòng nghi ngờ, xin Bệ hạ giải rõ.”

Thiên tử và Thanh Thành là chỉ em ruột, dù bây giờ đang không vui vì sự xuất hiện của nàng nhưng cũng vẫn cười, nói lấy lệ: “Hoàng tỷ chớ ngại, cứ nói.”

Thanh Thành ngẩng đầu lên, “Nếu như theo lời các vị đại nhân, Vân Lang này, là kẻ gian xảo cực kì. Năm tuổi đã đọc hiểu Bách kinh, sáu tuổi đậu Đồng sinh (*tên một kì thi), bảy tuổi vào cổng Thái phó, tám tuổi nghiên cứu thuật Đế sư, tóc còn để chỏm đã tranh luận thắng ba đại nho, mười tuổi đậu tiểu tam nguyên, mười ba tuổi bước vào cửa đế vương, tuổi còn nhỏ không tăng lương bổng, mười sáu tuổi rời khỏi Long cư (*ý chỉ hoàng cung), nhất quyết không làm con rể Tam quốc. Trong Thượng thư các chỉ lo chính sự, trời đông hửng sáng vẫn chưa đi ngủ. Làm quan có ngàn đấu bổng lộc, lại dùng nuôi sống vạn binh sĩ nghèo. Ba mươi trung lang tướng trong triều, Vân tướng bồi dưỡng tám phần mười. Trạng nguyên Thám hoa lang ba kì, đều tôn kính gọi tiếng ân sư. Đê Hoàng Lạc (*) đã vỡ trăm năm, nghiệp thiên thu sáu năm giảo nhi gánh (**), Thục Lũng (***) quanh năm gặp lụt hạn, vương quân ăn ngủ hằng ngày chẳng an. Vân thị quyết định thông thủy pháp, lương cấp lưu dân vậy mà thừa. Nay chiến tranh khói lửa chỉ mới nổi, chớp mắt bỗng trở thành sói phản quốc. Dân quân nhẫn tâm vứt bỏ ân học sĩ, chúng môn sinh phỉ nhổ áo Thượng sư.”

(*) Hoàng Lạc: chỉ sông Hoàng hà, Lạc hà

(*) Giảo trong giảo quyệt, ở đây mình nghĩ vì mọi người chửi mắng Vân Lang xảo quyệt nên Nhẫn Đông dùng luôn từ này để gọi.

(**) Thục = Tứ Xuyên nằm ở Tây nam Trung Quốc; Trong khi đó Lũng = Cam Túc, nằm Tây Bắc Trung Quốc.

“Nếu chúng quân đã có sẵn tướng tài, nay mồm to miệng thét nhục nhã Vân Lang, vậy hôm qua địch ập tới cửa nhà, cớ sao lại giả tai ngơ mắc điếc, cả triều đình chỉ biết rụt cổ chờ? Chàng từ nhỏ đã thông minh sáng trí, kiên cường nghị lực hiếm thấy trên đời, vì sao khi Tiên đế băng hà, không thừa dịp làm loạn mà tới bây giờ mới nổi lòng tham muốn b*n n**c đổi nhà? Thần thật sự thấy hồ đồ quá độ, mong Bệ hạ giải quyết mối nghi ngờ, rốt cuộc do dạ Vân Bạch Thạch dễ thay đổi, hay vì Bệ hạ và chúng đại nhân nhạy cảm quá rồi?”

Bỗng dưng người thay lòng đổi dạ, lại trách kẻ khác đổi dạ thay lòng.

(*) Tác giả lấy câu thơ của Nạp Lan Tính Đức, đại ý bài thơ là lời của oán phụ bị trượng phu vứt bỏ nên ai oán than.

Cả triều đông đúc xôn xao, bỗng nhiên lặng ngắt như tờ. Lão thần đỏ mặt, chỉ mắng Thanh Thành: “Nữ tử tại sao lại lên triều? Con gà mái mà đi gáy sáng, Bệ hạ nào có thể nghe được những lời này? Ả tới đây là bất kể liêm sỉ, vì tình lang của mình thôi, các vị chớ bị ả lừa gạt!”

