“Tề quận chúa, Tạ hầu nguyên thê, thượng nguyên chín năm, yêu.”
–[ vương hầu truyền · khác họ hầu ] sơ thiên
Sáu mươi năm trước.
Tạ tiểu hầu thức dậy từ sáng sớm, lúc đẩy cửa phòng thì vấp phải một thứ gì đen thui dưới chân.
Đen, rất đen.
Đen từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong.
Tạ tiểu hầu thề rằng, chỉ cần màu đen thì hắn sẽ nhớ tới người bạn đồng môn này của mình cả đời.
“Trần huynh.” Tạ tiểu hầu – Tạ Lương Thần đành phải gọi người đen như hạt mè đen này dậy.
Như bị đánh thức ngay lập tức, mè đen bật dậy tức thì. Hai con chim hỉ thước đang đậu trên cây già trước cửa hoảng hốt bay tán loạn, sương sớm trên núi ùa vào mặt.
Mè đen Trần huynh có vẻ hơi xấu hổ, còn có đỏ mặt hay không thì chẳng rõ. Tạ Lương Thần thầm thở dài, lại bắt đầu nữa rồi đó.
Hắn không biết, không biết, không biết, không nhìn ra, không nhìn ra, không nhìn ra.
“Tạ huynh, nghe nói hôm nay huynh sẽ tốt nghiệp về quê. Huynh xem, hỷ thước trên cây thì thầm to nhỏ, hẳn cũng muốn chúc mừng huynh đã học hành thành tài, thuận buồm xuôi gió, phụng dưỡng mẹ cha.” Trần Hoằng hơi căng thẳng, lúng túng nói như đọc thuộc lòng.
“Cảm ơn hiền huynh.” Tạ Lương Thần cười có lệ, bước xuống núi. Phía sau lưng hắn có bảy tám chục gã hầu, kẻ khuân hộp đụng tử kim quan, đứa vác rương áo tơ lụa, tiếng người huyên náo.
Trần Hoằng tính tình quái gở, hai người bọn họ là đồng môn suốt ba năm, ngày nào cũng~
Tạ huynh, chào buổi sáng.
Trần huynh, chào.
Ngày nào cũng vậy, ngoại trừ dịp tết về nhà, mỗi ngày một lần, dù gió thổi mưa rơi vẫn luôn không đổi. Lúc hắn sốt cao đổ bệnh nằm trên giường, Trần Hoằng vẫn đứng trước cửa mà gõ liên tục, nhất định phải nghe hắn đang nằm trên giường nói câu ‘Trần huynh, chào buổi sáng’ thì mới chịu rời đi.
Cậu ta luôn đứng ở nơi xa nhất mà hắn có thể nhìn thấy, nhưng vẫn luôn nhìn tới được. Ngày nào cũng thế, tuy không thể gọi là thân, nhưng vẫn là bạn.
Lương tâm ít ỏi của Tạ Lương Thần bị chim khách mổ một cái, vậy nên quay đầu cười nói: “Hiền đệ, sương sớm dày, chớ để ướt bộ đồ mới của đệ.”
Trần Hoằng mặc một bộ đồ mới, có hoa văn thêu mây, hoàn toàn không hợp với cậu, thế nhưng khuôn mặt đen nhẻm lại có vẻ vui, gật đầu nói: “Để ta tiễn huynh xuống núi.”
Tạ Lương Thần thầm thở dài, nhưng vẫn không hiện ra mặt.
Giữa đường núi có một con suối nhỏ, bọn họ đùa giỡn ở đây mỗi ngày, nhìn thấy mấy ngàn lần rồi. Vậy mà mè đen nhìn thấy dòng suối là mắt sáng rực.
“Tạ huynh, nhìn xem, con cá xanh xanh ao nước trong, còn có uyên ương thành đôi bơi theo cặp. Không biết huynh nghĩ thế nào, có từng ao ước muốn làm uyên ương không?”
Tạ Lương Thần khẽ nhấc tay, búng một viên đá nhỏ xuống nước khiến đôi chim đang quấn quýt bay tán loạn. Hắn nói: “Uyên ương thì có gì để ao ước? Lúc hoạn nạn mỗi con tự bay đi. Huống chi, đó chỉ là cặp vịt trời.”
Quác quác quác – tiếng chim kêu cách mười dặm còn nghe thấy.
Trần Hoằng có vẻ uể oải. Cho dù ở trong đám công tử quyền quý không bao giờ động tay vào chuyện gì thì trông cậu vẫn lộ vẻ hoàn toàn không hiểu sự đời. Mọi người trong trường đều đoán ngày sau cậu cũng chẳng có tiền đồ gì nên không ai muốn kết giao. Còn Tạ Lương Thần lại khác, hắn rất biết đối nhân xử thế, không làm mất lòng ai, đối tốt với tất cả mọi người, mà với ai cũng không tốt.
Lại đi thêm một đoạn nữa, nhìn thấy giếng cũ, mọc rêu xanh um tùm.
Trần Hoằng phấn khích, kéo áo Tạ Lương Thần nói: “Huynh nhìn xuống đáy giếng đi, có đôi nam nữ đang mỉm cười kìa.”
Tạ Lương Thần lặng lẽ kéo áo mình lại, lo lắng nhíu mày hỏi: “Hiền đệ, huynh thấy ấn đường của đệ đen sì, có phải đã gặp nữ quỷ không?”
Trần Hoằng lập tức im bặt, không nói nữa.
Dưới chân núi có một miếu nguyệt lão, Trần Hoằng ỉu xìu, nhớ tới quyển sách mà mình đã đọc, không hào hứng lắm mà hỏi: “Tạ huynh có người trong lòng không? Vào miếu cầu nguyện thửu xem, biết đâu được phù hộ.”
Tạ Lương Thần mỉm cười, “Không có, cũng không có ý định có. Với ta mà nói, nữ nhân chẳng khác nào mãnh thú lũ dữ.”
Trần Hoằng lau mồ hôi gượng gạo: “Nếu vậy, tiểu đệ có một mối tốt, không biết có thể làm mai cho huynh được không?”
Tạ Lương Thần chớp mắt, mắt trong như hồ nước thu, “Không biết là thiên kim nhà ai?”
Dưới ánh nhìn của Tạ tiểu hầu, Trần Hoằng tuôn mồ hôi như mưa, lắp bắp: “Là tiểu muội nhà đệ, cô ấy… trông rất giống đệ… à không, cô ấy trắng hơn một chút.”
Giọng Trần Hoằng càng lúc càng nhỏ, mấy chữ cuối gần như không nghe thấy. Tạ Lương Thần lại cười: “Gần đây ngu huynh có đọc một quyển sách, không tra được niên đại và tác giả, lúc mới đọc thấy cũng thú vị, nhưng đọc xong rồi, lại thấy… cực kì không thú vị.”
Trần Hoằng lấy khăn tay ra, chậm mồ hôi trên chóp mũi, miễn cưỡng hỏi: “Không biết là cuốn sách nào?”
Tạ tiểu hầu mỉm cười: “Chính là cuốn Truyền thuyết Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài mà hiền đệ cũng đã từng đọc đấy.”
(Có những câu nói in nghiêng ở trên được Trần Hoằng lấy cảm hứng từ trích đoạn ‘Thập bát tương tống – Mười tám dặm tiễn đưa trong vở Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.)
***
Trịnh vương, Sở vương tạo phản rồi. Trong lịch sử Đại Chiêu, đây là một trong ba cuộc nội chiến đẫm máu nhất, còn gọi là ‘Loạn Bát vương’. Tất cả bắt đầu từ một con rắn đen.
Sau khi Bách quốc trải qua ôn dịch, tương truyền vì Trịnh vương điện hạ cứu giúp dân chúng đã lao tâm khổ tứ nhiều ngày, cuối cùng khi tiếng chuông chiều vang lên, như có dự liệu, bỏ chén cháo ngôn đơn giản rồi chìm vào giấc ngủ sâu.
Trong giấc mơ, Trịnh vương dẫn các cận thần cùng leo núi. Ngọc núi trông có vẻ rất hiền hòa, dễ leo, Trịnh vương rất tự tin. Vậy mà tới gần chân núi, ông lại thấy một con rắn đen dài cả trăm thước đang chiếm cứ, bò dọc theo sườn núi. Khi nó lên tới đỉnh rồi, đột nhiên núi lửa phun trào dòng dung nham khiến đầu của con rắn đen lập tức bị lửa thiêu đốt mà đứt đoạn, khiến cái đầu lăn xuống chân Trịnh vương. Dù đứt đầu nhưng con rắn chưa chết, nó thè cái lưỡi đỏ như máu ra, lạnh lùng nhìn Trịnh vương. Ông choàng tỉnh, ướt đẫm mồ hôi.
Ngày hôm sau, trong lòng Trịnh vương luôn cần chính yêu dân cảm thấy bất an, vào thành tuần tra, gặp một ngư dân đang rao bán đá suối, nói rằng những viên đá của hắn đều trong suốt nhẵn mịn như ngọc Độc sơn, mỗi viên đều có chữ do thần tiên khắc.
Trịnh vương tò mò, cho gọi ngư dân đó đi tới để xem kĩ. Quả nhiên đá đẹp như ngọc, nhẵn mịn, phía sau mỗi viên đều khắc một chữ. Trịnh vương nghĩ mãi không hiểu là sao, lệnh ngư dân dẫn đường tới cạnh bờ suối ngoài ngoại thành Trịnh đô. Hôm đó con suối có cảnh lại, xuất hiện một xoáy nước cỡ bể cá. Ngư dân đưa tay xuống xoáy nước, lại vớt được một viên đá có chữ.
Trịnh vương lập tức sai người đi trăm dặm bẩm gấp lên Thiên tử, đồng thời dâng tặng những viên đá này. Thiên tử cho rằng đây là điềm lành, rất vui, sai người tiếp tục vớt. Khoảng bảy ngày sau, xem chừng đã vớt hết.
Với lòng trung thành, Trịnh vương cho người dâng tất cả những viên đá suối này lên. Chưa tới ba ngày sau, Thiên tử lại phái họ Triệu dẫn đại quân mười vạn binh tấn công nước Trịnh, mắng nhiếc Trịnh vương là kẻ lòng muôn dạ thú, ai cũng có quyền giết.
Hóa ra những chữ đá kia đã được các học sĩ của Thượng văn viện trong Bách Tử các ghép lại một bài văn, là một bài hịch trời giáng để trách tội Đại Chiêu, quở mắng Thiên tử thất đức. Trong văn viết Thiên tử mất Cửu đức, phạm Tứ tội. ‘Cửu đức’ thì cũ rồi, không nhắc cũng được nhưng ‘Tứ tội’ thì đang nghiền ngẫm, gồm có: Một, Bất nhân, ban rượu độc tam công ngũ tướng, biết bao đại thần phò tá Tiên đế đều chết dưới ta; Hai, Bất nghĩa, hà khắc với chư hầu Bách quốc, chỉ nhận kỳ trân dị bảo; Ba, Bất từ, người Bách quốc chết đói đầy đường, ôn dịch tràn lan, trong nước sắp loạn mà Quân không tự kiểm điểm, chỉ ham mê mỹ sắt, tin dùng gian phi nịnh thần; Bốn, Bất minh, Thiên quốc Lộc đỉnh (*), cực kì hiếu chiến, chinh phạt khắp nơi, quốc khố thiếu thốn, áp thuế má nặng nề.
(*) Lộc là con hươu, tượng trưng cho người trong thiên hạ (có câu “nhà Tần mất hươu, thiên hạ tranh nhau đuổi bắt” ý nói giành giựt ngôi Vương) Đỉnh là cái vạc để nấu, ai có vạc trong tay là làm thịt được thiên hạ. “Đuổi hươu” (Trục lộc) và “Hỏi đỉnh” (Vấn đỉnh) trở thành phép ẩn dụ về việc tranh đoạt thiên hạ và muốn làm hoàng đế. Kim Dung cũng đặt tên tác phẩm của mình là Lộc Đỉnh ký ý nói viết về chuyện tranh giành thiên hạ cũng là vì vậy.
Thiên tử nghe mà câm nín, tức đến nỗi tim gan đều run lên. Đúng là không phải anh em cùng mẹ, bình thường thì cung kính không dám ngẩng đầu, nhưng lúc thiên tai dịch bệnh liên miên thì lại muốn thừa cơ làm loạn. Tiếc là tướng già đã yếu tướng trẻ chưa thể dùng, người có thực lực hùng hậu, chỉ có các hầu tước khác họ tứ phương mới có thể kế thừa lực lượng.
Thiên tử nghe xong nín lặng, tức đến nỗi tim gan đều run rẩy. Rốt cuộc cũng không phải huynh đệ cùng mẹ sinh ra, thường ngày nhìn thì cung kính, không dám ngẩng đầu, nhưng trong lúc thiên tai dịch bệnh liên miên, hắn lại nghĩ đến việc thừa cơ làm loạn. Chỉ tiếc rằng tướng già đã yếu, tướng mới thì chưa thể dùng, những người có thực lực hùng hậu, chỉ có các hầu tước dị tính bốn phương mới có thể kế tục lực lượng.
Từ khi Vân tướng chết, Giang Đông Tạ hầu liền chán nản quốc sự, đắm chìm trong tửu sắc, nay đã qua bảy mươi, không còn mang vẻ đệ nhất công tử kinh tài tuyệt diễm của thời niên thiếu đã lâu; Giang Bắc hầu cũng mới vừa qua đời năm ngoái, thế tử và các anh em đang giữa đấu đá căng thẳng, hiện cũng không thể qtamm, Giang Tây Hầu gia tuy đang độ tráng niên nhưng kì xuất chinh vừa rồi bị đứt mất cái chân, muốn mang binh đánh giặc hơi khác; Chỉ có hầu tước Giang Nam tuổi tác phù hợp, kinh nghiệm cũng phù hợp, tính cách cẩn thận, thế là Thiên tử chỉ định hắn đi chinh phạt.
Ngoài ra còn có Mục vương thế tử, cháu ruột Thiên tử, còn được gọi là ‘Minh châu Đại Chiêu’ – Thành Giác được phong làm giám quân, sắp xếp mọi thứ xong rồi, Thiên tử mới yên tâm phần nào. Trước khi lên đường, Thành Giác có nhận được thư của Thiên tử, trong thư viết: ‘Trịnh tặc mà xứng làm người họ Thành à? Chúng chẳng khác gì chó. Phán nhi hãy nhanh chóng tiêu diệt, trừng trị người chú phản nghịch, giành công đạo cho bác con.’
Lời lẽ thật trắng trợn, ý bảo giết chú con đi, trả thù cho bác nè.
Dù sao cũng là cháu ruột, Thành Giác nhếch mép không nói gì, khoác áo giáp đỏ thẫm, cưỡi Thù vân (* tên con ngựa) lên đường.
Còn phía bên kia, Trịnh vương cũng không phải là người dễ đối phó. Nền tảng quần chứng tốt, cả Bách quốc ai cũng giơ ngón cái khen ‘hiền vương’, dưới trướng lại lôi kéo được một số người tài tướng giỏi. Nay Thiên tử chinh phạt, ông ta như chịu oan ức, kêu trời trách đất, dân tình phẫn nộ, đồng lòng ủng hộ.
Giang Nam hầu đem quân áp sát, Thành Giác dũng mãnh kiêu hùng, tự xin làm tiên phong cầm thương chọt mấy vị thượng tướng giỏi của Trịnh quốc, Trịnh vương xanh hết cả mặt.
Thành Giác đã chuẩn bị sẵn xe tù, cầm cây thương bạc sắc lẹm chỉ vào Trịnh vương: “Mọi thứ sẵn sàng, chỉ đợi chú thôi.” Khiến cho vị hiền vương này giận tới ngã ngửa.
Nhưng nào ngờ, mây gió vần vũ thay đổi chỉ trong chớp mắt, nửa đêm đó, viện quân của Trịnh vương đã tới – trưởng tử của Sở vương đến tiếp viện.
Sở vương, anh em ruột thịt cùng mẹ của Trịnh vương, cũng phản rồi.
Giang Nam hầu liều mạng suốt nửa năm trời, cuối cùng không cầm cự nổi, xin Thiên tử tiếp viện. Thiên tử xưa nay luôn tin tưởng hai nước Mục quốc, Bình quốc nên phái tới viện trợ. Cuối cùng Bình vương Thế tử đích thân tới, còn Mục vương do sức khỏe yếu, không thể ra trận, đành phái ba vị tướng tài và mười vạn đại quân hỗ trợ anh và con trai. Nhưng khi đội quân vừa tới quan đạo nước Ngụy, đã bị Ngụy vương phục kích từ sau. Các tướng sĩ liều mạng phá vòng vây, vậy mà cũng tổn thất hơn năm vạn người.
Ngụy vương trước nay luôn ngoan ngoãn, không có oán thù gì với Mục vương, ậy mà chẳng hiểu sao lại thừa dịp mưu phản, cùng lập lời thề với Trịnh vương và Sở vương tại Bộc Dương.
Mục quốc là nước mạnh cỡ nào? Mục vương có thân phận cao quý thế nào? Hành động của Ngụy vương quả là quá bỉ ổi. Mục vương không làm thì để nhân dân Mục quốc liều mạng với Ngụy quốc.
Và thế là, cuộc chiến ác liệt kéo dài suốt ba năm này, à không, phải dùng từ đại họa này, đã chính thức bắt đầu như thế.
Tính cả Canh Thủy vương (*) và tiểu Trịnh vương bị trục xuất sau này mới gia nhập chiến sự, Loạn Bát vương từ đó mà ra.
(*) 更始王 – Hán Việt là Canh Thủy vương, trong đó 更始 có nghĩa là làm lại từ đầu, khởi đầu lại.
Tính cả việc Vương Cảnh sau này mới gia nhập chiến trận và tiểu Trịnh Vương bị lưu đày, cuộc loạn tám vương từ đó mà ra.
Năm đó Thành Giác hai mươi hai tuổi, Phù Tô hai mươi ba.
Đã sáu năm, từ năm Tề Minh thứ chín.
***
Nếu hỏi quốc gia nào giàu nhất thiên hạ, thì có năm nước: Tề, Sở, Tấn, Trịnh, Mục. Hỏi thế gia nào giàu sang nhất Đại Chiêu thì có: Cơ, Minh, Tư, Trịnh, Ngô. Còn hỏi người nào giàu nhất Bách quốc thì cũng chỉ có một người, Giang Đông Tạ hầu.
Sự giàu có của nhà người ta thường chỉ thịnh vượng trong một thời một đời, còn không vang dội bằng một khoảng khắc pháo hoa nở nộ. Còn sự giàu có của Tạ Hầu không phải sự phát tài của ngày một ngày hai, mà là thành quả tích lũy từng đời từng thế hệ, là thế gia trâm anh, là nhờ kết quả của đế sủng vững chắc.
Tổ tiên của Tạ hầu là một vị tướng quân anh hùng thời Thái tổ, đời sau được Thái tông đánh giá cao, có năm người con gái đều vào hậu cung, đều được sủng ái, chỉ đứng sau hoàng hậu Quy thị. Nghe nói khi nhà họ Tạ đạt đỉnh cao quang vinh thì gặp hoàng tử, hoàng tôn cũng không cần hành lễ, có thể thấy mức độ quyền quý của họ. Nói cũng lạ, những dòng họ khác luôn có một hai kẻ bất tài không nên người, ấy vậy mà con cháu của Tạ môn mấy đời nay đều có xuất sắc, số lượng người làm thừa tướng hay tướng quân đếm không hết. Tạ hầu hiện tại chính là dệ tử cuối cùng và duy nhất của Vân tướng khi còn sống. Tước hầu của nhà họ tạ được kế thừa từ thời Thái Tông tới nay, đến thời Tạ hầu hiện tại thì đã là đời thứ mười lăm. Tạ Hầu được phong ấp ở xứ Huy thuộc vùng Giang Đông giàu có đông dân, độc chiếm một thành, ngoại trừ phải tiến cống mỗi năm thì không bị triều đình kiểm soát. Huy Thành vốn là thành cũ của Đại Chiêu, nhưng do sự xâm chiếm nhiều lần của tộc Bắc Hung nô nên tới thời Thái tổ đã đã dời đô, ban thành này cho cận thần Tạ hầu để phong ấp.
Vào năm Tề Minh thứ mười lăm, thời điểm Loạn Bát vương đang như lửa bỏng dầu sôi thì ở Giang Đông vốn luôn thành bình, cũng xuất hiện sự bất thường.
Hóa ra dinh thự của Tạ hầu bị ma quỷ quấy nhiễu. Mà con quỷ này đặc biệt hơn những con quỷ khác.
Nó không sợ đạo sĩ.
Tạ hầu lão gia, đã bảy mươi tuổi, bị ma quỷ quấy nhiễu tới mức không còn cách nào khác mà dán thông cáo trên tán mặt tường Huy thành, hứa rằng ai có thể tiêu diệt con quỷ này sẽ dâng tặng một nửa tài sản.
Điều này như vừa đụng trúc tổ ong, khiến những kẻ kì năng dị sĩ liên tục đổ xô tới thăm hỏi. Các chư hầu cũng phái mấy nhóm tới, ai cũng biết con quỷ này có sức mạnh không thể khinh thường. Và ai cũng biết một nửa tài sản của Tạ hầu có thể bình định giang sơn Đại Chiêu, cũng có thể thay đổi cục diện.
Nhóm của Trịnh vương đã tới, băng đảng Giang Nam hầu cũng tới, nhưng Tạ hầu chỉ hừ lạnh, chưa diệt được ma quỷ thì dù có xoắn ruột thành, tim gan mọc hoa cũng đừng hòng lấy được một hạt bụi. Cho dù có là thiên hoàng lão tử hay vương hầu quý tộc cũng thế thôi.
Sao, mọi người hỏi sức mạnh của đương kim Tạ hầu tới từ đâu à? Kẻ có tiền không có quyền bằng ông ta, có quyền lại không nhiều binh lực như ông ta, có binh lực lại không có nền tảng chắc chắn bằng ông ta, người có nền tảng lại không có thân thích rộng bằng ông ta. Chỉ riêng bậc cô của Tạ hầu thì cũng không ít người làm phi tần, vương phi ở nhiều người khác nhau, có thằng nhỏ của nước nào gặp ông mà không phải gọi một tiếng ‘biểu thúc’?
Do đó, nếu không phải quang minh chính đại, thì ngay cả thiên tử cũng không thể ép ông ta làm gì.
Các chư hầu hai bên đối chọi nhau đều đang cần nhu cầu quân nhu tới mức cào tường, nhưng cũng không thể làm gì ông ta được.
Điều thú vị là, quỷ này xuất hiện cũng rất kì quặc.
Lúc đó, chiến trường Trung Bắc đang rất ác liệu, Minh châu Đại Chiêu vẫn kiên trì chịu khó, một mình mà ngang với vài vị thượng tướng. Hôm nay Giang Nam hầu đã trình lên Thiên tử, ch** n**c mắt bày tỏ lòng thành. Ngày mai Trịnh vương thái phi lão nhân gia được Trịnh vương dìu đỡ để tế tổ. Bên này vừa hát bên kia diễn, Tạ hầu lớn tuổi thích xem náo nhiệt, còn đặc biệt phái thám tử ra tiền tuyến trinh sát, ai thua ông ta cũng cười vui.
Khi ông ta là một thanh niên mới độ đôi mươi, các hoàng tử và vương tử đều cực kì tài giỏi, đi sứ, chính chiến, giết địch, dùng ám chiêu, xã giao, có ai mà không giỏi chứ. Nhưng tới thế hệ tôn thất đời nay, ngoài Thành Giác và Trịnh vương thế tử có vẻ nổi bật thì những kẻ còn lại đều như chim non trong tổ, trứng trong bụi cỏ, được các ông bố vương tử bảo bọc quá mức, Tạ hầu rất không hài lòng.
Một ngày nọ, ông ta cùng trò chuyện một cách cao hứng với lão bộc Tạ Do, ôm bình trà mà mắng: “Nói ra cũng thật đáng xấu hổ, không biết Tiên đế có đang lau nước mắt hay không. May là ông đâ không có con nối dõi, chứ không thì dù có sinh được bảy tám đứa cũng bị lũ rùa nhà họ Thành này hại chết. Đánh trận mà toàn làm trò mèo, lôi cả mẹ cả con ra làm đỡ, vừa khóc vừa nhận mình trung thành, tính ra có bản lĩnh cái quái gì chứ! Tin này mà được truyền ra tứ hải chắc đám di tộc cười rụng răng.”
Tạ Do, trán cao rộng, trông như lão Thọ tinh, rụng khá nhiều răng nên nói chuyện phả hơi nhiều. Hồi nhỏ ông ta làm thư đồng, đeo cặp sách cho chủ, lớn một chút thì làm lá chăn ngăn nữ nhân, cản nam nhân, chặn đứng mọi kẻ háo sắc. Lớn nữa, ông ta đã cõng chủ chạy mười tám dặm trên chiến trường. Đi theo một chủ nhân không an phận, cả đời Tạ Do chưa từng được rảnh rỗi. Đến khi già rồi vẫn phải nghe chủ tử nói về những chuyện ngày xưa. Hầu gia của ông từ nhỏ đã có một khuyến điểm: Trí nhớ không tốt, chuyện gì cũng không để trong đầu. Hôm kia vừa gặp người ta mà hôm nay đã quên mất. Ví dụ như khi Tạ Do nhắc về một người nào đó hồi trẻ, Tạ Hầu sẽ đáp, À, là hắn hả, hắn đã làm cái gì cái gì nè. Lúc đó Tạ Do sẽ hoang mang, Đó không phải là ai đó đó à, không phải người kia kia kia à, lúc còn trẻ ai đã thế nào thế nào đó, Tạ Hầu lại cắt ngang, Nó là thế này thế này, không phải không phải vậy sao. Tạ Do…
Tạ Hầu tử nhỏ luôn vô tâm vô phế mà trưởng thành lại mang diện mạo như nước như thành. Tiên Hầu gia cũng từng ngầm nói, May mà là con trai, chứ nếu là quận chúa thì đúng là họa thủy.
Nhưng mà kẻ họa thủy này, lấy ba đời vợ mà không có một đứa con.
Tạ Do thấy chủ tử mình cái nào cũng tốt, chỉ tiếc mỗi chuyện này, “Nếu ngài có con, có lẽ các công tử cũng không như vậy đâu.”
Năm Tạ Hầu hai mươi tuổi, ông cầm cây thương nhọn đánh bại bốn nước phản loạn khiến Thiên tử rất vui mừng, phong lên tước hầu. Ông và Tần tướng quân Tần Kích được xưng tụng là ‘Thập Tam thương’. Tần Kích là thập trong ‘Thập toàn thập mỹ’, còn tiểu Tạ hầu gia là Tam thương trong ‘Tam thương đẹp lẫy lừng thiên hạ’ (* Tam thương diễm quán thiên hạ).
Nhờ Thập Tam thương, Đại Chiêu đã bình yên suốt năm mươi năm.
“Ta già rồi, Tần Kích cũng chết rồi, tiên sư Vân tướng cũng quy tiên hai mươi năm trước. Nhìn họ đến bước đường hôm nay, mới chớp mắt đã loạn cả rồi.” Tạ hầu nhấp một gụm tra Tùng La nói, khóe mắt già chùng xuống, không rõ là có đang cười hay không.
“Đúng vậy, nhưng dù sao Tần soái cũng cũng còn một tiểu thái tử kế thừa (*), còn ngài và Vân tướng thì thật đáng tiếc.” Tạ Do thều thào thưa. (* Mẹ của Phù Tô là Tiên hậu Tần thị)
“Cũng chưa chắc tiểu Thái tử kia có thể giữ được cái mạng; ở ngoài chìm nổi mấy năm, xa nhà từ nhỏ, cũng chẳng biết có thành tài. Ý của Thánh thượng thế nào, có muốn cho tiểu Thái tử trở lại hay không, cũng chưa rõ. Tính toán thì năm nay hẳn cũng hai mươi ba. Nếu ở thiên thất (*chỉ hoàng cung), có lẽ con cháu thành đàn, thế nhưng như hiện nay thì đừng nói con nối dõi, ngay cả bản thân còn khó giữ.” Tạ hầu thở dài.
Tạ Do cũng thở dài, “Đúng thế, Tiên hoàng hậu cũng rất thông minh ngoan ngoãn. Lúc nhỏ theo cha tới Huy thành, ta có đưa nàng đi dạo, mua rất trái cây, lúc đó nàng liền hát cho ta một bài, cong mắt cười, áo quần sạch sẽ chỉnh tề, đáng yêu vô cùng. Ta còn nghĩ nếu ngài có thế tử, Tiên hoàng hậu làm Giang đông vương phi cũng chẳng phải chuyện khó khăn. Ai ngờ nàng lại…”
Tạ hầu hớp một ngụm trà, gõ nhẹ lên chiếc bàn gỗ sơn đỏ, nói: “Đó là nợ. Tổ tôn ba đời nhà họ nợ Thành gia, phải trả. Còn nợ của Tạ gia đã trả hết rồi, không phải đó là giải thoát sao. Trăm năm sau, Tạ gia ta không phải mang tiếng bán chủ cầu vinh, cũng coi như mười lăm đời chúng ta không uổng phí máu đã đổ để tận trung với nhà họ.”
“Trừ ngài và ta ra, còn ai biết nữa chứ?” Tạ Do nghĩ tâm tư chủ tử mình quá nặng. Nên chết đều đã chết rồi, chỉ còn nắm tro lẫn trong đất vàng, còn ai có thể đến để lật lại chuyện cũ nữa?
“Phải giữ gìn lầu cũ kia thật tốt…” Tạ Hầu nhướng mắt lên, đôi mắt đã đục ngày già cỗi. Ông định nói gì nhưng ở trong góc tường không được nắng chiếu tới từ từ xuất hiện bóng đen sẫm, kéo dài, trông như dáng người. Trong màn sương mờ ảo, bóng đen vái chào, hỏi với giống khó xử: “Ta đã ở đây mấy ngày rồi. Xin hỏi hai vị lão nhân gia, nơi này là đâu.”
“Giữ chặt tòa lầu cũ kia…” Tạ Hầu nâng mắt lên, đôi mắt đục ngầu già nua. Ông định nói điều gì, nhưng nơi góc tường không được ánh chiều tà chiếu tới, dần dần xuất hiện một bóng đen dài, giống hình dáng một con người. Trong màn sương mờ ảo, bóng đen cúi chào, rồi hỏi với giọng khó xử: “Ta đã ở đây khá lâu. Dám hỏi hai vị lão gia, đây là nơi nào?”
Tạ Do chỉ còn hai chiếc răng, vì sợ quá mà lần này đã rụng hết, lão đau lòng vô cùng.
Sau đó, từng nhóm đạo sĩ được mời tới. Ban đầu vẫn ổn, hết rung chuông rồi tới niệm kinh, cứ tưởng đã trừ được quỷ, không thấy bóng dáng nó đâu. Nhưng lại một lát sau, con quỷ đó lại từ từ chui ra, “Xin hỏi lão gia, đây là chỗ nào?”
Sau đó, không ai có thể trấn áp được nó.
Rồi tiếp theo đó, ở Huy Thành, có hai người một lớn một nhỏ xuất hiện.
Lón có vẻ ngoài thanh nhã, ít nói điềm tĩnh, nhỏ thì quầng mắt thâm đen, cằm nhọn nói nhiều thô lỗ. Người lớn rất cao, vóc người thẳng tắp, người nhỏ lại như có bệnh, bụng tròn vo, nhìn khoảng bốn năm tuổi nhưng chỉ cao cỡ hai cái bánh hấp xếp chồng (*).
À, đó là mọt người lùn.
(* Thật ra câu này ý nói là người lùn giống Võ Đại Lang (trong truyện Thủy hử), 炊饼 cũng là loại bánh mà ông ta gánh đi bán – chứ không phải thật sự chỉ lùn bằng 2 cái bánh hấp.)
“Phù Tô.”
“Sao thế?”
“Bọn họ đang nhìn ta.”
“Ừm.”
“Còn gì nữa không.”
“Cứ để bọn họ nhìn.”
“Tướng công.”
“Ừm.”
“Ta xấu hổ, họ nhìn tới mức ta thấy thẹn.”
“… Nàng cứ nghỉ ngơi đi, nghỉ chân, và nghỉ cái miệng nữa.”
“À.”
Bánh hấp nhỏ vốn đang cười vui vẻ, đột nhiên phồng má, mặt đỏ bừng, nín thở một lát rồi con rút, biến lại chỉ còn bằng một cái bánh hấp.
Đôi tay thon dài như tạc từ bạch ngọn vươn ra, bánh hấp nhỏ nhảy lên. Trong đó một bàn tay khẽ vuốt mái tóc bị rối vì chạy vui quá, sau đó đặt vào trong tay áo xanh lam rộng.
Mọi người xem đến ngẩn người, đều bảo: “Đây là ảo thuật!”
Nhỏ con ló cái đầu nhỏ trong tay áo xanh ra, cằm nhọn, tóc búi như bánh bao, nhìn rất dễ thương nhưng lại cười khà khà nói: “Không phải ảo thuật, ta là Đại Yêu Quái. Họ Đại tên Yêu Quái.”
Các ông các bà nghe thế còn cười vui vẻ hơn, một lúc sau, người trên phố yên tĩnh, bỗng không biết ai hết một tiếng ‘Yêu quái!’ khiến mọi người đều hoảng sợ, nhất thời gà bay chó chạy, cuống cuồng bỏ chạy, té ngã lộn nhào, vỏ bầu, vỏ bí, vỏ dưa lăn nhanh và xa hơn.
Bánh hấp nhỏ rụt đầu lại, ngượng ngùng hỏi: “Phàm nhân không có thú vị gì cả, đúng không, Phù Tô?”
Phù Tô lặng lẽ lấy một ít loại hạt bỏ vào tay áo, Hề Sơn quân ôm lấy gặm, nước miếng nhễu nhão, Phù Tô vốn yêu sạch sẽ chỉ biết bất lực. Từ khi vợ chàng phát hiện ống tay áo này là một đông ấm hè mát để trú ngụ thì không chịu ra ngoài nữa.
Việc Tạ Hầu muốn chia gia sản rất ầm ĩ, ngay cả cặp vợ chồng nuôi khỉ trên núi cũng nghe nói tới. Hề Sơn quân nghĩ, ôi, đúng là chồn đang đói thì có người mang gà tới cho, thế là lăn tròn, lăn vào trong tay áo Phù Tô nói: “Tướng công, đi thôi, tiền trên trời rơi xuống kìa.”
Trùng hợp Yến nhị cũng đang nhận nhiệm vụ ở đây, đã ba năm nay Phù Tô chưa gặp y, cũng hơi nhớ. Chàng cân nhắc một hồi, dưới ánh nến, tại một quán trọ nhà dân bình thường, viết một bức thư.
Mới viết được vài dòng, bánh hấp nhỏ đã ngáy ầm ĩ. Phù Tô chỉnh lại chăn, nhìn cái trán trơn bóng của nàng, giống như một nửa cái bánh trôi đang nổi trên mặt nước. Chàng cúi đầu nhẹ nhàng xoa lên, vô thức mỉm cười.
Bức thư lại được viết thêm vài câu, bỗng một con gió lạnh thổi tới, làm giấy bay bay. Ngoài cửa sổ có một bụi tường vi nở rất đẹp, cành hoa lay động, từ xa thấy bốn con quỷ mang dáng vẻ giống dạ xoa đang khiêng kiệu bay giữa không trung, dưới ánh trăng chiếu như đang bước xuống, từ từ đi tới.
Một thanh niên áo đen đang ngồi trên kiệu.
Y bước xuống kiệu, nằm rạp bên bụi tường vi, trên khuôn mặt tái nhợt nở nụ cười, ho khan nói: “Huynh trưởng tới rồi.”
Phù Tô nhớ y, cũng cười. Chàng nghĩ tới lí do chàng đã tha thứ cho Hề Sơn quân. Chàng hỏi nàng: “Nếu ta không đến, chẳng lẽ nàng thật sự sẽ để Nhị đệ chết sao?”
Phù Tô nhớ kĩ câu trả lời của Hề Sơn quân, nàng nhìn chàng như một con khỉ chưa trả sự đời, đáp: “Ta đến rồi, ta luôn ở đó.”
Mặt trăng vàng cam treo giữa trời, ánh sáng ấm áp. Phù Tô nhìn Yến nhị, xoay người, hoang mang tìm bóng dáng Hề Sơn quân nhưng chiếc giường đã trống rỗng. Chàng nuốt nước bọt, xoay người thì thấy bánh hấp nhỏ đã nhảy lên mu bàn tay tái nhợt của nho sinh áo đen.
Nho sinh và tí hon hai mắt nhìn nhau, một người rũ đôi mắt nghiêm nghị bảo thủ nhưng bản tính đơn thuần, một kẻ giương mắt đầy tính toán nhưng lại mang nụ cười ngây thơ.
Bụi tường vi vừa nở hoa, hương thương ngọt ngào thoang thoảng bay tới giữa ba người đang dè dặt cẩn trọng.