Thiên tử phất tay, cắn răng nói: “Hoàng tỷ lui xuống, Quả nhân có thể khoan dung tỷ phạm tội khi quân, nhưng tỷ không thể vì tư tình khiến trung thần đau xót.”

Thanh Thành cười, nụ cười của nàng như một áng mây mỏng, không che được ánh mặt trời chói lòa, đôi mắt sáng đến kinh người. Nàng nói: “Vạn dân thiên hạ đều đã biết, Vân Lang là tình lang mà Thanh Thành ta ngày nhớ đêm mong. Ta và tình lang tâm ý tương thông, tri kỷ cả đời chàng chỉ có mình ta, chàng là ta, ta cũng là chàng. Các người hôm nay đốt quần áo của chàng, đúng là hành vi của kẻ hèn nhát, cớ sao không đốt chủ nhân Tam quốc ta đây cho hả giận?”

Vẻ mặt Cảnh Tông biến đổi, tức giận quát: “Hoàng tỷ, đây không phải trò đùa!”

Thanh Thành biến sắc, cười khẩy từ như chẳng sợ đao thương kiếm kích, thiên đao vạn mã, khí phách mà rằng: “Nếu bọn chúng là trung thần của vua, ta liền trở thành vua của nịnh thần, thế mới thích chí làm sao! Ngày hôm nay ta thiêu mình để biện bạch cho Vân Lang, nếu từ đầu đến cuối ta không phát ra tiếng nào, đủ cho thấy tâm ta kiên định với lòng thành của Vân tướng, chỉ mong Bệ hạ hãy cho Vân Lang thêm mười ngày. Trong vòng mười ngày, nếu Vân Lang vẫn không mang được đại thắng về, Bệ hạ xử lý cũng chưa muộn?”

Thanh Thành cướp lấy bó đuốc trong tay thị vệ, đứng trên chồng củi, nhắm chặt hai mắt.

Lúc lửa cháy ngút trời trên điện Thái cực, tất cả mọi người đều bị lửa kia táp phỏng mặt. Bọn họ đều nói chưa từng nhìn thấy một… nữ tử si tình dám cả gan làm loạn, dám đại nghịch bất đạo, dám không biết tốt xấu đến nhường này. Môn sinh của Vân Lang đều xúc động, tự thấy hổ thẹn trong lòng, ngã sụp xuống khóc rống khắp điện.

“Hoàng tỷ!” Thiên tử trẻ tuổi sợ ngây người, y nhìn ngọn lửa màu quýt nhảy múa trên bộ triều phục của chị mình, cổ họng căng cứng ngắc, mãi sau mới run rẩy nói, “Sao lại tới mức này, sao lại tới mức này!”

Thế nhưng, rốt cuộc y vẫn không hạ chỉ cứu hỏa. Thiên tử siết chặt tay.

Mọi người nhìn thấy lửa đã thiêu cháy tới lông mày của Nhẫn Đông, đều không đành lòng mà nhắm mắt lại.

Nhẫn Đông cảm thấy rất đau. Nàng cắn chặt răng, cố gắng để mình quên đi cơn đau này. Nàng ôm đống quần áo, từ từ ôm siết nó vào lòng, nhớ tới cái ôm của Vân Lang, lòng chua xót muốn khóc. Lúc ngọn lửa bò lên ngón tay nàng và số quần áo kia, trong ngọn lửa dữ dội, tất cả mọi thứ đều trở nên mơ hồ. Nàng cứ vậy mà nhớ tới cái ôm của chàng, nhớ tới những ngày khổ sở ăn chay mà nhìn đĩa nếp bọc thịt. Nàng hiểu, trong một khoảnh khắc xa xôi nào đó, chàng nhất định đã từng ôm nàng vào lòng, trân trọng yêu thương nàng nhường ấy. Nhưng có lẽ chỉ có nàng mới nhớ rõ kiếp trước của bọn họ là thế nào. Người ta nói chuyện vô căn cứ là chẳng qua do không biết, chứ Nhẫn Đông đã khắc rõ kiếp trước hư vô, chỉ vì có thứ mà nàng rất muốn đạt được.

Đến khi ngọn lửa dữ dội đốt cháy cả người nàng, nàng nghĩ, nàng chắc chắn rằng kiếp trước đã mắc nợ Vân Lang, chỉ là chưa bao giờ nghĩ tới, lại mắc nợ chàng nhiều đến thế.

Nhẫn Đông không biết mình vẫn còn sống. Thế nhưng khi nàng mở mắt thì nhân gian đã thay đổi rồi. Chẳng biết đã hôn mê bao lâu, nghe kể rằng trong vòng mười ngày Vân lang đã bất ngờ đánh bại nguyên soái Đột Quyết, thì ra ba trận chiến bại trước đó chỉ là kế dụ dịch vào sâu, nay chiến thắng về triều. Nghe kể rằng, mẫu thân của nàng, Khánh Đức Thái hậu cực kì bất mãn với Thiên tử. Nghe kể, nghe kể rằng…Thanh Thành điện hạ đã hoăng thệ.

Nhẫn Đông được đưa tới bên cạnh mẫu thân để bảo vệ. Nàng ở trong điện phụ của một viện nhỏ, cô độc trải qua từng cái, từng cái sinh nhật. Mãi tới khi nàng ba mươi ba tuổi, nghe nói hành vi của em trai Cảnh Tông không thỏa đáng, bị Thái hậu nổi giận phê phán, ngày hôm sau, chư hầu Bách quốc cùng ký vào một lá thư, đều mong muốn Thiên tử tự thoái vị. Vân tướng bãi triều đóng kín cửa, cho dù Chư vương nào thỉnh gặp, cũng bất kể không tiếp một ai.

Sau đó, qua mấy ngày nữa thì nghe nói em trai này mắc bệnh qua đời. Thiên tử mới nhậm chức là con trai trưởng của Cảnh Tông, tên Thành Sán, xưng là Chân Tông.

Nếu mà nàng vẫn còn ‘sống’, e là đã thành ‘Trưởng trưởng công chúa’.

Trong cung của Thái hoàng Thái hậu nương nương không có gương đồng là một chuyện mà người đời đều biết. Cũng như mộ hai cây liễu bên hồ Thái Dịch, vì trở thành nơi đương kim Đế Hậu vô tình gặp gỡ mà trở thành thánh địa cho nhân duyên nổi tiếng trong lòng vạn dân. Mối tình tuyệt vọng của nàng với chàng thiếu niên bất kham ngày ấy, cứ thế, theo cái chết của nàng, cũng từ từ trôi vào quên lãng.

Mẫu thân nay đã già rồi, v**t v* khuôn mặt nàng, rơi lệ: “Nếu nhan sắc con vẫn như trước, chắc bây giờ cũng có nếp nhăn rồi.”

Thời niên thiếu Nhẫn Đông hay gây họa, nay tuổi cao mới yên định hơn. Nàng vẫn cảm thấy hẳn cha nàng là một minh quân hiếm có, mẹ nàng là hiền hậu thứ ba trong sử sách, vì rõ ràng có thể thấy bọn họ nhịn lâu vậy mà vẫn chưa ra tay làm thịt nàng.

Nhẫn Đông cũng chán lắm, không biết sao thành ra quỷ thế này, lửa kia đốt đến mức không có nổi nếp nhăn. Hình như sự bá đạo và đơn thuần chỉ Công chúa điện hạ mới có trước đây, sớm đã bị đổ xuống hố phân cùng cái bô mất rồi.

Năm thứ mười lăm nàng thích Vân Lang, cũng là khoảng năm năm chưa được gặp tình lang của mình rồi. Nàng biết có thể Vân Lang không quên mất mình đâu, nàng vì giành giật mười ngày cho chàng, mà cứ vậy thành cả một đời.

Nhưng mà theo như tính cách của Vân Lang trước nay, không quên thì cũng chỉ vì chàng chưa kịp quên mà thôi.