Tí hon mỉm cười, mái tóc mai lòa xòa bị gió đêm thổi bay. Nàng ngẩng đầu hỏi nho sinh: “Ba năm không gặp, huynh có còn ăn thịt, có còn chơi cờ, có nhớ tới ta, nhị ca?”
Có nhớ tới ta, nhị ca?
***
Phù Tô xe bảng cáo thị, đi tới dinh thự Tạ hầu.
Tạ hầu là người chào đón, “Bản hầu không có kẻ thù, người thân cũng sống thọ chết tại nhà, ân oán tình cừu này nọ đừng hỏi ta, mấy đạo sĩ khác cũng từng hỏi rồi, ta không biết con quỷ đó.”
Yến nhị cau mày, suy nghĩ một lát, hỏi: “Vậy có ai khi còn sống luôn nghĩ tới ngài, mất đi rồi không được yên nghỉ không?”
Hề Sơn quân thò đầu từ trong ống tay áo của Phù Tô, nói: “Y đang muốn hỏi về nữ nhân.”
Lão nô Tạ Do cười khằng khặc: “Vậy thì nhiều lắm. Có thể vì Hầu gia trước giờ luôn là người hào hiệp phóng khoáng, tuy thời niên thiếu cũng có chút chuyện phong lưu, nhưng chỉ là chuyện gió thoảng mây trôi, chưa từng phụ bạc cô nương nào. Lớn tuổi rồi tính tình thận trọng hơn, càng cẩn thận. Vương phi nhà ta mất sớm, Hầu gia lại là người si tình, chưa từng nạp cơ thiếp nào cả.”
Phù Tô hỏi: “Ta nghe nói gia hầu từng có ba vị vương phi.”
Khuôn mặt già nua của Tạ hầu không có chút phản ứng, Tạ Do ho khan: “Hai vị kế vương phi của Hầu gia chưa vào cửa đã mất, còn Vương phi nguyên phối là quận chúa Thành Linh của Tề quốc trước đây.”
Yến nhị bấm tay tính toán, nói ngắn gọn: “Số phận nước Tề cũ quả rất lận đận.”
Nước Tề cũ có lãnh thổ rộng lớn, truyền qua bốn đời, chấm dứt vào thời tổ phụ của Phù Tô, Chân Tông. Giờ đây nước Tề bị các chú của Phù Tô chia cắt, một quốc gia rộng lớn lại bị chia thành năm sáu nước nhỏ, lớn nhất trong số đó gọi là Lang Nha.
Ta Do nhìn Tạ Hầu, hơi do dự, nhưng Tạ hầu lại ngẩng đầu hỏi Phù Tô: “Ngươi là người Thành gia?”
Phù Tô sửng sốt. Tạ hầu cầm tay trái chàng lên, trên ngón trỏ của bàn tay trái có một nốt ruồi son. Lão nói: “Họ Thành tự nhận là thiên tộc, từ khi sinh ra đã có nốt ruồi son, thường ở tay chân. Chân Tông có nốt ruồi dưới gan bàn chân, Tiên đế có nốt ruồi trong khủy tay, Kim thượng hiện cũng có nốt ruồi son dưới ngón tay cái.
Phù Tô nở nụ cười: “Cô xin nghe dạy.”
Tạ Do hơi ngạc nhiên, nhưng Tạ Hầu như đã đoán trước, không biểu lộ gì trên mặt, chỉ nói: “Đã là con cháu cô nhân, vậy kể cho ngươi nghe một chút cũng không sao.”
Tạ Do gãi cái trán rộng, cười khổ: “Lão nô thật sự không biết phải bắt đầu từ đâu.”
“Vậy để ta kể.” Tạ hầu xoay chiếc nhẫn bạch ngọc trên tay, “Ta thời trẻ làm chuyện theo ý thích, không quá cẩn thận, vì vậy, kết cuộc lại rước phải vài sát tinh.”
Dinh thự của Tạ hầu có hai điện bốn vườn. Này Thái Tông vè trời, một trong hai điện và ba trong bốn vườn từng bị lửa trời thiêu rụi hơn phân nửa, sau đó phải mất mấy chục năm mới dần khôi phục lại như lúc đầu. Hề Sơn quân bước chân không dài, đi vài bước đã biến từ một người tí hon chỉ nhỏ bằng bàn tay thành một thiếu niên mặc áo gai.
Nàng tưởng rằng mình đã quên hết mọi chuyện ở đây, nhưng rốt cuộc trong lòng vẫn còn chút lưu luyến, Nàng ở nhân gian ngắn ngủi, phần lớn là ở đây, vậy nên cứ nhớ mãi không quên.
Cứ đi mãi, đi mãi, tới một rừng hải đường đang được gió mát thổi qua, cuốn theo rất nhiều cánh hoa thổi tới.
Hoa Như ấp hải đường này được đặt theo tên của vị công chúa Như Ấp cuối cùng của Tế quốc thời chiến quốc. Như Ấp công chúa yêu hoa hải đường đến si dại, trong mơ được thần nữ tặng cho một hạt giống, tương truyền là giống hải đường mang hương thơm tuyệt thế hiếm thấy trên đời. Thế nhưng sau khi gieo xuống, hải đường năm nao cũng có nụ nhưng lại mãi chẳng nở. Từ nhỏ Như Ấp đã yếu ớt, mang theo nỗi tiếc nuối này suốt đời. Đến khi chết yểu vào năm mười sáu tuổi, trước khi qua đời cô có dặn mẫu hậu, hãy chôn cô dưới cây hải đường, vì trên đời chỉ có đất ấm áp, hải đường triền miên.
Vào năm cô qua đời, hải đường đã nở, hương thơm ngập tràn Tề cung. Tề quốc diệt vong, Như Ấp hải đường được đưa vào trồng ở Tần vương cung, từ đó về sau năm nào cũng nở hoa rực rỡ, nhưng lại không còn tỏa hương.
Hề Sơn quân nheo mắt nhìn rừng hải đường, dưới tán hải đường có một bóng đen đang ngồi nhìn nàng một cách bối rối, sợ sệt.
Cái bóng đó hơi do dự, rồi cúi đầu chào nói: “Trên người công tử đây có mang khí tức cũ của vườn này.”
Sao lại không có cơ chứ? Hề Sơn quân mỉm cười, quỷ này cũng có chút linh khí.
Vì khu vườn này chính là khuê các nơi Hề Sơn quân từng ở dưới trần gian.
Còn phủ của Tạ Hầu chính là nhà của nàng ba trăm năm trước.
Có những lúc nàng thực sự mong muốn được trở về lúc bốn năm tuổi, khi không biết gì về số mệnh ai, nhưng lại thích nằm trên mặt đất, hăng hái lắc mai rùa nghe tiền xu để đoán mệnh số của người ta. Nhưng cũng có lúc, nàng lại cảm thấy có thể chịu đựng tới ngày hôm nay, đứng trên mảnh đất xưa, cách chuyện cũ hơn ba trăm năm, lại là một điều tuyệt vời.
Bởi vì sẽ không cần phải trải qua lần nữa, bởi vì không cần phải lặp lại tình cảnh s* s**ng thêu giá y trong bóng đêm, mà nhất là khi trên người còn đang mặc đồ tang.
Trong rừng hải đường có ẩn giấu một căn lầu nhỏ. Đó là khuê phòng của nàng, nơi bắt đầu mọi tiếc nuối trong cuộc đời.
Nghe bảo căn lầu đã bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn, những món vật dụng cũ được bày biện trong khuê các cũng hóa thành tro.
Yêu quá sâu, hận quá nặng, trước đây nàng đã từng trải qua cả, thế nhưng đến bây giờ, đều trở thành nuối tiếc.
Cảnh vật của ngày trước, con người của ngày trước, ngọc báu của ngày trước, tàn lụi của ngày trước. Xung quanh đều là cảnh tan hoang, không nỡ nhìn tiếp.
Bóng đen đã cắt đứt suy nghĩ của Hề Sơn quân, dường như có vẻ hưng phấn, vỗ tay nói: “Có chủ cũ trở về rồi, vậy thì tốt quá, tốt quá. Xin hỏi công tử, ngài có biết làm sao để đi ra khỏi khu vườn này không?”
Hề Sơn quân hỏi lại: “Vườn hải đường này sao?”
“Không phải, là khu vườn lớn như cung điện đang giam giữ ta.”
“À, ý cô là dinh thự của Tạ hầu. Hóa ra cô bị lạc đường chứ không phải cố ý dọa người?”
Bóng đen tỏ vẻ lúng túng, “Không biết vì sao mà những lão già đó, lại quá hoạt bát sao với những người già khác.”
Lòng Hề Sơn quân thầm có vài suy doán, cười bảo: “Ta đây đường đường là một vua một núi, giúp cô thì cũng không phải không được, chỉ là ta thích nghe chuyện xưa. Cô kể chuyện ngày xưa của mình cho ta nghe chút, kể hay thì ta sẽ dẫn cô rời khỏi chốn quỷ quái này.”
“Ta à? Cô nhìn ta bây giờ là một cái bóng đen thui thế này thôi, chứ khi còn sống, ta cũng trắng lắm đó.”
“Sơn quân thích nghe chuyện xưa sao? Cô đừng thấy ta bây giờ là một cái bóng trẻ trung vậy thôi chứ thật ra lúc còn là người, ta đã là tổ mẫu của người ta rồi đó. Cháu gái ta cũng thích nghe chuyện xưa lắm. Nó thích nghe mấy chuyện về quỷ thần đấy, không biết Sơn quân có thích chăng?”
“Nhà ta có hai mươi mẫu ruộng nước, sống dựa vào mùa màng. Năm nào mưa thuận gió hòa thì sống tốt, gặp hạn hán lũ lụt thì cũng vẫn đủ lương thực sống qua ngày, không đến nỗi quá khó khăn. Khi còn trẻ ta đã phiêu bạt khắp nơi, lấy chồng muộn, tới năm hai mươi tuổi mới ngồi xe bò tới Lang nha quận, sau khi ổn định cuộc sống thì gả cho một nông dân địa phương. Lúc trẻ thân thể ta từng bị tổn thương nên không thể sinh con, may mà phu quân không chê, sau đó nhận nuôi một đứa trẻ ở làng bên, coi như trong nhà cũng đã đủ nhân khẩu, cuộc sống ngày càng tốt lên. Thế nhưng một hai năm sau đó, chồng ta qua đời, nhà cửa ruộng vườn dạy dỗ con cái đều dồn hết lên người ta. Những ngày đó rất mệt, người chưa từng trải qua sẽ không hiểu đâu. Thời niên thiếu ta phải đi ăn xin, từng bị đánh gãy chân, sau đó vì kiếm sống mà phải mặc đồ nam giới ra bến đó xin cõng bao muối của quan phủ. Lúc đó chân chưa lành, một chân không có sức, phải kéo lê cái chân mà cõng hai bao muối. Sự mệt mỏi khi đó, cũng giống vậy.”
“Người đời có câu đã xui lại càng xui, đúng vào mùa vụ năm đó, nói ra chắc Sơn quân cũng không tin, ngay cả lọ muối nhà ta cũng có dòi. Đó là cách nói của người làm nông ấy, ai mà xui xẻo tột cùng lắm thì muối mới sinh dòi. Năm phu quân ta qua đời, lũ lụt tràn về, bao nhiêu công lao khó nhọc một mùa, dưới cơn mưa tầm tã, thấy lúa sắp bị cuốn trôi mất, không còn giữ được một hạt. Ta lập tức xuống ruộng gặt cả đêm, đến khi kiệt sức ngủ quên giữa cơn mưa. Từ nhỏ ta đã thờ phụng Huyền nữ nương nương, trong mơ như mơ hồ nhìn thấy bóng dáng mỹ lệ từ bi của nương nương dần hiện ra giữa màn mưa. Người đứng trước mặt ta, nói rằng, Đừng gấp, mọi thứ rồi sẽ ổn cả thôi.”
“Đến khi ta tỉnh dậy thì đã được ngồi trong căn lều dựng tạm, trong lều có một chậu than ấm áp đang cháy, lúa dã được thu hoạch toàn bộ, chất gọn gàng trong lều.
“Tạnh mưa, ta dắt con đi hơn ba mươi dặm tới miếu Huyền nữ để cúng tế. Huyền nữ khoác dải lụa bạc, nụ cười cảm thương, đôi mắt trong suốt có thần, là hình dạng mà ta đã nhìn thấy trong mơ.””
“Năm đó ta và con không bị chết đói, giữ được cái mạng, từ đấy về sau càng tin thờ Huyền nữ. Mỗi khi dành dụm được gì đều không quên dâng tặng nương nương chút dầu thơm.”
“Đó là một chuyện. Còn một chuyện khác, con trai ta đã trải qua. Nó từ nhỏ không cha nên hay bị lũ con nít trong làng bắt nạt, thế nhưng nó không kể ta nghe, ban đầu ta không hay biết gì. Đây là chuyện sau này nó mới kể lại. Chập tối hôm nay, lúc tan học từ trường tư thục về, thằng bé bị người ta trùm bao bố kéo đi. Con ta cố gắng vùng vẫy, bị đánh mấy gậy vào người, thậm chí còn nghe thấy tiếng cười của lũ người đó. Nó nhận giọng bọn chúng, là đám học trò cùng trường. Thấy nó cũng thầy giáo khen, bảo kì thi đồng sinh có hi vọng nên sanh hận trong lòng. Bọn chúng đánh con ta một trận trút giận xong vẫn không bỏ qua, còn ném nó vào bãi nghĩa địa trong làng. Con ta vừa khóc vừa bò ra khỏi bao bố thì nhìn thấy mộ của ông bà ngoại, càng nhìn càng thấy thương tâm nên ôm bia mộ òa khóc nức nở.”
“Sơn quân không biết đâu, cha mẹ ta lưu lạc chết tha hương, lúc ấy được người ta quấn chiếu chôn ở đây. Ta tốn rất nhiều thời gian mới tìm được, định cư ở làng này cũng vì muốn túc trực bên linh cữu mẹ cha. Tình cảm của ta và cha mẹ sâu nặng, mùng một và rằm đều đưa con đi viếng mộ, kể cho nó nghe những chuyện của ông ngoại hồi trẻ nên nó luôn có cảm giác thân thuộc gần gũi với ông ngoại. Nay rơi vào cảnh, thấy người thân chẳng phải sẽ càng dâng trào cảm xúc sao? Thằng bé khóc nức nở, ngồi trước mộ của cha mẹ ta vừa vừa kể chuyện của ta và nó ở gặp phải ở làng này, mẹ góa con côi, bị không biết bao nhiêu gia đình bắt nạt. Thằng bé cũng ngốc nghếch lắm, khóc xong con nói, Ông ơi, bà ơi, xin người hãy báo thù thay con, để bọn họ cũng biết mùi vị bị bắt nạt khó chịu thế nào.”
“Con ta mang thương tích đầy mình nên sợ ta lo lắng, không dám về nhà, mãi tới khi trời tối mới bất đắc dĩ đi về, bước chân tập tễnh. Ta thấy con mình như vậy đương nhiên càng đau xót, tức giận đi tìm cha mẹ của lũ bắt nạt kia để nói lý lẽ, nhưng lại bị người ta đuổi đi.”
“Nhưng nói cũng lạ lắm, kể từ khi con ta khóc lóc trước mộ của ông bà ngoại, thì những ngày sau đó, gia đình của lũ trẻ bắt nạt nó đều xảy ra chuyện không may, liên tục gặp chuyện xấu, ngày càng nghèo khó. Sau này con ta trưởng thành rồi, nhận một chức quan nhỏ trong quận, vẫn thường xuyên cảm thán rằng, làm người chớ nên đi ức h**p kẻ khác, đẩy người ta vào bước đường cùng. Tuy có những người nghèo khó sống khổ cực vậy đó, nhưng ai dám chắc tổ tiên nhà họ không tích đức? Và cũng ai đảm bảo rằng đời sau của họ sẽ không có ngày được nở mày nở mặt?”
“Nó vẫn luôn tin rằng trên đời có quỷ thần. Tuổi trung niên có vài lần đề nghị muốn trùng tu lại phần mộ của ông bà, thế nhưng ta cũng không đồng ý.”
“Sống đàng hoàng, sống thật tốt, đó mới là tôn trọng lớn nhất dành cho tổ tiên.”
“Sau đó cháu gái ta ra đời, cha nó lo lắng ta ở một mình trong làng thấy cô đơn nên khi con bé được bốn năm tuổi thì gửi đến ở chỗ ta để bầu bạn. Con bé kể rằng nó cũng từng gặp một lão thần tiên, nhưng ta lại cảm thấy đó chỉ là câu chuyện đùa.”
“Ta ở nhà thêu thùa, cháu gái thường ra ngoài chơi trong làng. Một ngày nọ nó kể rằng trên sườn núi cách ruộng nhà ta khoảng một dặm có một căn nhà tranh cô độc, trong nhà có một lão thần tiên râu bạc phơ. Lão thần tiên đã cười với nó rất hiền. Con bé muốn gì lão thần tiên đều có thể biến ra trong nháy mắt. Ta cảm thấy thật buồn cười, vì bà già ta ở đây hơn năm mươi năm, chưa từng thấy có ai sống ở sườn núi hoang vu đó.”
“Cháu gái ta nói chắc như đinh đóng cột, nằng nặc kéo ta đi xem. Tới khi ta chống gậy tới sườn núi ấy thì thấy trống không, chẳng có gì. Cháu gái ta trợn tròn mắt, nói hôm qua vẫn còn ở đây cơ mà, sao lại không thấy tăm hơi đâu nữa, tổ mẫu hãy tin con.”
“Ta hỏi nó, có phải lão thần tiên đã dặn con không được nói cho ai nghe về chuyện đã gặp ông ấy không?”
“Con bé rưng rưng nước mắt, tủi thân gật đầu rồi lại lắc, nói: Con nói với ông rằng, bà con là bà lão thông minh nhất trên đời, con muốn đưa bà tới gặp ông. Sau đó ông cũng nói là muốn ặp bà nên con mới đưa bà tới mà. Nhưng tại sao lão thần tiên lại trốn đâu mất rồi.”
“Ta không biết phải an ủi con bé thế nào. Cháu gái ta buồn lắm, mãi tới khi xuất giá nó vẫn nhắc: Bà ơi, lão thần tiên trông đẹp lắm, nếu có một ngày bà nhìn thấy ông ấy, bà sẽ biết không chưa từng nói dối đâu.”
“Ôi, ta có nói đứa bé ngốc này nói dối bao giờ?”
“Đêm hè năm đó, khi ta quạt cho cháu ngủ, nó lấy những viên ngọc lưu ly giá trị liên thành dưới gối ra, cười bảo đây là thứ lão thần tiên đã tăng cho. Tức lúc đó ta đã tin rồi.”