Thái hoàng Thái Hậu qua đời. Lúc tiếng chuông Quốc tang vang lên, Thái Hậu, cũng chính là em dâu của nàng mang ba thước lụa trắng tới. Thị hận nàng lâu rồi, nếu không vì một cô trưởng tỷ như nàng thì hẳn đến bây giờ thị vẫn là Hoàng hậu, chứ không phải Thái hậu.

Nhẫn Đông nghĩ cho dù có chết thì nhất định cmn không phải là cách này. Vì thế Nhẫn Đông ôm hết vàng bạc châu báu, hổn hển chạy trốn bằng địa đạo mà mẹ nàng đã chuẩn bị cho.

Nhân gian bên ngoài cũng khá là thái bình, tốt hơn nhiều so với khi lòng người ủ rũ hồi năm năm trước. Nàng mai danh ẩn tích, mua một tòa nhà, hân hoan làm hàng xóm Vân tướng.

Ngày thứ nhất, Nhẫn Đông sai người mang tặng một bó rau chân vịt thiệt to, lại tiếp tục chòng ghẹo chàng khiến nàng vui vẻ cực kì. Ngày hôm sau, nàng lại sai người tặng một đống cỏ dại mới cắt, nghĩ tới khuôn mặt bất đắc dĩ không biết phải làm sao của Vân Lang, Nhẫn Đông co mình ngồi trên ghế khoái chí.

Nàng rất thích đọc những truyện kì quái, thế nhưng từ khi bị hỏa thiêu thì mắt không còn tốt nữa, lệnh cho tiên sinh phòng thu chi đọc nghe mấy đoạn, nhưng cuối cùng không thấy thú vị nữa nên rồi lại thôi.

Hoàng hôn ngày hè, mây khói đỏ cam, nhuộm đầy màu trời. Sự rực rỡ cuối cùng trước khi chìm vào bóng đêm này khiến người ta cảm thấy lưu luyến quá. Nhẫn Đông thiu thiu ngủ bỗng giật mình nhận ra, ghế tựa của nàng không có ở đây, các tiểu mỹ nhân đã bầu bạn với nàng cả đời người cũng đều không còn ở đây nữa, cuối cùng thứ không phải của mình sẽ không thuộc về mình. Không còn ai vẫy khăn liên tục, dịu dàng réo gọi nàng từ xa: “Điện hạ ơi, ở đây cũng có thể nhìn thấy Vân lang này.”

Nàng chống nạnh, dẫm lên cái ghế bập bênh màu cây trúc, hăm hở mở mồm to, quay về phía viện cách một rừng trúc lòa xòa bên cạnh, nhưng lại không phát ra bất kì âm thanh nào.

Dù là yêu hay hận, nàng đều không thể nói cho Vân Lang.

Trận lửa kia, đã đốt cháy cổ họng nàng.

Vân Lang thường đi dạo trong rừng trúc, nàng nghe thấy tiếng bước chân của chàng. Chàng thường đứng trong rừng đọc sách. Lúc tán cây đổ bóng râm loang lổ, lúc lá kêu xào xạc, Nhẫn Đồng ngồi bệt xuống đất, hay tay ôm đầu gối nghe chàng đọc sách.

“Khi đó trời đổ mưa, Trương Sinh cõng sách chạy trên đồng hoang, ngoài thành lặng như tờ, chỉ nghe tiếng quạ kêu. Nửa đêm giờ tý, đèn lồng lập lòe, đỏ vàng nơi nơi, không có chỗ trú, chỉ biết cắm đầu chạy về trước. Sinh hoảng sợ, hụt chân té vào bãi nước bùn, lạnh run không cử động nổi. Hồi lâu, đột nhiên hé mắt nhìn, trong lồng không phải ánh lửa, mà là một mỹ nhân đeo vòng châu đang múa, cao chỉ bằng cây đèn cầy, lấp lánh khó tả. Sinh vừa sợ vừa ngây người, chạm tay vào, ánh lửa bập bùng, ngọn nến cháy hết…”

Nhẫn Đông nghe tới mê mẩn, cách nhau một bức tường, Vân Lang đọc tới ‘ánh lửa bập bùng, ngọn nến cháy hết’ thì bỗng nhớ tới điều gì, trầm mặc. Ngày hôm sau, chàng đổi sang một câu chuyện khác.