“Có lẻ ba đời bà cháu ta đều có chút duyên phận với hần tiên, thế nên mới gặp những chuyện thần kì này, kể lại vẫn thấy rất ấm áp. Sống trên đời này, có những thứ con người không thể cho, đôi lúc phải dựa vào trời cao.”
“Khi chết đi, ta được chôn chung với phu quân, quỷ hồn được ở lại trong làng. Hằng ngày nhìn khói bếp bốc lên, mặt trời mọc rồi lặn, cảm thấy cuộc đời thật mãn nguyện. Tới ngày nọ, có nhóm binh lính đến đào thi thể của ta mang đi, ta rất phẫn nộ, nhưng bị rơi vào mê chướng, tới khi tỉnh lại thì đã ở trong khu vườn không thể thoát khỏi này. Quỷ hồn cũng biến thành dáng vẻ lúc còn trẻ, nhưng lại trở thành một cái bóng đen, không ai nhận ra ta, mà ta cũng không thể nhận ra ai.”
Phía Phù Tô và Yến nhị đã uống mấy chén trà, cũng đã nghe rõ chuyện xưa của Tạ hầu.
Thuở thiếu thời, cha của lão Tạ hầu từng bị Thiên tử nghi ngờ vì là thân gia với Tề vương, gặp tai họa bị tịch thu gia sản, sau đó phẫn uất sinh bệnh rồi cũng đi theo người bạn đời. Tạ tiểu hầu gia trốn nhanh, lưu lạc bên ngoài nhiều năm, sau đó nhờ đi theo Vân tướng lập được công lao hiển hách trên chiến trường, lật lại vụ án nhạc phụ Tề vương mưu phản, rửa oan giải tội, từ đó được thiên tử tín nhiệm, cho quản lý Giang đông. Lúc lưu lạc bên ngoài, hắn từng gặp một hồng nhan tri kỉ đã cứu mạng. Tuy nhan sắc của nàng ta không đẹp đẽ gì, nhưng giữa hai người cũng có chút tình cảm. Hắn vốn định cưới nàng làm vợ, nhưng ngờ đâu khi oan khuất được rửa sạch thì vị hôn thê mà mọi người đồn đã chết từ lâu – Tề quận chúa Thành Linh lại xuất hiện. Lúc niên thiếu hắn đã định tình với Thành Linh, nay thấy người trong lòng không chết, sao nỡ nhẫn tâm bỏ mặc? Thế là hồng nhan tri kỉ đành chịu ủy khuất làm trắc phi, vài năm sau lại ủy khuất chết đi, trước khi chết còn mắng chửi Tạ tiểu hầu là tên mặt trắng bội tín, sẽ có ngày đoạn tử tuyệt tôn.
Quả nhiên sau khi thành thân với quận chúa Thành Linh được mấy ngày, quận chúa đoản mệnh cũng qua đời. Sau đó Thiên tử có hai lần ban hôn, thế nhưng những cô gái ấy chưa kịp vào cửa đã mất mạng, điều này càng khiến lời đồn Tạ tiểu hầu khắc thê thêm chắc chắn. Sau đó, Thiên tử và nước láng giềng cũng đưa vài cơ thiếp tới, nhưng cũng đều là người hồng nhan bạc mệnh, không sinh được con nối dõi, thân thể cũng chẳng khỏe mạnh, người sống lâu nhất cũng đã qua đời từ hai mươi năm trước, Tạ hầu thật sự trở thành một kẻ cô đơn.
“Nói vậy là Hầu gia nghi ngờ quỷ hồn kia có chút liên quan đến hồng nhan tri kỉ của ông?” Phù Tô là nam nhân, chàng hiểu nghi kị của Tạ hầu đối với hồng nhan tri kỉ kia. Ông ta không con cháu, nay gặp chuyện ma quái quấy rối ở hậu viên, chẳng phải dễ khiến liên tưởng lung tung sao?
“Ngươi tìm được quỷ hồn đó,” Tạ hầu nói, “Không đạo sĩ nào bắt được nàng. Ta có gia tài bạc triệu, chỉ cần ngươi tìm được nàng.”
Lão già cười nhẹ, tựa như đã nhìn thấy tia sáng trong bóng tối, lại như đã nắm chắc phần thắng trong tay.
(*) Có thể đọc lại trích đoạn ở chương 3 như sau: Năm mươi năm trước, quan hệ giữa hai nước Tề và Sở rất tệ, nhà vợ của Tạ hầu, Tề vương cùng vị hôn thê Tề quận chúa đều chết trong tay Sở vương. Hầu mang tử sĩ, đi ám sát Vương, nhưng trúng mai phục. Có một vũ cơ, mặt mũi xấu xí, cản thay một kiếm, Tạ Hầu bị thương, phải đi lẩn trốn, sau đánh tây Đột Quyết, lập được công to, phong Hầu thượng hầu. Thắng lợi trở về, qua phường nô lệ, trước sạp treo tranh, bán nữ đầy tớ. Trông tầm thường thấp hèn, nhưng khiến Hầu ngừng chân. Hóa ra nàng vũ cơ, đã từng cứu mạng hắn, nay bị nhốt trong lồng, trầm mặc không lên tiếng. Dùng ngàn lạng vàng, Tạ Hầu mua cơ. Kế tiếp, bao chuyện đã xảy ra, Tề đại phu liều mình, Hầu tìm được Quận chúa, đã tránh được một kiếp, thế là cũng đưa về. Lập Quận chúa thành Tạ Hầu phi, đưa cơ làm trắc. Hầu phi mất sớm.
Còn ở phía này, Hề Sơn quân lắc đầu, “Chuyện này nghe không hay, cũng có chút kỳ lạ, nhưng cô nói nghe lung tung quá, khiến người ta không rõ ràng.”
Bóng đen chẳng hề thất vọng. Lúc còn sống chắc nàng là một hoạt bát hay chuyện lắm, nên giờ đây cũng hăng hái kể tiếp, “Vậy để ta kể về câu chuyện mà các cô nương trẻ tuổi đều thích nghe nhé, về một nữ hiệp.”
“Nữ hiệp này khi còn trẻ, lúc mười lăm mười sáu tuổi đã trải qua những ngày lưu lạc đầu đường xó chợ, vì nhất thời sơ sẩy bị lũ buôn người bán vào kỹ phường nước Sở. Chủ kỹ phường được gọi là Lâm cửu nương, sắc đẹp tuyệt trần. Thị có vòng eo mềm mại, là một vũ cơ nổi danh Bách quốc, tuổi mới đôi mươi nhưng lại vô cùng khí thế. Thị thường nhận được lời mời mang một xe toàn mỹ nhân đến các nước để hiến nghệ. Các chu hầu rất thích sự dịu dàng hiểu chuyện và khả năng uốn dẻo nên đến đâu cũng được tiếp đón long trọng.
“Nữ hiệp họ Khương, nhà nghèo không có thói quen đặt tên, trong nhà nàng đứng thứ hai nên mọi người gọi là Khương Nhị Nha (*二丫- Nha trong nha đầu). Nhị Nha khó nghe quá nên khi vào đây, nàng tự xưng là Khương Nhị. Khương Nhị nhan sắc tầm thường, eo cứng nên chỉ có thể làm hạ đẳng cơ, làm sao tới lượt nàng được hiến nghệ trước các chư hầu, chỉ có kiếm chút tiền hạ đẳng nhờ da thịt. Nàng có một người tình, là nông dân nước Tề, mùa nông nhàn gã qua nước láng giềng làm việc nặng kiếm sống. Gã đối xử với nàng cũng không tệ, ít ra không đánh chửi, lúc dư dả còn cho nàng vài đồng mua hạt trường thọ ăn (* hồ đào). Khương Nhị không thích tô son điểm phấn, chỉ thích ăn điểm tâm, có chút tiền cũng để dành mua ăn nên dung mạo không được tân trang, càng thêm thô kệch, cuối cùng chỉ có nông dân đó còn chịu lui tới chỗ nàng. Nông dân nói, sau này dành dụm được tiền sẽ dùng để chuộc thân cho nàng, đưa nàng về nhà làm một bà vợ biết nóng lạnh cuộc đời.”
“Nàng nghe thế thì cười híp mắt. Nàng cảm thấy lời đó thật khiến người ta xấu hổ, thế nhưng lại không nhịn được mà cười. Ôi, Sơn quân chớ cười, vốn không muốn kể chuyện của mình đâu, nhưng đó là sự thật đấy, vậy mà nghe như đang gạt người, chỉ là nói một hồi thành lỡ miệng, hiệp nữ Khương nhị đó là ta thời trẻ đấy.”
“Khương Nhị, không, là ta, lặng lẽ chờ ở đường quán. Một hôm, cả thành đều cẩn thận đề phòng. Mọi người nói Sở vương muốn tới săn thú dạo chơi. Quận trưởng vội vàng bảo Lâm cửu nương hiến nghệ. Chỗ thành trì ta ở là biên giới giữa Tề – Sở, không lớn lắm, và chỉ có đường quán của Lâm cửu nương là nổi danh nhất. Nghe bảo Sở vương mang nhiều thị vệ, số lượng người trong kỹ quán không đủ nên ta cũng nằm trong gọi lên, lúc đó góp vào cho đủ số, tiếp rượu thị vệ mạt đẳng.”
“Quan hệ giữa Lâm cửu nương và Sở vương không cạn, hằng năm đều sẽ ở lại cung Sở vương một tháng để biểu diễn. Vì thế khi đoàn người nước Sở tới, thấy có thị đến hầu hạ, ai cũng cảm thấy vui. Sở vương là em trai Thiên tử, tuy tuổi còn trẻ nhưng mưu lược kiệt xuất, tuổi còn nhỏ đã thâu tóm được Tề quốc lân cận. Tề vương mưu nghịch, năm ngoái, Tề vương và Hoàng hậu, Thế tử, quận chúa đều đã cùng nhau gặp Phật tổ.”
“Sở vương ngủ lại phủ đệ Quận thủ, ta và đám đào kép ngày ngày ra vào hầu hạ, lại phát hiện xung quanh được bày binh mỗi ngày một nhiều, nhưng rất nhanh sau đó, lại không thấy bọn họ nữa mà thay vào đó là những người bán hàng rong ngày càng đông. Nhìn kĩ lại thì ra những người gánh hàng rong này là thị vệ hạ đẳng mà ta hầu rượu ban đêm giả dạng.”
“Có vẻ Sở vương đang đợi một người, gã rất kiên nhẫn, cùng người này chơi trò chơi, hoàn toàn không giống như lời Quận thủ đã nói là tới đây để săn thú mua vui.
“Đợi được bốn năm ngày, ta nhớ đêm hôm đó trong cung múa cao tưng bừng. Kĩ năng múa của Lâm cửu nương cao siêu, tay nâng đèn lồng, chỉ vặn tay và đưa chân, đèn kia lập tức bay vút lên trời, sau đó là đà rơi xuống đôi tay ngọc ngà, khiến mọi người nhìn không rời mắt, cả sảnh đường ủng hộ hoan hô.”
“Cơ thể nam tử ngồi cạnh ta căng cứng, cảnh giác nhìn xung quanh. Ta vờ như không biết, chỉ rót một chén này tới chén khác mới hắn uống rượu, nhưng hắn đẩy ta ra, nhìn vẻ mặt rất chán ghét, không hề hứng thú uống rượu hay xem múa ca.”
“Đến khoảng giờ Tý, khi nhạc ngưng người mệt thì bỗng có vô số hắc y nhân tràn vào từ ngoài, cầm đao kiếm trong tay, khí thế hung hăng xông vào Sở vương. Dù rằng quân số không ít, võ nghệ phi phàm nhưng rõ ràng không đánh lại sự chuẩn bị kĩ càng Sở vương suốt mấy ngày qua. Chỉ chốc lát, đám người bán hàng rong ở ngoài phủ Quận thủ sẽ xông vào, chắc chắn đám hắc y nhân này sẽ không còn ai sống sót.”
“Thủ lĩnh đám hắc y nhân có đôi mắt lấp lánh như sao trời. Ta nhìn hắn một hồi, lòng thấy rất không nỡ. Hắn chỉa kiếm về phía Sở vương, còn ánh mắt ta lại nhìn vào thị vệ đang sắp ùa ra từ phía bình phong sau lưng Sở vương. Đầu óc rối loạn, ta xông vào trước mũi kiếm của hắn, mũi kiếm hướng vào người ta. Đôi mắt xinh đẹp thoáng chốc tỏ vẻ ngỡ ngàng, như không biết phải làm sao. Nhưng khi hắn nhìn thấy Sở vương phía sau ta, ánh mắt lập tức trở nên lạnh lẽo. Hắn đâm kiếm vào lồng ngực ta, ta đau đến mức ch** n**c mắt, chỉ có dùng khẩu hình miệng nói từng chữ với hắn: Nguy hiểm, chạy mau.”
Dường như hắn hiểu, dẫn tàn binh nhanh chóng rút lui, thế nhưng vẫn đụng phải những mai phục đã được giăng bẫy chờ sẵn. Trước khi chìm vào hôn mê ta nhìn bóng dáng hắn đang ra sức chiến đấu, ta mong hắn chạy xa hơn một chút, càng xa càng tốt. Ở đây, thật sự rất nguy hiểm.”
“Đến khi ta tỉnh lại, thấy Sở vương trước mặt. Ta không dám nhìn gã, chỉ biết dập đầu. Sở vương hỏi ta muốn gì, gã coi ta là ân nhân cứu mạng.”
“Thuở thiếu thời ta đã từng có rất nhiều mộng tưởng, không sợ Sơn quân chê cười đâu, lúc mà ta còn nhỏ hơn bây giờ, còn từng mơ tưởng rằng sẽ được gả cho mỹ nhân nổi tiếng Bách quốc Tạ tiểu hầu đó. Thử hỏi xem có thiếu nữ nào chẳng ôm mộng xuân, nào ai lại tưởng tượng sống những ngày bẩn thỉu nhơ nhớp như bùn lầy thế này? Ta dùng hết sức mà nói muốn ở được bên cạnh Đại vương, làm… làm một…”
“Lúc đó ta định nói là muốn làm tỳ nữ, nhưng đôi mắt đào hoa của Sở vương lại mang ý cười bảo: “Bản vương xưa nay có ân tất báo, ngươi hãy làm cơ thiếp đi.”
“Khi ấy ta còn tự khen ngợi sự cơ trí của mình. Ta nói rằng muốn được làm lễ nạp thiếp. Sở vương vẫn cười, nói ngày sau, nhưng trong mắt ngập tràn khinh miệt.”
“Kỹ nữ hạ tiện nhất trên đời này, mà dám đòi hỏi Vương một hôn lễ cơ đấy.”
“Ta ở lại cạnh gã, sống an ổn ở nơi hẻo lánh nhất phủ Quận thủ, để dưỡng bệnh và kiên nhãn chờ tới hôn lễ.”
“Ta không quên người nông dân nước Tề kia, nhưng hiện đã tới mùa thu hoạch, có lẽ hắn đã quên ta mất rồi.”
“Người đàn ông đầu tiên của ta là một lão già xấu xí. Lâm cửu nương đánh ta suốt ba ngày, nhốt ta ba tháng. Đến khi ra ngoài ta gầy tới lòi xương. Vì ta không nghe lời nên lão già kia đã túm tóc đập đầu ta vào tường. Ta thấy rất nhiều máu, chết lặng mà mất đi trinh tiết của mình.”
“Ta chờ gì chứ? Ta cô độc chờ tới ngày đó, ngày đó đã âm thầm tới rồi.”
“Lúc ta dọn tới chỗ mới, bên cạnh cái giếng cạn, giữa bụi cỏ hoang mọc cao tới ngang người, ta nhặt được một hắc y nhân. Hắn che mặt, nhắm mắt, muốn vượt tường nhưng bị trọng thương. Hắn như một con chim nhỏ bị vồ trúng, xám xịt vì bụi bẩn, gần kề cái chết.”
“Ta kéo mặt nạ của hắn xuống, nghĩ rằng trong nháy mắt chú chim nhỏ đã biến thành phượng hoàng rực rỡ.”
“Nếu như là Tạ tiểu hầu diễm tuyệt Bách quốc trong lời đồn, cũng chỉ có thể thế này mà thôi.”
“Từ nhỏ ta yêu cái đẹp, mẫu thân thường cười mắng ta là đ* h** s*c. Trước mỹ sắc nhường này, ta nhìn đến ngẩn người. Sau đó lại cười híp mắt.”
“Sơn quân, ta hiểu ngài cảm thấy khó hiểu, nhưng khi nhìn thấy một người đẹp như thế, ta luôn có ảo giác rằng tất cả những thứ xấu xỉ bẩn thỉu trước đó đều không quan trọng nữa. Thế nên ta phải cười thêm một cái. Hồi con nhỏ ta rất thích khóc, kết quả là khóc tới nỗi khiến bản thân xui xẻo, nghĩ kĩ lại, thấy đời người chỉ có vài chục năm ngắn ngủi, chẳng sống được mấy ngày tốt đẹp, sao lại không cười? Sao lại không dự dỗ dành chính mình?”
“Ta không có tì nữ bên cạnh, vườn ấy lại đổ nát nên ngoại trừ người mang cơm thì xưa nay không ai tới. Thế là ta ở một mình trong nhà đó để chăm sóc hắc y nhân. Trời lạnh ta đắp thêm cho hắn mấy lớp cỏ tranh, trời ấm thì sẽ mở cửa sổ, ngồi bên cạnh phơi nắng cùng hắn. Vậy mà mặt trời cũng không rực rỡ bằng hắn.”
“Sở vương chẳng mảy may để ý tới ta, nghe nói kẻ thù của gã đã bị tiêu diệt, tất cả hắc y nhân đều sa lưới nên gã thật sự có hứng thú đi săn rồi. Trước đó ta đã bị đâm một kiếm, Quận thủ phu nhân đã gửi rất nhiều dược liệu tới, ta đều để dành đút cho phượng hoàng của mình. Hắn phải mau sống lại, chứ không trời bắt đầu trở lạnh, chỗ của ta không có nhiều vải để may cho hắn một cái áo dày đâu.”
“Có lúc ta mong hắn mau tỉnh lại, sau đó ta sẽ thả hắn đi thật xa, đợi sau này có tiền đồ, có lẽ sẽ kể về thuở thiếu thời được gặp một hiệp nữ tư thế hiên ngang, nhiệt tình chân thành, nhất định ta cũng sẽ cảm thấy chút vinh hạnh. Nhưng cũng có lúc ta lại nghĩ hắn nằm dưỡng bệnh lâu vậy, mắt đi mày lại, có khi nào sẽ thích một cô nương tốt như ta không nhỉ? Rồi ta sẽ hoàn lương, làm một thê tử tốt của mỹ nam tử, vậy cũng đâu có tệ.”
“Khi ta đang chìm trong những suy nghĩ viển vông thì hắn mở mắt, đôi mắt ấy sạch sẽ, trong suốt, ta có thể nhìn thấy trong mắt của hắn, có một cô nương vô cùng bình thường. Ta thẫn thờ nhìn hắn, buồn bã chấp tay hành lễ của nước Tề, nhỏ giọng: ‘Nếu công tử không ngại, xin mời theo ta.’”
“Làm người phải tự biết mình biết ta, ta nhanh chóng trở về hiện thực, cảm thấy hổ thẹn trước suy nghĩ cuối cùng của mình.”
“Hắn lại tỏ ra ngạc nhiên, sau đó mang theo chút xa cách không dễ nhận ra. Ta dẫn phượng hoàng tời một bước tường đổ nát, xung quanh vắng lặng không người, ta nói: “Vài ngày nữa Sở vương sẽ về, công tử mau trèo tường đi, nhanh lên.”
“Hắn thật sự đã trèo qua tường, ta thẫn thờ nhìn bức tường phủ rêu xanh. Không lâu sau hắn ném lại một sợi dây mây dài, hình như vừa tết xong. Hắn ở ngoài tường nói: ‘Đi thôi’.”
“Ta lặng lẽ nhìn sợi dây mây một hồi, nheo mắt, tay chống nạnh, nhìn rất là lâu. Hôm đó trời nắng to, ta đã nhổ rất nhiều cỏ, chôn sợi dây mây rất sâu, không ai có thể nhìn ra.”
“Sơn quân, ta đang làm gì à? Ta chỉ đang giữ lại cho mình chút niệm tưởng. Lúc nhỏ ngài có ăn bánh ú vào tết Đoan ngọ không? Bình thường không được ăn đúng không? Bánh ú đó là chính là niệm tưởng mong chờ Đoan ngọ tới, mà niệm tưởng thì chỉ là những suy nghĩ vui vẻ trong đầu thôi. Suy nghĩ thì để trong đầu là được. Thế nên thật ra thì ta không hề làm gì cả. Sau đó ta quay lưng đi.”
“Ngày hôm sau, quả nhiên Sở vương đã trở về, mang đầy chiến lợi phẩm. Gã rất hưng phấn, uống mấy chén rượu máu nai. Gã có một hạ liêu thích đùa giỡn, nói: “Nay họa lớn trong lòng vương đã bị tiêu diệt, oai phong như rồng hổ, nào một đứa trẻ Giang Đông dám mạo phạm? Nay vừa săn được báo, nghe nói hậu viện có tân cơ, chẳng bằng nạp vào, coi như việc vui liên tiếp.”
“Sở vương vốn dũng mãnh, thích nịnh bợ, phong cách như Trụ vương nhà Ân. Tuy ta không phải hồ ly tinh, nhưng có thể thêu hoa trên gấm.”
“Hạ thần hò reo, Sở vương uống rượu say mèm, cười bảo: “Mấy ngày trước kĩ nữ đó còn đòi bản vương một cái lễ mới chịu đồng ý. Trước nay bản vương là người nhân hậu biết ơn nghĩa, đưa nàng ta lên đây, làm cho xong cái lễ này.”
“Ta bị tỳ nữ giễu cợt, bôi son phấn lên mặt, khoác một cái áo bào màu đỏ nhạt xem như tân y, nhưng lại không có khăn đội đầu. Bọn chúng chen chúc đưa ta tới bên cạnh Sở vương, phía sau gã là một cái lồng sắt rất lớn, trong lồng là con thú mới săn, nó cực kì hung hãn, gào thét như địa chấn.
“’Ả đào kia, ngươi họ gì?’ Sở vương cầm thanh bảo kiếm chỉ vào người ta.”
“’Khương’.”
“Đào, trước có hôn phối chưa?”
“’Có.’”
“’Đào, sao chưa xuất giá?’”
“’Âm dương cách trở.’”
“‘Đào, muốn có khăn đội đầu không?’”
“’’Rất muốn.’”
“Ta không biết câu nói nào của ta khiến Sở vương vui, gã cười ha hả, lấy một cái khăn trắng lau kiếm thường mang theo bên mình ném vào trong lồng sắt, sau đó quăng kiếm ra trước mặt ta, nói: ‘Máu báo nhuộm đỏ, sẽ không thua gì chu sa Nguyên Lăng.’”
“Nguyên Lăng là nơi sản xuất chu sa, ý của hắn rất rõ ràng, muốn ta giết báo, dùng máu báo nhuộm khăn đội đầu, biết bao Sở thần cười vang trước mặt ta. Có chuyện gì nực cười hơn chuyện này đâu? Một ả kỹ nữ hám danh lợi, dám liều cả mạng sống để đánh đổi vinh hoa phí quý nửa đời sau. Thấy ả ta hoảng sợ chẳng phải thú vị lắm sao? Thấy ả ta hoang mang quỵ ngã kêu cha gọi mẹ, chẳng phải sẽ hả hê lắm à?”
“Chúng đợi để xem trò hề của ta, xem trò hề của một kẻ hạ đẳng. Ta cúi đầu nhặt kiếm. Thanh kiếm đó rất nặng, trong khoảnh khắc khom lưng còng vai của ta đã chọc cười thêm biết bao kẻ nước Sở. Ta ôm chặt thanh kiếm bằng hai tay, lê từng bước khó nhọc tiến về lồng sắt. Khi con thú gầm lên, ta sợ đến run rẩy, đám người nước Sở lại cười. Ta nhìn con thú đang khinh miệt quan sát mình, nhìn nó đang chế giễu ta, chán ghét từ đáy lòng, đám người nước Sở cười lăn lộn. Ta biết mình chỉ là một hiệp nữ cỏn con, gầy gò không nơi nương tựa, ta biết bộ dạng ho khan của mình thật nực cười, thế nhưng ta phải ho thật to, để che giấu kẻ hèn mọn đáng thương đang sợ chết khiếp trong lòng.”
“Ta cầm chuôi kiếm, đâm thẳng vào tim báo.”
“Cuối cùng xung quanh cũng im lặng.”
“Cuối cùng chúng cũng không cười nữa.”
“Khăn đội đầu đã nhuộm màu đỏ thẫm.”
“Sơn quân có đoán được lúc đó ta nghĩ gì không? Trong lòng ta lúc đó đang hát bài ‘Lực bạt sơn hề khí cái thế’ (*Sức mạnh nhổ núi khí ngút trời), ta cảm thấy mình cũng mạnh mẽ lắm.”
(*) Bài thơ này được Hạng Vũ, người được gọi là Tây Sở Bá Vương, ngâm trước khi bại trận và qua đời. Đây là một bài ca hào hùng, có thể làm rung động trời đất, thể hiện nỗi oán hận sâu sắc và sự bất lực của Hạng Vũ khi bị quân Hán bao vây.
“Đêm đó, ta dìu Sở vương say mềm vào động phòng. Gã đã bất tỉnh nhân sự, nhưng cũng có chút khen ngợi ta, ta mấy câu, cho phép
“Đêm đó, ta dìu Sở vương say mèm vào động phòng. Hắn đã không còn tỉnh táo, nhưng cũng có chút tán thưởng với ta, cho phép ta theo hầu, phẩy tay ra lệnh những cung nhân hầu hạ khác rời đi.”
“Cả đời ta chỉ có một cơ hội duy nhất như thế.”
“Ta rút con dao găm luôn mang theo bên mình, đâm vào cổ họng gã, như lúc đâm con báo kia ban nãy.”
“Ta thấy gã lập tức mở to hai mắt, không dám tin, đúng vậy, sao hắn dám tin rằng mình sẽ chết dưới tay một phụ nữ chứ?”
“Gã giãy dụa gắng gượng hỏi ta là ai, ta cúi xuống bên tai nói ba chữ.”
“Gã trợn tròn đôi mắt đã mờ đục, bàn tay vô lực rơi xuống, không còn động đậy nữa.”
“Ta biết có lẽ mình không sống được bao lâu nữa. Thế nên ta rút dao, đắp chăn che thi thể của Sở vương lại rồi khom người lui ra ngoài. Thị vệ không phát hiện, tưởng rằng Sở vương đang ngủ say nên không hề nghi ngờ.”
“Ta để chiếc khăn nhuốm máu bên cạnh xác của gã. Ta từng mong muốn có một chiếc khăn đỏ đội đầu, ta đã từng nghĩ tới vô số lần, lúc đó ta mặc áo đỏ, lúc phu quân tóc buộc kim quan giở khăn đội đầu này lên, ta nhất định sẽ nhìn chàng thật kĩ, cùng sống với chàng tới trọn đời, sau đó có con, ta sẽ dạy con đọc sách, chàng dạy nó hiểu được đạo lý thế gian. Nếu ta có lòng dạ đàn bà nuông chiều dạy hư nó, có lẽ chàng sẽ quở trách cả ta và con đó. Dù là bất cứ khi nào đi nữa, chỉ cần có thể nhìn thấy chàng, ta nghĩ mình sẽ đều mỉm cười.”
“Nhưng giờ đây, những điều đó chẳng thể nào thành hiện thực.”
“Ta đã hoàn thành sứ mệnh của mình, về lại bên cạnh sợi dây mây. Ta quỳ xuống, vạch cỏ ra, thấy nó đung đua như có sự sống.”
“Ta cẩn thận kéo sợi dây xuống từng chút, từng chút một, không dám thở mạnh, như đang hưởng thụ bát cơm nóng cuối cùng trước giờ hành quyết. Rõ ràng đã biết trước kết cục nhưng vẫn cố chấp giữ lại tia hi vọng mỏng manh, không chịu thông suốt.”
“Thế rồi, sợi dây mây đã theo ánh trăng, rơi từ ngoài tường vào trong một cách trơn tuột. Nó cuộn tròn, lặng lẽ, sinh mệnh đã chấm dứt.”
“Ta lấy tay áo quẹt vào đôi mắt mỏi mệt, cười một cách bất đắc dĩ, sau đó ngồi ôm gối.”
“Thế giới này thật trống trải, nỗi cô đơn này thật sâu sắc. Ta cảm thấy mọi thứ quá lớn.”
“Vì thế, dù có kỳ tích, cũng chẳng thể chia phần tới chỗ ta.”
“Vậy nên ngài thấy không, Sơn quân, thuở thiếu nữ đọc nhiều truyện tài tử giai nhân thì có ích gì chứ? Ngài nói ngài là giai nhân sao? Thật ra chỉ là chuyện cười mà thôi.”
“Ta không bỏ trốn, vì dù có chạy cũng sẽ bị bắt lại. Ta chỉ có thể đón nhận số phận cuối cùng của mình. Ta tự an ủi bản thân, nếu vậy thì chết đi cũng anh hùng một chút. Ta đã giết vương, chắc chắn người đời sau sẽ viết truyện về ta. Nếu ta bỏ trốn, câu chuyện này sẽ giảm giá trị, không còn cảm giác oanh liệt nữa.”
“Hôm sau, đương nhiên mọi chuyện bị phát hiện, phụ tá Sở vương cầm đao định đâm vào ngực ta, vậy mà Vân tướng nổi danh Bách quốc lại mang chỉ ý của Thiên tử đi tới.”
“Vân tướng nói mình đã âm thầm điều tra vụ án làm phản của một nhà Tề vương, phát hiện có sự thao túng của Sở quốc từ trong, đúng là một án oan xưa nay chưa từng có. Sau khi suy xét kĩ càng, ngoài phẫn nộ, Thiên tử thấy thật hoang đường, lệnh Vân tướng mang vương quân tới bắt Sở vương.”
“Nhưng giờ lại có một vấn đề khác, Sở vương đã bị ta giết rồi.”
“Vân tướng hỏi: ‘Ngươi là ai?’”
“Ta kính cẩn trả lời: ‘Ngày trước là Tề cung nhân, từng được nhận ân huệ của vương hậu.’”
“Ngươi có biết Tạ Lương Thần không?”
“’Chư hầu uy nghi, kẻ tiện tịch hạ đẳng như ta, nào có được gặp.’”
“Vân tướng không nói gì, nay Sở vương đã chết, mọi đầu mối đều đứt, trừ khi gọi được người nhà Tề vương trở về từ cõi chết giải oan, còn không thì những kẻ tạp chủng như ta đây đã được định sẵn sẽ mãi mãi chẳng thể trở thành Kinh Kha (*). Thế là ta bị tống vào thiên lao.”
(*) Kinh Kha là môn khách của Thái tử Đan nước Yên và là người rất nổi tiếng vì đã ám sát bất thành Tần Thủy Hoàng
“Thực ra, cái gì gọi là hiệp? Có thù báo thù, có oán báo oán, không cần phải phân bua nguyên nhân với đời, sảng khoái là được, g**t ch*t là được.”
“Những ngày sống trong ngục, tinh thần ta rất sảng khoái. Ta gặm món tay, ngày ngày nhìn tóc mình nhờn bết thành búi, nghe tiếng kêu khóc thảm thiết của những bạn tù xung quanh, lại cảm thấy an toàn lạ kỳ. Đây mới chính là nơi ta thuộc về, nơi những kẻ nhơ nhớp như ta nên ở lại. Đến khi ta mục nát rồi, sẽ không cần phải giả vờ mình đang sống rất tốt nữa.”
“Lần đó, ta đã bị giam trong ngục suốt ba năm.”
“Sau đó, Tạ tiểu hầu gia đánh bại bốn nước, mang theo phong hàu Hầu thượng hầu trở về. Trong Đại Chiêu, giờ đây còn ai có danh tiếng hơn hắn được chứ? Ngay cả ta, một kẻ bị nhốt trong lao tù cũng nghe nói tới. Ngục tốt nói chuyện rất chướng tai, mở miệng đều bảo, tên tiểu bạch kiểm vẻ ngoài đẹp đẽ đó lại đánh bại được ai đó, ai đó lại muốn gả con gái, em gái cho hắn. Họ còn nói, nếu không phải vì tên tiểu bạch kiểm đó đẹp đẽ thì làm gì có diễm phúc như thế? Họ hoàn toàn đã bỏ qua việc tiểu bạch kiểm phải mất mấy năm, mấy tháng, mấy ngày mới giành chiến thắng. Mọi chuyện đâu có đơn giản, đâu phải ai mặt trắng cũng có thể lên chiến trường chiếu mù mắt dịch?”
“Đi theo bên cạnh Tạ Lương Thần là một mỹ nhân, nghe đồn cô gái đó được Tề thần che chở, là Tề quốc quận chúa Thành linh chưa qua đời, vị hôn thê của Tạ Lương Thần.”
“Hai ngày sau, ta được đưa ra khỏi thiên lao.”
“Bởi vì lúc đó, đã xảy ra một chuyện hoang đường.”
“Lúc Tạ hầu mới vào Thái Bình đô, còn chưa qua hết náo nhiệt thì đã có người gõ trống Đăng văn, khóc lóc nói mình mới chính là Tề quốc quận chúa, còn người mà Tạ tiểu hầu mang về là kẻ giả mạo.”
“Câu chuyện rất rành rọt, nàng ta bảo mình và Tần Nghị, người đứng đầu trong Thất đại phu Tề quốc từ nhỏ là thanh mai trúc mã, trẻ nhỏ vô tư, chẳng ngờ Tạ tiểu hầu lại ngang ngược chen vào. Nàng ta kể rằng sau khi Vương hậu và Thế tử Tề quốc qua đời, nàng ta được Tần Nghị giấu trong một gia đình làm nông, thế nên nay ăn mặc rách rưới, như một cô gái nông thôn, chịu đựng tới giờ đều chỉ vì muốn sống sót, giành lại Tề quốc, làm gười thừa kế tôn thất, an ủi linh hồn cha mẹ nơi chín suối.”
“Lời vừa nói ra, cả triều đều bị chấn động. Nghe cũng có phần hợp lý vì từ nhỏ Thành Linh và Tần Nghị đúng là thanh mai trúc mã, vẻ ngoài Thành Linh trông tầm thường cũng là sự thật, còn việc hôn sự của nàng và Tạ tiểu hầu là do chính hắn chủ động đề nghị càng là sự thật, mà quan trọng nhất là, nếu trên đời có một cô nương gan lớn tận trời dám giả mạo quận chúa thì thứ nàng ta muốn nhất là gì? Hẳn phải là một tình lang tốt vừa có tiền có thế lại có tài có sắc như Tạ tiểu hầu. Ai lại cần Tề quốc chứ? Một mảnh đất lớn như vậy, Bệ hạ có bao nhiêu người con chưa bố trí xong, vật đổi sao dời, làm sao đến phiên một quận chúa thân cô thế cô như nàng ta chứ?”
“Nhưng có lẽ điều ngu xuẩn nhất mới là chân thật nhất, đương nhiên đám người tinh ranh đó đều hiểu. Thái hậu nương nương cho triệu kiến cô ta, nheo mắt nhìn, phán một câu mơ hồ: ‘Trông cũng có phần giống, mà lại cũng có chút không giống.’”
“Ôi nương nương ơi, đừng có đùa như vậy chứ, nương nương! Cái gì mà Trông cũng có phần giống, mà lại cũng có chút không giống?’”
“Tề cung nhân ngày xưa đã bị Sở vương giết sạch, không còn nhân chứng, nhưng Thiên tử thông tuệ, phúc chí tâm linh, nhớ tới một kẻ trộm ngu ngốc to gan lớn mật đang bị nhớt trong thủy lao, và cũng vừa vặn là một cung nhân lâu năm của Tề quốc. Đúng, ông ta nhắc tới ta. Thế nhưng khi người ta ở ngoài nói về ta như thế, ta rất không đồng ý. Mẹ nó, ai ngu ngốc? Mẹ nó, ai là kẻ to gan lớn mật chứ? Đừng có mà quá bắt nạt người khác.”
“Hai quận chúa trước mặt ta có vẻ ngoài không tệ, đều là những cô nương xinh đẹp nước da trắng trẻo. Tạ Lương Thần mặc áo bào tím, đội kim quang, cao ráo đẹp đẽ tới mức suýt chói mù mắt ta. Ta thầm nhìn lén hắn, cảm thấy tự ti, rút người lén b*p ch*t con rệp bò từ trong bộ đồ tủ ra, muốn để mình đỡ nhếch nhác một chút. Thiên tử trên cao, nói, Tên trộm kia, nhận dạng đi.’ Trong lòng ta vừa thẹn vừa giận, bị ánh nắng chiếu lóa mắt, giấu hai tay bước tới.”