Nhẫn Đông lật tung tàng thư nhưng không tìm được nguồn gốc những truyện kia. Chàng luôn đọc những loại truyện Nhẫn Đông thích, thư sinh và yêu quái trong sách cuối cùng cũng có kết cuộc viên mãn. Dâu tằm trong viện đã chín rồi, nàng cầm một vốc to, vừa ăn vừa nghe đọc truyện, thấy tay mình đỏ tím, nghĩ bụng chắc môi của yêu quái cũng có màu này, nghĩ tới Vân Lang chững chạc nghiêm túc, nói chuyện không ngữ diệu thế mà cũng đọc truyện thư sinh mê nhan sắc yêu quái là thấy buồn cười. Truyện thì chỉ là truyện thôi. Nhẫn Đông cười nắc nẻ.

Nàng quyết định dọa chàng một trận. Nàng bảo hạ nhân tìm răng heo rừng và tai thỏ xám tới, bôi nước dâu tằm khắp miệng và móng tay. Tới giờ thân (*), khi nắng chiều chiếu xuống, Nhẫn Đông trèo lên tường viện. Bỗng trí nhớ nàng lóe lên, hình như kiếp trước nàng cũng từng thấp thỏm thế này, tường viện khiến người ta run sợ, vì phong cảnh xinh đẹp tuyệt trần ở nhà bên.

(*) Khoảng 3-5h chiều

Vân Lang đưa lưng về phía bức tường ngói phủ rêu xanh, tay cầm quyển sách, ngón tay đang chỉ vào một chỗ trên trang sách. Chàng tựa lưng vào cây trúc, nghiêm túc đọc cái gì đó, hình như nàng lờ mờ nhìn thấy bóng chàng, ngã từ trên tường viện xuống đất.

Hình như lá trúc cũng bị giật mình, rơi hết xuống trường bào của Vân Lang.

Vân Lang vẫn không xoay người, chàng tiếp tục đọc: “Có yêu quái đạp trăng đi tới, mỹ miều như thu thủy, tinh khiết tựa sơn hà…”

Sau đó, quả thật có một yêu quái tai thỏ răng đen đang đạp trăng đi tới, cà nhắc chầm chậm tới ôm chàng từ sau lưng. Toàn bộ nước mắt của nàng dính hết lên trường bào của chàng. Nếu nàng vẫn còn có thể mỹ miều như thu thủy, tinh khiết tựa sơn hà, còn có thể có lý do để được gặp chàng bất cứ lúc nào, thì thật tốt biết bao nhiêu.

Đây là lần đầu tiên trong trời Nhẫn Đông ôm Vân Lang. Vân Lang giật mình, đánh rơi quyển sách xuống mớ lá trúc rơi dày, nháy mắt đồng tử mở to, tay cầm sách khẽ run lên. Chàng cúi đầu nhìn cánh tay đang vòng qua người mình, khô gầy loang lổ vết thương cháy đen.

Vân Lang nhắm nghiền hai mắt, chàng khẽ khàng: “Điện hạ, thần từng nói rồi, Điện hạ tới gần, thần không thể chịu được.”

Vào năm Nhẫn Đông sáu mươi bảy tuổi, tính theo số năm, là năm bốn mươi chín thích Vân Lang. Năm đó, không có chuyện gì lớn ngoại trừ, Vân Lang qua đời.

Lúc chàng hấp hối, nàng không tới. Người đời truyền miệng rằng, khi Vân tướng lâm chung, khuôn mặt cực kì điềm tĩnh, chàng không thẹn với vạn dân, mỉm cười nhắm mắt. Nhẫn Đông nhớ tới khi mình còn trẻ, mọi người nói nàng trốn trong bụi tường vi vừa gặp Vân Lang đã thương, vậy mà lại không có kí ức gì về thời khắc đó. Bây giờ cẩn thận nghĩ lại, đời này, có lẽ chỉ có một khắc đó, nàng mới thật sự cùng Vân Lang tâm ý tương thông.