“Các người hay lắm, các người ở đó, dù gì Tề quốc quận chúa cũng là một cô nương có tiếng thuộc dòng dõi tôn thất, mỗi năm vào cung ít nhất cũng vài lần, mới có năm năm, sao lại không nhận ra được cơ chứ? Còn vị hôn phu kia, miệng thì nói giữ thủ thân như ngọc vì Thành Linh, đến chết không đổi, vậy là đến chết không đổi dữ chưa?”
“Trên phố đồn rằng Tạ Lương Thần mắt chứng mù mặt, không phải đùa đâu. Ta từng cứu hắn, chắc hắn dã sớm quên rồi?”
“Ta nhìn hai vị quận chúa, đầu óc quay mòng, bước tới một bước, cúi đầu hỏi Tạ Lương Thần: ‘Xin hỏi Hầu gia, ngài thích vị quận chúa nào hơn?’”
“Cả triều đình bị ta làm cho bối rối.”
“Tạ Lương Thần rất an tĩnh, cũng không nhìn hai cô nương kia, chỉ dùng đôi mắt trong trẻo lạnh lùng nhìn ta. Mũi hắn rất cao, hai bên gò má trắng trẻo sạch sẽ. Một hồi lâu sau, hắn nhìn ta chán ghét, lạnh nhạt: ‘Cô nương hỏi ta?’”
“Ta há hốc miệng, nhất thời không nghĩ được gì, lát sau mới nhẹ giọng thưa: ‘Quận chúa tuổi nhỏ đã gặp đại nạn, dung mạo trải qua tang thương, nhất thời thay đổi cũng dễ hiểu. Thế nhưng khi Quận chúa con bé được Tiên vương hậu điểm một nốt thủ cung sa lên vai, nếu có thứ ấy, chính là Quận chúa nương nương.’”
“Lúc đó ta rất bái phục sự lanh trí của mình, thầm nhớ tới một giai điệu, thấm thía mà ngâm nga khúc quân ca của Tề quốc. Cảm tạ đất nước của ta đã bồi dưỡng ta, đào tào trở thành một người thông tuệ hiểu ý kẻ khác đến vậy.”
“Kết quả chứng minh, cô gái xuất hiện sau mới là Tề quận chúa. Ta thấy sắc mặt của Tạ tiểu hầu không vui vẻ lắm, bỗng hơi chột dạ, cũng thấy hối hận. Hắn mang người kia trở về, dù thật giả thì hẳn cũng vì vừa ý với thị, nay ta bảo kiểm tra thủ cung sa, chẳng phải đắc tội với người ta rồi sao? Sau khi Tề quận chúa xuất hiện, trình bày rõ ràng, mọi người đều biết đến nỗi oan của Tề vương. Tạ Lương Thần nay đã khác xưa, Thiên tử nhanh chóng giải tội rửa oan cho Tề vương và Tạ lão hầu. Có quận chúa từ bi, cầu xin cho ta, thế là bị biếm vào Tạ hầu phủ, làm tội nô, giúp đỡ việc trong bếp.”
“Nghe nói Tạ tiểu hầu gia Tạ Lương Thần từ nhỏ đã rất tinh nghịch, chỗ nào đông người thì thích chạy tới đó, nay nhà nhạc phụ, nhà mình trải qua biến cố lớn, lại trở nên trầm mặc, không thích gặp ai, cả ngày nhốt mình trong thư phòng, xử lý chính vụ ở đất phong, dù mới cưới được nàng vợ đẹp mà vẫn chẳng màng đến.”
“Ta chưa từng bước ra khỏi nhà bếp, ngày nào cũng sống trong mơ hồ. Một ngày nọ, đám nha hoàn lười biếng, nhờ ta mang bữa khuya cho Tạ Lương Thần. Nghe nói hắn trước giờ chưa bao giờ ăn bữa khuya, cũng không có thói quen đó, nhưng vẫn bảo người hầu làm bữa khuya mỗi ngày rồi mang tới thư phòng.”
“Cháo thịt, nhưng thịt cắt quá dày. Theo những bí mật mà ngày xưa ta mua được về Tạ tiểu hầu, kể từ thời niên thiếu hắn chỉ ăn những món tinh tế, không thích những miếng to. Phủ hầu gia vừa được lập lại, những trù nương tử mới được mời về chắc không hiểu về chủ tử.”
“Thấy chén chào này không hợp với sở thích của hắn lắm, mà trước giờ hắn cũng không ăn đâu, nên ta vớt hết thịt ra, lấy thịt nạc mang đi nướng lại lần nữa, được nửa bát nhỏ thịt vụn khô nhỏ, để vào cháo rồi mới mang lên.”
“Hắn nói với ta, Để đó vậy thôi. Khuôn mặt trắng ngần đó khiến ta bỗng nhớ tới đá đánh lửa mà mình từng chơi lúc bé, xoẹt một cái, chiếu rọi cả nhân gian.
“Hắn cúi đầu đọc sách, đương nhiên không nhìn ta. Ta lại dụi mắt, lặng lẽ nhìn hắn, sau đó, nhẹ nhàng đóng cửa rời đi.”
“Sơn quân, ngài có biết phong phạm của một du hiệp là thế nào không? Tự mình vui vẻ là đủ rồi, cứ thầm vui một mình, chẳng ai bị vạ lây.”
“Đương nhiên Tiểu hầu gia cũng không ăn đồ ta mang.”
“Nhưng qua ngày hôm sau, các nha hoàn vẫn để ta mang đi. Ta cứ thế mà mang đồ liên tục hơn mấy tháng. Tạ tiểu hầu vẫn không hề để ý tới, thỉnh thoảng dưới ánh nến có vô tình nhìn thấy ta, khuôn mặt chỉ lộ một vẻ lạnh lùng và chán ghét khó diễn tả. Ta không biết vì sao hắn là ghét ta như vậy. Ngày nọ ta soi gương, mới hiểu ra nguyên do. Từ nhỏ Tạ Lương Thần đã không thích những có dung mạo thô kệch. Thời niên thiếu đã lập nhiều chí nguyện to lắm: Làm đệ nhất đẳng chư hầu, ở đệ nhất đẳng phong ấp, lấy đệ nhất đẳng thê tử. Từ thế cứ suy ra, tỳ nữ mà hắn muốn cũng phải hàng đệ nhất. Còn ta thì sao, chỉ là hạng thứ mười tám. Ngày hôm sau các nha hoàn lại sai ta đi mang bữa khuya lên, lòng ta tự ti, không chịu đi nữa, chỉ lặng lẽ ẩn mình ở nhà bếp, làm nha đầu nhóm bếp.”
“Khoảng nửa năm sau đó, Quận chúa tuổi trẻ bỗng mắc bệnh nặng, chắc vì cuộc sống lang bạt trước đây nên mầm bệnh mãi không dứt. Mỗi ngày Tạ Lương Thần đều đúng giờ tới thăm, nhưng vẫn chỉ ở trong thư phòng. Hắn là một người rất kỳ quái, vợ đẹp thiếp xinh, cái gì cũng không thiếu, nhưng ai cũng có thể nhận ra, hắn cũng chẳng đế ý tới cái gì.
“Có lẽ điều hắn mong mỏi chưa xuất hiện, thế nhưng, đây chỉ là vấn đề thời gian. Không có ai thật lòng sầu lo vì hắn cả.”
“Mùa mưa dầm tới, Huy thành quá dịu dàng, không thể chạy trốn khỏi những cơn mưa tầm tã. Ta ngồi dưới ở một chái nhà bên ngoài phủ, cách không xa, ôm dù ngắm mưa, trong mưa không một bóng người. Một lúc sau, các nha hoàn ở nhà trên đạp nước lo lắng mở cửa phủ, bọn họ người cầm dù người mang đèn, nối đuôi đi ra, đứng chờ dưới mưa. Họ đang đợi Tạ Lương Thần. Tạ Lương Thần đến Quận phủ uống rượu vẫn chưa về. Hiện đã qua giờ tý.” (*Giờ tý: 0-2h)
“Đèn lồng bị gió thổi chập chờn lúc sáng lúc tối, từ xa nghe tiếng roi ngựa vún vút. Xe sáu ngựa kéo theo chế độ cho Hầu tước từ xa tới gần, đánh e, thị vệ xuất hiện trong màn đêm, yên tĩnh không chút tiếng động, chỉ có tiếng ngựa lộc cà lộc cộc.
“Các nha hoàn đều lập tức quỳ xuống, ta giấu mình, để chiếc ô sau lưng. Trong lòng có quỷ nên chỉ sợ bọn họ nhận mình đang giấu cái ô, còn giấu cả chính minh, bụng dạ khó lường. Thế nhưng trong bóng tối, đó lại là chuyện thừa, chẳng ai nhìn thấy chỗ này.”
“Một lúc lâu sau, xe ngựa dừng lại trước phủ, trong khoảng một khắc đồng hồ đó, không hề có động tĩnh. Lại một hồi sau, có tiếng một chiếc xe ngựa từ xa đi tới. Một bích y nữ tử cao gầy nhảy từ trên xe ngựa xuống. Cô nương đó đội mưa, ngu ngốc để nước mưa tuôn xối xả, quay về phía xe của Tạ tiểu hầu mà gào lên: “Tạ Lương Thần, ta với chàng có ba năm tình ý, vẫn mà không bằng một Quận chúa chỉ gặp một lần?”
“Trên trời có mây đen, trong mây đen có mưa, màn mưa lại có gió, gió thổi lá thu rơi. Lá thu cứ vậy mà bị nước mưa xối xả rơi xuống chân ta. Ta nhìn lá thu rơi, cảm thấy mình đã nghe phải bí mật không thể bị tiết lộ.”
“Con người Tề quận chúa nhát gan nhu nhược, làm sao Tạ hầu gia có thể có tinh ý phu thê với nàng cơ chứ? Chắc cô gái này mới là người trong lòng của Hầu gia? Sau đó nhìn kĩ dung mạo cô gái kia, quả đúng là Quận chúa giả mà hắn tường mang về hoàng đô.”
“Xe của Tạ hầu không hề có động tĩnh, vẫn yên lặng như chưa có gì xảy ra. Một lát sau, có một giọng nói bình thản vọng từ trong xe ra: “Ngươi vượt phép rồi, Triệu cơ.” (* Cơ – 姬 trong cơ thiếp, không phải tên nên không viết hoa.)
“Rồi mấy ngày sau, Tề quận chúa qua đời vì bệnh tật, Triệu cơ thành trắc phi. Nghe nói thị từng cứu mạng Tạ hầu, nhưng bị kẻ ác làm hại, đành phải nương nhờ Tạ hầu. Trước giờ Tạ hầu mắc bệnh mù mặt, ban đầu chưa nhận ra thị, đến khi thị nói rõ ràng từng chuyện một thì Tạ hầu mới nhớ, đúng là từng có người như vậy, chuyện như này, sau lại sinh chút tình ý, Tạ hầu cũng đồng ý cho thị danh phận. Nhưng vì xuất thân thấp kém, Tạ hầu bỗng nhớ tới vị hôn thê đáng thương đã chết từ lâu của mình. Vì thế Triệu nữ lắc mình, biến thành Tề quận chúa.”
“Nghĩ đến việc ta đã phá nát mộng đẹp làm Vương phi của thị, ta lập tức chui đầu trốn trong bếp, ba năm trời không dám bước ra phòng của hạ nhân. Sau đó, tính toán thấy mình đã hai mươi tư rồi. Đúng lúc Hầu phủ muốn thả một phần các tì nữ lớn tuổi, tên của ta cũng nằm trong danh sách. Khương Nhị Nha, một cái tên mộc mạc như vậy, chắc nhất thời Trắc phi nương nương sẽ không để ý, phẩy bút một cái, thả ta ra ngoài. Trắc phi nương nương cũng mắc bệnh, giống như Quận chúa nương nương ngày trước.”
“Sau đó, Thiên tử chỉ hôn cho Hầu gia, nhưng hai lần liền, tân nương chưa kịp xuất giá đã đột tử. Hiện tại, cả Bách quốc đều cho rằng Tạ Lương Thần có số khắc thê.”
Ngày ta rời đi, lễ quan của Hầu phủ hỏi từng người, không có gì bất ổn mới cho phép rời đi. Đến lượt ta, liền hỏi: ‘Khương nữ, ra ngoài đi đâu?’”
“’Tề.’”
“’Làm nghề gì?’”
“’Cày ruộng Tề, năm sau, thu hoạch lúa.’”
“’Sao không về quê?’”
“’Nhà chồng?’”
“’Rất xa, không thể tới.’”
“’Đều là thật à?’”
“’Tất nhiên.’”
”Hắn vung bút một cái, ta ngồi trên xe bò.”
“Thời niên thiếu ta từng thích Tạ Lương Thần, thế nhưng giữa đao kiếm giáo gương, ta không còn là thiếu nữ nữa. Những mộng tưởng xa vời, những tâm tư giấu kín ấy, vì sự ghét bỏ của hắn, đã bắt đầu chấm dứt vào ngày đó.”
“Sau đó, ta tới Lang nha, làm nông phụ một đời, sau đó gả cho một nông nhân nước Tề, người không chê thân phận kỹ nữ của ta. Thật ra trời xanh cũng đối tốt với ta lắm.”
“Ta nghĩ, có lẽ vì ta từng làm hiệp nữ, nên mới nhận được phúc báo, từ đó trở đi được sống bình yên an ổn cả đời.”
Nghe câu chuyện rất lâu, lúc này Hề Sơn quân mới hỏi: “Ngươi có biết, bây giờ đang đứng ở trong vườn nhà ai không?”
“Chẳng phải là nhà của Sơn quân đấy sao?”
“Từng thôi, bây giờ là nhà của Tạ Lương Thần.”
Ngủ một đêm trong vườn hải đường, Hề Sơn quân dưỡi lưng, đi dạo để xua tan cơn buồn ngủ, đứa bé trong bụng khẽ đạp nàng. Hề Sơn quân thở dài, xoa bụng, mắng: “Đúng là đứa nghiệp chướng, không chịu nghe lời.”
Sương sớm dày đặc, chỉ một lát sau, gấu áo của nàng cũng thấm ướt. Hình như Yến nhị cả đêm không ngủ, đang tựa vào một gốc hải đường, nhắm mắt chìm trong suy nghĩ.
“Chốn này oán khí ngút trời.” Hề Sơn quân vừa bước qua, y nhẹ nhàng mở miệng.
Hề Sơn quân ngạc nhiên, xoay người nhìn y, hỏi: “Tất nhiên rồi, nữ quỷ kia…”
Yến nhị tiếp: “Ta không nói nàng ấy. Oán khí này đã mấy trăm năm vẫn không tiêu tan, hồ sơ treo sau Luân chuyển kính cũng từ đây mà ra, chuyện đã quá lâu, không thể giải được.”
“Là một huyền án thế nào?”
“Vong linh đã trốn, không biết tung tích. Chỉ biết rằng nó có liên quan đến quốc vận Đại Chiêu, Thái sơn vương lệnh cho ta phải tìm được tung tích. Nhưng đã ba năm rồi, vẫn chưa có manh mối.” Yến nhị mệt mỏi xoa trán.
“Cơ thể Nhị ca là bán tiên, có khả năng thông thiểu thiên địa sơn hà, tay giữ sổ sách thế gian, có bao giờ nghĩ tới kiếp trước của mình?”
Yến nhị suy nghĩ, cảm thấy câu hỏi của nàng thật kì quái: “Ta đã làm Tể tướng năm đời. Mỗi cuộc đời qua đi, mọi công đức khuyết điểm đều được ghi vào sổ, ký ức dần phai nhạt, rồi sau đó mới đầu thai. Thế nên chỉ biết đại khái, cũng không còn ký ức.”
Hề Sơn quân mỉm cười, khuôn mặt đầy ẩn ý: “Năm đời trước thì sao? Tại sao huynh sinh ra là Tế tướng còn ta thì không? Những người khác trong thiện hạ cũng không? Tại sao chỉ có huynh mà thôi? U Minh ty có rất nhiều phán quan, tại sao Thái sơn vương lại một mực phái huynh tới đây? Huynh cho rằng mình siêu phàm thoát tục, đặt mình ở ngoài mọi chuyện, nhưng trên đời này, có chuyện gì là huynh thật sự biết rõ ràng không?”
Yến nhị suy ngẩm, cảm thấy những điều nàng vừa nói có mấy phần đạo lý ảo diệu.
Hề Sơn quân lại hỏi: “Nhị ca, huynh đã làm năm đời Tể tướng ở nhân gian, có biết Vân Lang?”
“Vân Lang?” Yến Nhị lẩm bẩm hai chữ này để suy nghĩ, sau thật sự tỏ ra bối rối, “Y nổi danh như vậy, trên đời có ai mà không biết?”
Hề Sơn quân mỉm cười, “Danh sách thế. Ta lại đoán sai rồi, trước đây tưởng hắn là kiếp trước của huynh.”
Yến nhị hỏi: “Muội và hắn có giao tình?”
“Từng gặp trong ảo cảnh.”
“Hình dáng, phong thái thế nào?”
“Như tùng, như ngọc, ý chí kiên cường.”
“Vậy thì có chút giống ta.”
“Hắn có thích một cô nương đấy, huynh thì sao?”
Yến nhị ngẫm nghĩ một chút, nghiêm túc lắc đầu, “Ta là bán tiên chi thể, trước nay chưa từng thích nữ nhân, không chỉ đời này, đời trước, đời trước nữa, từ thuở khai thiên lập địa, từ xưa đến nay.”
***
Sức khỏe Tạ hầu gia không tốt, giống như bị ma quỷ quấy nhiễu, hoặc có lẽ cũng vì già rồi nên mới thế. Da thịt trở nên xám xịt, không còn tinh thần, cứ như chỉ cần lơ đãng một chút, tim của lão nhân sẽ ngừng đập trong nháy mắt.
Mới sáng sớm Tạ hầu bị Phù Tô trẻ tuổi lay tỉnh. Lão nhân mắt mờ, nheo nheo nhìn Phù Tô, nói: “Ngươi không đẹp bằng ta.”
“Ông Phù Tô là mỹ nhân, bà là mỹ nhân, mẫu thân là mỹ nhân, phụ thân cũng là mỹ nhân, thế nên chàng ta cũng là mỹ nhân. Nhưng vẫn kém ta hồi trẻ một chút.” Tạ hầu là người rất tự phụ, con ngươi già nua đục ngầu ánh lên vẻ kiêu ngạo. Ông ta đã gần đất xa trời, muốn hô hấp cũng phí sức, chỉ là có một việc mãi canh cánh trong lòng. “Con quỷ đó, các người đã bắt được chưa?”
Hề Sơn quân thấy khó hiểu, “Bắt được thì Hầu gia sẽ làm gì?”
Nội thị dâng thuốc, Tạ hầu nhấp một một ngụm như uống trà, thản nhiên đáp: “Mang nó tới mặt ta, tiêu diệt nó.”