Khi đó, tiểu Điện hạ trốn trong bụi tường vi chọn đông chọn tây, tiểu Trạng nguyên ngoài bụi tường vi đang cúi đầu cho cá ăn. Khi ấy vẫn còn là thiếu niên, nhìn thế gian này cảm thấy thật nhàm chán. Dù là lập gia đình, hay thi cử tìm công danh cũng nhàm chán như nhau. Mà ngày vui sướng nhất trong đời chính ngày trước khi chết. Lúc sắp chết, mỗi câu nói, mỗi việc làm đều thấy rất có ý nghĩa, vì ta biết ngày mai sẽ không bao giờ tới.

Bọn họ chưa từng có quan hệ tình cảm, bọn họ không phải vợ chồng, cả đời cách nhau một bức tường. Nàng còn nhớ lúc mình chưa mất đi giọng nói, lúc còn chạy băng băng bên hồ Thái Dịch, mỗi ngày đều hỏi Vân Lang.

Vân Lang, chàng thấy con chim tước thời Chu là thế nào? Giả à?

Đúng vậy, Điện hạ.

Vân lang, chàng thấy con mèo thế nào? Ta thấy hình như nó hơi béo.

Đúng vậy, Điện hạ.

Vân lang, chàng nói xem, trong Bách quốc này, ta có phải cô nương đẹp nhất?

Đúng vậy, Điện hạ.

Vân lang, chàng có thích ta không.

Không có, Điện hạ.

Quân tâm kiên quyết thế, đến chết không hai lời.

Lúc Vân Lang nhập liệm, nghe kể trong lòng chỉ có một quyển ‘Binh pháp Tôn Tử’ đã sờn mòn, là lời chàng dặn dò lúc lâm chung. Chẳng cần chôn tại nơi gần sông núi làm chi, không cần hậu đãi Vân thị làm gì, chẳng cần hưởng cúng tế tông miếu, chỉ cần có sách này bầu bạn là được rồi.

Bệ hạ rất đau buồn, cũng từng lật qua quyển ‘Binh pháp Tôn Tử’ kia, trên đó chữ chi chít, đều viết cực kì nhỏ, là chữ viết ngoáy, như thể mỗi ngày đều viết vội viết vàng. Không có ai nhận ra những chữ kia viết gì, chỉ có một đoạn thưa thưa ở cuối sách, khó lắm mới đọc được những chữ ấy là gì.

Là một câu nói không đầu không đuôi.

“Có yêu quái đạp trăng đi tới, mỹ miều như thu thủy, tinh khiết tựa sơn hà, Sinh ngây ra như phỗng, yêu mà không thể nhịn, vì đã quá xiêu lòng.”

(*) 爱而不能忍倾之 – ái nhi bất năng nhẫn, thậm khuynh chi.

Đã yêu đến mức, dù chỉ cách vài bước cũng không chịu được.

Vì đã quá xiêu lòng.

Sinh đã quá xiêu lòng.

Nhẫn Đông luôn nghĩ cuộc đời này của nàng vì sao lại hỗn loạn trần tục đến thế, nửa đời trước hưởng vinh hoa phú quý, nửa đời sau người ngợm quỷ ma, cứ lên xuống bất ngờ, trong đời còn cái gì vĩnh hằng cơ chứ. Sau đó cẩn thận suy nghĩ lại, cùng đến cùng đi với nàng có một thứ luôn tiếp diễn, đó chính là, chạy đua với thời gian.

Chạy đua với thời gian, có thể thích chàng bao lâu nữa?

Nàng đã già yếu lọm khọm lắm rồi, như thường lệ mơ màng ngủ thiếp đi, đến một ngày nọ, khi tỉnh lại mới phát hiện, tất cả chỉ là một trò đánh cuộc.

Nàng thắng, lại trở về một quỷ lao Hề Sơn quân. Lúc xoay người, thấy Phù Tô chi lan ngọc thụ, mặc bộ áo trắng tay xanh, dựa vào một con hươu sao chẳng biết từ đâu chạy tới, ngồi dưới tàng quýt đọc sách.

Chàng đưa mắt nhìn, cười nhạt: “Ngươi trở lại rồi, nguy hiểm thật.”

Nguy hiểm thật, không thua cuộc.

Phụng nương đã nói dối chút chuyện. Chuyện sáu mươi năm trước kia là ảo cảnh của Thiên tôn, không phải quá khứ của sáu mươi năm trước đây. Không ai có thể thay đổi được quá khứ, huống chi Vân Lang thật sự là tiên thể, nhất cử nhất động đều ảnh hưởng tới thương sinh, các tiên đều có chừng mực, không muốn gây rối. Hề Sơn quân nhận là môn đồ, thay mặt Phụng nương làm kẻ trả oán, Phụng nương không tốt lành gì, không nói ý đồ cuối cùng của Thiên quân.

Môn đồ của phái nào thua, phải vĩnh viễn ở trong ảo cảnh.

Hề Sơn quân ngạc nhiên: “Vậy người hóa thân Vân Lang là cao đồ nào trong số môn hạ của Đạo Đức? Trước khi đi ta còn cố tình giữ lại tình yêu đối với người tình kiếp trước trên người Thanh Thành, để nàng yêu say dắm Vân Lang đến thế. Sau khi Vân Lang thọ 65 tuổi rồi qua đời thì thế nào?”

Hề Sơn quân chắc chắn rằng, chỉ có chân tình mới có thể đổi được tình yêu.

Phụng Nương nở nụ cười,“Dù Sơn Quân có thắng, nhưng Vân Lang đến chết cũng không thừa nhận là từng thích người, vì thế không tính là thua, người không cần phải lo cho chàng ta. Chàng ta tốn hết toàn lực để sắp đặt một cục diện cả hai đều thắng thế này, đúng là may mắn cho hai ta.”

Hề Sơn quân nhíu, hỏi: “Vị tiên nhân nào nhân hậu như vậy, quan tâm chiếu cố ta đến thế?”

Phụng nương cười khó xứ: “Thiên quân bất ngờ hạ chỉ chọn người, chỉ biết đó là một công tử cực kì nhân hậu thông tuệ, mang theo ký ức bước vào trò đánh cuộc, ngoài ra thì Nô cũng hoàn toàn không biết nội tình. Bốn mươi chín ngày qua cứ thấp thỏm không yên, sợ rằng đã hại người.”

Hề Sơn quân cười: “Ta dùng tình yêu của người thương kiếp trước để đối với người xa lạ, chưa từng dao động nửa phần đạo tâm thì sao thua được? Bệ hạ quá lo.”

Phụng nương đắn đo rất lâu mới lấy một cái gương ra nói: “Gương này được Linh Bảo thiên tôn ban thưởng, nếu bên ta gặp nguy cấp, sẽ hiện ra hồng quang. Trong bốn mươi chín ngày qua cũng luôn có hồng quang, Sơn quân, vì thế ta mới lo lắng như vậy. Chẳng lẽ, xui rủi thế nào, người phụng chỉ vào ảo cảnh là người thương trong lòng của Sơn quân kiếp trước?”

Hề Sơn quân vẫn tỉnh rụi, cười như có như không đưa tay, “Nếu Bệ hạ cần lập tức phi thăng, một kẻ tiểu nhân không quan trọng như ta sẽ dốc hết toàn lực, cũng chỉ vì kiếm sống, bận tâm người thương tiền kiếp làm gì? Chỉ mong Bệ hạ mang mấy bộ da người mà ngươi luôn cất giữ trân quý thưởng cho ta. Tiểu phu quân của ta muốn lập tức xuống núi đọc sách, không chuẩn bị vài cái thân phận thì không khéo bị người ta nuốt sống mất.”