Hề Sơn quân khá thích quỷ hồn đó, kể chuyện lại hay, sao nàng nỡ lòng: “Hầu gia có chỗ không biết, chẳng qua nó bị lạc đường thôi, kop hải cố ý hù dọa. Hôm nay ta sẽ đưa nó ra khỏi Hầu phủ, mong ngài rộng lượng tha nó một mạng.”
Tạ hầu cầm bát sứ men xanh, mỉa mai liếc Hề Sơn quân một cái: “Ta tha nó một mạng, vậy lúc nào nó sẽ tha ta một mạng?”
Mới đầu bóng đen nghe bảo đây là phủ Tạ hầu, cảm thấy bị đả kích nặng nề, không muốn nói chuyện nữa. Khi Hề Sơn quân truyền đạt lời của Tạ hầu, quỷ hồn kia cảm thấy xấu hổ tới nỗi thận không thể lập tức biến khói đen. Nó bất an đi qua đi lại, bồn chồn lo lắng, “Đó là hiểu lầm thôi, Sơn quân, hiểu lầm lớn thôi. Ta và hắn chỉ gặp ngẫu nhiên, chưa bao giờ nghĩ tới chuyện lừa dối hắn cả, vì sao hắn không yên tâm, thấy ta mà như gai đâm vào lưng?”
Hề Sơn quân nhận ra có vài phần ẩn ý, bèn hỏi: “Lừa hắn? Nghe nói rằng khi thân xác rời khỏi cố thổ, quỷ hồn sẽ tự tìm tới nơi mà nó muốn tới, đúng vậy không? Cô muốn tới bên cạnh Tạ Lương Thần à?”
“Cũng không phải vậy đâu.”
Hề Sơn quân nói: “Vậy lúc đầu cô lừa hắn thế nào?”
“Ta đã từng sống trong phú quý một thời gian. Khi đó, ta…”
“Ừm?”
“Sơn quân, thực ra ta còn một cái tên nữa, chưa kịp nói rõ với ngài. Ta ấy à, sợ nói ra ngài cũng sẽ không tin, hơn nữa chẳng liên quan gì đến cuộc đời hiện tại của ta, nên tự nhiên bỏ qua. Sơn quân tha lỗi ta nhé.”
“Mẹ ta họ Khương, ta đứng thứ hai trong gia tộc, cha ta thường gọi ta là Nhị Nha, vì vậy ta tự xưng là Khương Nhị. Năm ta ra đời, phụ thân tiếp nhận vị trí của tổ phụ, ban hành những điều lệnh mới để an lòng dân. Theo bối phận, ta và huynh trưởng thuộc hệ Thủy, phụ thân bút lực như thần, đặt tên cho ta, bỏ bộ Thủy 水 (氵) vào Lệnh (令), là Linh (泠). Phụ thân ta chính là Tề vương lúc bấy giờ.”
“Ồ, thì ra là thế. Vậy cô chạy đi đâu? Đừng chạy nữa, thật là… cô xem cô sợ đến mức nào rồi, sao cô biết là ta muốn đánh cô chứ? Ta sẽ không xuống tay mạnh lắm đâu, cô để ta đánh một cái đi, ta đảm bảo sẽ đánh chết cô một cách nhẹ nhàng thôi, thật đấy, Thành – Linh!”
Nàng kể lòng vòng những mẩu chuyện vụn vặt, thành một lời bịa đặt lớn.
“Sơn quân đừng giận mà, Sơ quân đường đánh đầu ta, Sơn quân đừng bóp cổ ta mà, Sơn quân ai da… có thể nghỉ một chút không, để ta nói hết cho người nghe. Tạ Lương Thần nói ta bám lấy hắn, không chịu buông tha, có lẽ thật sự cũng vì liên quan tới chấp niệm trong lòng ta. Chấp niệm của ta, nói ra có phần xấu hổ, hắn chưa bao giờ để ý tới ta, nhưng ta cứ mặt dày bám lấy không buông tha, chẳng trách hắn lại ghét ta đến vậy. Hơn nửa đời người ta sống làm một hiệp nữ nhân ái, làm người mẹ nhân ái, làm người bà nhân ái, chỉ để bù đáp cho đoạn quá khứ đáng hổ thẹn này. Mà quá khứ ấy, cũng đã trôi qua lâu lắm rồi.”
“Mùa hè sáu mươi năm trước, năm đó, ta hẵng còn trẻ, chưa bị nhốt trong khu vườn kỳ quái này, và càng chưa bao giờ nghĩ tới sẽ gặp Tạ Lương Thần.”
“Ta nhớ rất rõ, mùa hè Thượng Nguyên năm thứ năm cực kì nóng bức. Chạng vạng hôm đó, thừa dịp cung thị không chú ý, ta ham ăn lén ăn một đống trái cây ướp lạnh, kết quả đến giờ tí thì bắt đầu tiêu chảy, tới khi chuông sáng ở điện A Trĩ vang lên mới đỡ. Mơ hồ thấy ánh ban mai mờ ảo, ta mới thiêm thiếp ngủ được, vậy mà lại bị cha ta nóng nảy, hành động như gió cuốn sấm rền giơ tay gấu xách lên. Dù ông là Công vương nhưng lại làm những chuyện thô lỗ mà các bác ta không bao giờ làm.. Phụ vương nói hôm nay Giang Đông Tạ tiểu hầu đi sứ đến Tề quốc, tuy rằng chỉ là lễ nghi chào hỏi theo thông lệ giữa hai nước, nhưng khóe miệng của phụ thân ta lại cứ nhếch lên tỏ ra đắc chí, mang theo nụ cười đầy ẩn ý.”
“Thấy ông ấy cười mà ta thầm hồi hộp, yếu ớt đáp lại một nụ cười e lệ. Tính ra, kinh nguyệt của ta vừa mới bắt đầu từ tháng trước, từ một đứa trẻ thành cô nương, mọi người bắt đầu vội vàng lo chuyện hôn sự. Tính cha ta nóng nảy, tựa hồ chẳng thế nào thay đổi.”
“Ta bị đau bụng cả đêm, sáng dậy soi gương thấy khuôn mặt trắng nhợt như tấm vải mới giặt. Cha ta không hài lòng, lệnh cho cung nhân trang điểm cho ta, bôi dặm lớp phấn này tới lớp khác, nhưng cũng không chờ được Tạ tiểu hầu. Nghe bảo nghi trượng của đoàn đi sứ của hắn vừa tới cổng thành Doanh khâu thì đã không đi nổi nữa. Nhất thời chỉ nghe tiếng người reo hò ầm ĩ, nào ném quả, ném khăn tay, còn ném luôn những cái liếc mắt đa tình, những thứ đó còn đỡ, thế mà cả cô nàng đậu hũ Tây Thi tay cầm miếng đậu hũ đi tới trước mặt Tạ tiểu hầu đưa tình, cô nương bán bánh rán còn nhiệt tình chìa cái bánh nóng hổi về phía Tạ tiểu hầu để bày tỏ. Nhưng đúng là quá giới hạn lắm rồi. Tuy trước giờ mặt ta cũng dày lắm, nhưng bây giờ thấy dân chúng nước mình đã quá nhiệt tình, chắc mặt mũi những người này đã vứt tới Giang Đông thành Huy rồi. Lại nói, nước ta cái gì cũng tốt, chỉ là dân tính quá phong khoáng, nhất là từ khi phụ thân ta kế thừa ngôi vị của tổ phụ, phong vương Doanh khâu, toàn bộ dân chúng cả nước càng ngày càng náo nhiệt theo người cha đều vui vẻ không vì lí do gì mỗi ngày của ta.”
“Ta còn nhỏ đã có tính này, lại nói, Sơn quân chờ cười nhé. Dù trước mặt người gquen ta hay nói nhiều nhưng thật ra khi còn sống ta là một tiểu cô nương hay đỏ mặt lắm. Lúc ấy ta đảo mắt, nhìn thấy mẫu thân ta – Tề vương hậu, đầu đội đầy châu ngọc tới mức không thấy rõ mặt, đang vui vui vẻ vẻ nói về sự kiến rầm rộ này, nào là con rể quả không tồi. Ta nói không nên lời, mặt không thế nào kiểm soát mà đỏ lựng. Rõ ràng đều xuất thân thế gia quý tộc nhưng không biết đã xảy ra chuyện gì mà cha mẹ ta đã sống quá chân thật, quá phóng khoáng, quá không phép tắc.
“Đúng là một chuyện vui ai cũng tỏ tường. Ca ca duy nhất của ta, Tề thế tử Thành Hoằng cũng ráng đưa thân thể trước nay luôn yếu ớt tới thăm. Ca ca a là một người thận trọng, biết tính ta, sợ ta xấu hổ, chỉ vuốt nhẹ mái tóc dài của ta, lúc thì cười, lúc lộ vẻ u sầu. Một hồi sau, không nhịn được mới nói: “Mới bấy nhiêu tuổi đâu, sao phải xuất giá rồi? Vẫn còn chưa cao bằng cái lư hương trong điện của huynh nữa.”
“Nhà ta có thể sống vui vẻ vô tư tới lúc ấy là vì ngoài không cường địch, trong không kẻ tặc, Thiên tử yên lòng, láng giềng hòa thuận, đôi khi ta nghĩ rằng, được vậy có thể vì toàn bộ lớn nhỏ trong nhà đều không thích động não. Phụ thân ta thường bảo: ‘Đừng sống như vậy, mệt mỏi lắm. Mang họ Thành vốn đã mệt lắm rồi, nếu còn muốn làm khổ mình, thì nỗi khổ ấy chẳng bao giờ chấm dứt.’”
“Mỗi năm vào dịp lễ tết, ta cùng các đường tỷ muội vào Thái Bình đô, tập trung ở chỗ điện Thái âm nương nương, đó là lúc ta gặp nhiều người nhất, cũng là lúc đông vui nhất. Mỗi lần nghe các dg tỷ muội kể là nhà của các đường bá làm thế nào để trị chết đại thần mưu phản thế nào, các đường huynh mới gây chuyện phong lưu nào, hay các đường bá mẫu làm sao để tranh đấu sống chết giữa các phu nhân và thiếp thấp, ta nghe mà thấy sốt ruột không chịu được. Sốt ruột chứ, sống ruột vì không thể chen miệng vào được. Đều là chị em trong nhà, ta vốn thích nói chuyện, rất muốn góp lời khoác lác một phen, nhưng mà cha ta chưa từng giết đại thân nào, ca ca mang mặt chữ điền không có chút đào hoa, mẫu thân ta càng tuyệt vời, bà thân thiện với các cung nhân, ai cũng là người thân một nhà, huống chi ba cung điện sau nhà ta không có một thiếp thất mỹ nhân nào cả!”
“Mỗi lần vào dịp như vậy, ta hay dễ nói lắp. Sau này, các tỷ muội cũng không muốn rủ ta chơi chung nữa, ở sau lưng nói ta thiếu thông minh, khô khan, không thú vị. Cứ mỗi khi hết tết, từ điện Thái âm trở về, ta đều thấy phiền muộn rất lâu, mãi đến sau này, dù co đi cũng chỉ trốn một góc, người khác hỏi tới thì đỏ mặt xấu hổ, thế là các nương nương lại thấy ta là một đứa trẻ lễ phép không ngông cuồng.”
“Chẳng biết đã qua bao lâu, khi bột phấn trên mặt đã rơi xuống cái váy màu xanh nhạt, một nội thị hớt hải chạy vào, kích động nói, ‘Điện hạ và nương nương mời ngài qua đó, bảo là Tạ tiểu hầu gia đã tới! Hôm nay bày tiệc ở điện Tương thần, đã chuẩn bị sẵn bình phong cho ngài rồi.’”
“Thế là phải gặp thật rồi.”
“Lúc đó đầu óc ta hoàn toàn trống rộng, chỉ vừa mới bước qua thời kì trẻ con, vẫn chỉ là một thiếu nữ nho nhỏ, trong đầu chỉ biết một chuyện nam nữ duy nhất là về đoạn tình giữa Thanh Thành điện hạ và Vân khanh. Nghe bảo Vân khanh là nhi lang được Thanh Thành điện hạ vừa liếc qua đã chọn, nhưng Vân khanh lại hình như không chọn Điện hạ.”
“Ta không nhớ rõ mình đã tới đó thế nào, nhưng trong lòng lại có sự chờ mong như mặt trời rực rỡ trên trời cao, nóng bỏng và thuần khiết. Qua một tấm bình phong, ta nhìn thấy Tạ Lương Thần mười sáu tuổi.”
“Ta biết từ nhỏ ngoại hình của mình chỉ cùng lắm được xem là thanh tú, thoa nhiều phấn như vậy lại có vẻ tục tằn. Tấm bình phong này được các thợ thủ công Tề quốc lấy da cá mập, phơi nắng vào ngày lạnh nhất, sau đó mài bóng chín lần, thế nên hình ảnh xuyên qua cũng rõ nét. Trước đây ta thích tấm bình phong này lắm, không che khuất tầm nhìn lại có thể đảm bảo lễ nghi của nữ nhi, nhưng lần đó ta lại cực kì ghét bỏ vì sao lại thấy rõ như vậy. Tạ Lương Thần chỉ nhìn ta một lần, nở nụ cười, rồi dời mắt. Hắn là một thiếu niên quý tộc rất lễ độ, phụ thân và mẫu thân đều vui vẻ cười không ngớt gắp đồ ăn cho hắn, hắn nhận với vẻ mặt ôn hòa, tỏ ra chân thành, thế nhưng nụ cười đó chỉ thể hiện ở bờ môi khóe mắt, khiến người ta nhìn vào thấy mất tự nhiên, khó chịu.”
“Sơn quân à, lúc đó sao ta có thể vui vẻ mà ăn được chứ? Chỉ thấy xấu hổ và căng thẳng, mắt nhìn xuống, ngây ngốc nhìn chăm chú vào ngón tay của Tạ Lương Thần, thấy đó là một đôi tay rất đẹp, thon dài, sạch sẽ trắng trẻo, to lớn lại mang theo cảm giác ấm áp.”
“Phụ thân ta có vẻ rất hài lòng, một mình tự rót tự uống, say đến bảy tám phần, thân thiết vỗ vào vai Tạ Lương Thần, lúc thì gọi là cháu ngoan, lúc thì gọi là con ngoan. Ta xoắn chặt chiếc khăn tay, nước mắt suýt nữa ứa ra, mẫu thân nghe cũng thấy chối tai, trước khi cha ta say quá mà gọi ‘con rể ngoan’, bà lệnh cung nữ đưa ông ra ngoài cho tỉnh rượu. Tạ Lương Thần nhíu mày rất khẽ, nhưng chỉ chớp mắt đã trở về khuôn mặt tươi cười hiền lành lịch sự.”
“Lúc đó nội thị dâng món điểm tâm ta rất thích lên, đó là món làm tự gạo nếp, nước đường và hạt thông, tên là Trường thọ cao, một món điểm tâm mà gia đình Tề quốc nào cũng biết làm. Mẹ ta vui vẻ mờicháu ngoan ăn thử đi. Tạ Lương Thần nhìn qua món điểm tâm, cười lắc đầu, “Trước nay ta không có thói quen ăn hạt thông.’ Hắn từ chối dứt khoát, ta cũng rõ ràng nhận ra đây là một người rất kiêu ngạo, không thoải hiệp trước người hoặc vật mà hắn không thích. Ta cũng đoán hắn nhất định là người không dễ sống chung, lông mi dài như châm, che đi sự nhẫn nại trong mắt, như có thể đâm chết người ngay lập tức.”
“Hắn không hề hiền lành như vẻ ngoài, thế nhưng khuôn mặt đó như trăng sáng trên trời quang, trong trẻo sáng sủa, khiến không ai có thể trách móc được gì.”
“Sinh ra là người đẹp tốt thật, có quyền lợi vậy đấy. Chỉ cần ngồi yên tĩnh ở đó, người khác sẽ tự động dâng tới những gì tốt đẹp nhất cho hắn.”
“Tạ Lương Thần rời di9, mang theo sự coi thường cung điện Tề vương cung tục tằn đến cực điểm. ngày hôm đó, hắn chỉ nhìn ta một lần. Còn ta vì cái nhìn đó, mà bi thảm tròn một đời.”
“Cha mẹ ta trông ngóng Tạ Lương Thần sẽ mang sinh lễ đến, vượt qua sông Ngô ở Giang Đông, bước qua ao cá mà đời đời thế thế Khương Tề đã kinh doanh, đi tới trước mặt con gái của họ. Chỉ có ta biết, hắn sẽ không tới, không bao giờ tới.”
“Sơn quân ơi, ngài không thể tưởng tượng đượ, một tiểu cô nương mười mấy tuổi nông cạn và ngây ngô tới mức nào đâu. Cô bé ấy cứ nghĩ rằng do hôm đó mình đã bôi quá nhiều phấn, sắc mặt tiều tụy nên đã dọa Tạ Lương Thần. Nếu như có cơ hội gặp hắn lần nữa, chắc chắn tiểu cô nương ấy sẽ nói nàng nhất định không ăn một món quả ướp lạnh nào vào tối hôm trước đâu.”
“Lúc phụ vương ta say rượu có phóng túng gọi Tạ Lương Thần là ‘con’, nhớ lại là thấy hãi hùng. Tạ Lương Thần là một thiếu niên thanh nhã cao ngạo, sợ rằng sẽ rất chán ghét tiếng gọi ‘con’ một cách bừa bãi thiếu lễ tiết như thế. Nhưng chỉ là vì phụ thân ta uống say thôi mà, ta mong sao chỉ có thể gặp hắn một lần nữa, nói với hắn rằng, phụ thân ta là một người cha hiền lành nhất, biết phải trái nhất, thông nhất trên đời này, không phải như hắn nghĩ. Mẫy thân ta tuy thích đeo vàng vạc nhưng cũng là người phụ nữ nhân ái nhất, thiện lương nhất, bao dung nhất cả thiên hạ, không phải như hắn nghĩ đâu. Thế nhưng, ta biết cha mẹ ta không có sai, là ta sai, chỉ bởi vì ta không phải là người trong tưởng tượng của Tạ Lương Thần.”
“Tạ Lương Thần mang khuôn mặt hồ ly, mê hoặc một tiểu tăng bé nhỏ ở chốn Niết bàn như ta. Cho dù ta có thể thêu được một con phượng hoàng biết hay trồng ra một cây mẫu đơn tím thành tinh, hắn cũng sẽ không mở cánh cửa có hai chữ ‘hứng thú’ của mình ra.”
“Một tháng sau đó, Giang Đông Huy thành vẫn không về có tin tức. Khuông mặt già phụ thân ta không nhịn nổi nữa, viết thư gửi Tạ hầu. Phụ thân của Tạ Lương Thần trả lời rất khóe, bảo Tạ Lương Thần say mê lục nghệ, bận bái sư, không muốn bàn chuyện hôn nhân, phải đi học ba năm, sao dám khinh bạc làm lỡ tiểu quận chúa?”
“Ta nghe nói tháng chín Tạ Lương Thần sẽ đi học, vò đầu bức tai một tháng, gửi một bức thư nặc danh tới Huy thành, trên đó chỉ có bốn chữ: ‘Quân phải sống tốt’. Phong thư này đương nhiên cũng giống đá chìm biển. Nghe bảo rằng có một khoảng thời gian Huy thành canh gác rất nghiêm, nghe đâu vì có thích khách đang nhắm vào Tạ tiểu hầu gia thân cao tám thước, thậm chí còn gửi chiến thư khiêu khích tới phủ.”
“Ta suýt rơi nước mắt, rất lo lắng cho an nguy của Tạ Lương Thần, phải rất lâu sau mới nghe bảo là đã sóng êm biển lặng. Tháng chín, Tạ Lương Thần quả thật lên đi đến trường học ở Lão Sơn thông ở Thái quận, và ta đã đưa ra một quyết định sai lầm đầu tiên trong đời, cũng giống như việc ta say đắm vẻ ngoài hồ ly tinh cũng là một sai lầm không thể giải thích được, cái sai đó, đủ khiến cho bất kì tiểu cô nương dễ xấu hổ nào cũng đều không thể ngóc đầu được cả đời.”
Hề Sơn quân hỏi: “Lẽ nào sát tinh mà hắn nói là cô?”
“Ngoại trừ ta, có lẽ chẳng có ai gây nhiều phiền phức cho hắn đến vậy đâu.”
“Đôi khi, sử sách chỉ ghi vài chữ, nhưng với người thì dài cả một đời.”
“Thật ra và Tạ Lương Thần không có nhiều duyên phận, lần nào cũng đều do ta cố gắng tìm kiếm, nhưng cũng chỉ nhận được vài ba tin tức về hắn. Nhưng cứ mỗi khi ta nhụt chí vài ba tháng, thì như có sợi dây nối lại. Có điều thuở nhỏ, nào biết đây rõ ràng là ý trời, vậy mà cứ khổ sở bám lấy, không chịu buông tay.”
“Ta đã làm một việc mà những tiểu cô nương bình thường không bao giờ làm – cải trang nam nhi tới xin học ở Lão sơn tông, lấy tên của ca ca, còn bôi đen mặt mấy lớp. Tính kĩ lại, ta làm bạn học của Tạ Lương Thần ba năm, nhưng chưa thật sự nói chuyện quá ba lần. Nhưng ít cũng có lợi, ta nhớ rất rõ từng lần. Hôm đó hắn cùng bạn bè trong trường đến bãi săn ở Thái khâu, săn được khá nhiều, phu tử vui vẻ nên đặc biệt cho chúng ta được uống rượu một ngày. Tât cả mọi người đã uống không ít, còn ta luôn cẩn thận, chỉ mới nhấp nháp hai ba chén mà thôi. Vì tướng mạo không xuất sắc, lục nghệ bình thường, hành xử cũng chậm cháp nên các bạn học không thường xuyên tiếp xúc với ta, nên ta uống ít cũng chẳng ai phát hiện. Hôm đó mọi người uống nhiều tới mất phong độ, cố gắng tìm những bạn họ tửu lượng lớn hoặc chưa say để chuốc thêm, ta cũng bị phát hiện. Tạ Lương Thần thì lại bị ganh ghét vì tửu tượng lớn, nên bọn họ ào ào rót rượu cho hai người bọn ta như ong vỡ tổ, gắng gượng được một lúc, cuối cùng Tạ Lương Thần cũng lảo đảo, tỏ ra say rồi, mọi người mới dừng lại, dồn toàn lực để chuốc rượu cho ta. Sơn quân ơi, ta chỉ là một tiểu cô nương, lúc đó chừng mười bốn mười lăm tuổi, uống được mấy ly rượu cô chứ? Xưa nay vì sợ bôi nhọ gia phong, luôn cẩn thận có thừa, tuy nhiên hôm đó bị rót rượu dồn dập không chịu nổi, chật vật vô cùng, chẳng qua còn sót mấy phần cốt khi, gắng gượng không ngã xuống. Phu tử thấy tình hình quá hỗn loạn, mắng họ vài câu, bảo mọi người về nghỉ ngơi, lúc này ta mới có thể thở phào.”
“Mọi người đều rời đi, chỉ còn ta và Tạ Lương Thần. Từ nhỏ ta có một tật xấu thì đã uống say sẽ mặc kệ hết tất cả, chỉ thích khóc, khóc tới long trời lở đất, lúc đó vũ trụ hồng hoang cũng không là gì trong mắt, khóc như thể cả nhà Thành gia từ già trẻ lớn bé đều chết hết rồi. Ban đầu cha mẹ ca ca cũng khuyên giải đôi câu, sau thấy không nghe nên cũng để ta khóc, chỉ là không biết vì sao tiểu cô nương thôi mà có thể rơi hai hàng nước mắt mãi không hết như vậy.”
“Hôm ấy ta say lắm, nhưng trong lòng lại vô cùng tỉnh táo. Ta đưa tay lên mặt, thấy nước mắt đã chảy từ lâu, không thể ngừng được. Ta sợ hãi nhìn Tạ Lương Thần đang gục trên bàn đá, vừa lau nước mắt vừa rơi nước mắt. Đứng dậy định chạy thì lại choáng váng, mơ hồ. Tiếp đó thấy hắn ngẩng đầu, mở mắt ra nhìn xung quanh, mang theo vẻ khí định thần nhàn mà cười trộm, nhưng xoay người thấy ta đang rơi lệ không ngừng, có chút lúng túng ngẩn hết cả người.”
“’Đệ khóc gì thế?’ Hắn hỏi ta.”
“Ta vừa khóc vừa chắp tay nói: ‘Tạ huynh có lễ.’”
Hắn nhìn ta rất lâu, không nhịn được mà bật cười, ‘Đúng thật là có lễ cũng thành vô lễ mất rồi. Bọn họ chỉ hơi hoang đường, do say rượu mà thôi, nên uống rượu vừa phải mới vui nhất, ngươi khóc gì chứ?’”
“’Tạ huynh đừng đế ý đến ta, cứ nghỉ ngơi đi.’ Ta xua tay, khó có thể giải thích ngắn gọn. Nước mắt không đáng tiền, như thác nước, rơi từ ba ngàn trượng.”
“Hắn hỏi ta: ‘Đệ có biết lừa người?’”
“Ta suy nghĩ một chốc, thấy bản thân mình từ nhỏ đến lớn luôn hiền lành ngoan ngoãn, chưa bao giờ lừa gạt, ăn chặn của ai một cái gì chứ đừng nói tới lừa người khác, thế là lắc đầu nói: “Chưa từng học được, chưa từng chưa từng.’”
“Mắt Tạ Lương Thần rất sáng, hắn nhìn ta bằng ánh mắt rất vi diệu, sau đó rất lâu lại cầm bút viết mấy chữ vào quyển sách còn để trên bàn, đưa cho ta: ‘Ký tên vào đây.’”
Mắt ta sưng đỏ, chẳng nhìn rõ cái gì, chỉ cầm bút viết chữ ‘Linh’ vào. Sau đó chợt nhớ mình đang dùng tên giả, lấy tên của ca ca đi học nên giật mình, nhìn lại Tạ Lương Thần, hình như hắn không thấy, xếp tờ giấy lại mấy lần, rồi bỏ vào tay áo tím thêu tơ vàng của mình.
“Trong lòng ta có quỷ, cứ suy nghĩ tìm cách làm sao để lấy được tờ giấy về, thì bỗng thấy Tạ Lương Thần xốc ngược ta lên như vác bao gạo hay một con mồi nào đó vậy. Ta nằm trên vai hắn, cảm thấy đây không phải chuyện vui vẻ gì lắm, nhưng đây cũng là lúc ta và hắn gần gũi với nhau nhất trong đời. Một lúc sau, men rượu ào tới như sóng biển ập vào, ta nôn hết ra. Tạ Lương Thần khựng bước, ta nhìn thấy cái áo bào tím quy giá đã bị dính một mảng rượu lớn, càng mở to hai mắt khóc òa. Ta nói, ta từng nói là sẽ không mất mặt trước huynh nữa đâu, thả ta ra, ta nói là ta không biết huynh mà Tạ Lương Thần, sao huynh không thả ta xuống, ta nói trời muộn rồi, cô nam quả… ‘nam’ không có tiện đâu!”
“Hắn chỉ cười nhạt, nói ‘im lặng’, còn ta thì ra sức khóc òa để che giấu tất cả dấu vết của sự xấu hổ này, không biết làm sao đành giả điên giả khùng gào lên: ‘Cha, mẹ, hài nhi đã ba năm không về nhà, nhớ cả nhà chết đi được! Hôm nay chỉ biết mượn rượu giải sầu, cha, mẹ, hài nhi trước nay không dễ rơi lệ, chỉ là giờ đây nhớ nhà tha thiết quá!’”
Tạ Lương Thần dừng bước, sau đó lại rảo chân về hậu viện, đá cửa, thắp đèn, ném ta lên giường, mọi thứ được làm một cách lưu loát. Ta nhìn bóng lưng hắn xa dần, há miệng, nhưng chẳng nói được gì, chỉ biết vươn tay, khum thành hình bán nguyệt, dưới ánh đèn yếu ớt, khẽ khàng yếu ớt dùng ngòn tay che đi bóng của hắn.”
“Ta không có lừa hắn đâu, sao lại lừa hắn chứ? Nếu ta lừa hắn, tội gì đã cải trang thành nam rồi mà vẫn không dám nói với hắn thêm mấy câu? Ta cứ sợ hắn không thích, cứ sợ hắn không thoải mái, không an nhàn.”
“Tờ giấy đó, vĩnh viễn vô dụng.”
“Sơn quân, ngài cũng biết đó, cuộc đời sẽ luôn có những bước ngoặt nho nhỏ khiến ngài vui vẻ. Khi đó ta đã học ở trường được ba năm, ỉu xìu về Tề vương cung. Trước khi ta có nói với cha rằng: Con gả cho ai cũng không cam lòng, cha cứ để con chết tâm đi. Cha ta trầm mặt một hồi, đồng ý, bảo mẹ ta điểm một cái dấu chu sa lên cánh tay, bảo rằng đây là thủ cung sa của người xưa từ trước đến nay. Sau khi trở vè, việc đầu tiên ta làm là ngoan ngoãn giơ tay cho mẫu thân xem, bà cười, sau đó chấm nước bọt chùi nhẹ một cái, mất tiêu. Ta ngơ ngác nhìn, còn mẫu thân lại mắng: ‘Rốt cuộc con đã bao lâu không tắm rồi?’”
“Cha mẹ yêu dấu của con ơi, ai mà biết hai người chỉ muốn dọa con đâu? Lần nào tắm ta cũng phải giơ một tay lên, sợ dấu lỡ đâu chùi mất thì không biết ăn nói thế nào. Chịu đựng suốt ba năm, bây giờ hai người bảo chỉ là lừa gạt, có tin là ta sẽ đập đầu vào ao cá vàng tự tử không?!”
“Cha ta thường chê ta vô dụng, thiên thời địa lợi nhân hòa, ở trường toàn là đực rựa, đến lớn cũng thành cũng thành thiên tiên, thế mà ở chung một ba năm, lại cứ ngây ra không giải quyết được Tạ Lương Thần, đây không phải ngốc bình thường mà ngốc bẩm sinh rồi!”
“Ca ca hỏi ta đã từ bỏ Tạ Lương Thần được chưa, ta đáp vẫn chưa, huynh ấy nói, À, ta biết từ lâu.”
“Ba năm thật dài, ta đã phí hoài.”
“Dù dung mạo ta bình thường nhưng Tề quốc cũng không nhỏ, thế nên số lượng người cầu hôn vẫn nườm nượp đủ nát bậc cửa. Cha ta đang phải phiền não vì không biết chọn ai thì Giang Đông truyền tin tới, thông báo Tạ tiểu hầu mười tám tuổi chính thức tuyển phi, mời các quận chúa, quý nữ các nước gửi tranh tới. Ca ca ta giỏi hội họa, hôm đó vừa khéo vẽ một bức thiên tiên đồ, rủ ta tói ngắm. Ta hỏi ai vậy, ca ca yếu ớt mìm cười, bảo; ‘Cũng tại muội không có chí tiến thủ…’”
“Lời chưa nói hết, tranh đã được cuộn lại giao cho nội thị. Ngày hôm sau phụ vương lại gọi ta tới, giáng một bạt tai khiến ta choáng váng. Từ bé đến giờ, ông chưa bao giờ đụng vào ngón tay ta nữa ta. Ông hỏi ta: Con có còn chút cốt khi nào không, sao lại noi theo Thanh Thành, để làm trò cười cho thiên hạ mới được hả?”
“Thì ra là vì chuyện bức họa của ca ca đề tên ta, giao cho sứ giả Giang Đông. Mẫy thân biết chuyện này, bên thì thương ta nên mắt nhắm mắt mở, bên thấy bất an nên sau khi đấu tranh đã nói cho phụ thân ta hay. Trước khi ông tới đã tát ca ca ta hai cái rồi, coi như ta cũng bị ít hơn.”
“Ta từ nhỏ miệng lưỡi vụng về, không biết tranh cãi, chỉ lặp đi lặp lại. ‘Cha… cha là… rau muối lâu!’”
‘Ngư dân Tề quốc thường dùng muối biển và nước mắm để muối rau, có thể để được mấy năm, chỉ là càng lâu thì càng khô quắc, cứng ngắc, có thể đập nát hũ sành, làm một dĩa đồ ăn nhưng chẳng ai nuốt nổi.”
“Phụ vương như hũ rau muối lâu, ta không thể thiếu nhưng không thể nhai. Phụ vương lại đập một cái vào trán ta, tức giận: ‘Đầu con như não tôm!’”
“Ta biết ông ấy chê ta não nhõ đần độn, lí nhí nói: ‘Mẹ sinh cha cho!’”
“Cha ta khinh bỉ, phất tay bỏ đi, chỉ thấy chín dải tua trên mũ miện đội đầu của ông sáng lấp lánh khiến ta hoa mắt.”
“Ta nghĩ tới chuyện ca ca đã làm, lòng vừa tức vừa thẹn, chỉ biết cưỡi một con ngựa nhanh, đuổi theo sứ thần trên đường. Ta đổi tám con ngựa khỏe ở trạm dịch, lúc bắt kịp sứ thần nhà ta thì họ đã vào tới Giang Đông đô thành Huy. Ta nói trả bức họa cho ta, bọn họ cùng đồng thanh: Thế tử đã phân phó, không đưa cho ai khác ngoại trừ Tạ tiểu hầu. Thấy Giang Đông Thái úy ở xa tươi cười mang người tới đón sứ thần, ta sốt ruột: ‘Có đưa hay không?’”
“’Thế tử điện hạ dặn, không đưa!’”
“Ta không có trông như thế, mất mặt quá rồi!”
“Thế tử điện hạ nói, Quận chúa nương nương kim quang chói lòa, dung mạo như thiên tiên!”
“Cả lũ nịnh hót! Mau đưa đây!”
“Thế tự điện hạ dặn, tranh còn người còn, nếu dám làm mất tranh, ai khiến muội muội của ngài lỡ duyên, ngài sẽ khiến kẻ đó phải sống cô độc!”
“’Giang Đông Thái úy Tô thị tới rồi kìa, còn không nhanh đưa đây! Phụ vương bảo các người phải đưa cho ta, mau lên! Cha ta quan trọng hay ca ca quan trọng?’ Ta kéo tay áo của Tả quang lộc đại phu Tần Nghị, đoàn người Tô thị tới càng lúc càng gần.
“’Bẩm quận chúa nương nương, thê tử mới quan trọng!’ Một đám sứ giả áo trắng đồng loạt phê bình ta, nếu đây mà có ao cá vàng, một mình ta ném bọn họ xuống ba trăm lần!”
“Phía bên kia Giang Đông Tô Thái úy đã dẫn người ngựa đi tới, chắp tay cười tủm tỉm: ‘Cựu thần phụng Tạ hầu lệnh, định đến Tề quốc cầu hôn giúp Tiểu hầu gia, nào nghề Tần lão đệ lại trùng hợp đến Giang Đông thế này!”
“Tay áo của Tần Nghị bị ta giật rách, đám người áo trắng sững sờ, mà ta cũng sửng sốt.
Hề Sơn quân nghe tới đó, nở nụ cười: “Hay, đi một vòng như thế, vậy là cô đạt được mong ước rồi.”
Quỷ hồn sờ vào trán của Hề Sơn quân, hai mắt nhắm nghiền, tựa như cũng cảm nhậ được điều gì đó, mãi lâu mới thở dài nói: “Ngài cũng gặp chuyện không như ý, chắc hẳn cũng đồng cảm với nỗi lòng ta.”
“Ta hoang mang về lại Tề quốc, không biết vì sao Tạ Lương Thần lại đồng ý lấy ta, ta cố gắng biến kết quả này khởi đầu mới, chờ đợi một hành trình khác trong đời. Lúc rảnh rỗi, thi thoảng lại nghĩ, nếu như tai biết tương lai sẽ là như thế, có thể chuẩn bị trước, tránh được cái tai họa này thì tốt biết mấy. Một tháng trước ngày ta xuất giá, vào đầu hạ, cha mẹ ta theo lệ tới Doanh khâu để bái tế Hải thần Ngu Cương, nhưng gặp phải thích khách ở chân núi ngoài thành Lữ Mông, mất mạng tại chỗ. Huynh trưởng Thành Hoằng của ta vì quá đau đớn, lập tức bệnh không gượng nổi, chỉ mới mấy ngày đã sầu não qua đời. Ta vừa lo tang lễ của cha mẹ xong, rồi lại mặc áo tang của ca ca. Thởi điểm đó, nước mắt chảy mãi không ngừng, ta trằn trọc mãi không ngủ được, cuối cùng cũng thiếp đi, lúc đó vào khoảng canh ba, trong sương mù dày đặc mơ hồ thấy cha mẹ ta đang từ từ bay tới, mắt rưng rưng từ xa, thảm thiết gọi: ‘Con ơi, mau chạy đi, chạy đi!’”
‘Ta giật mình tỉnh giấc từ giấc chiêm bao, đầu đầy mồ hôi, định gọi người hầu thì nghe thấy tiếng chân sột soạt ngoài cửa, hình như có vài người đang thấp giọng bàn bạc chuyện gì đó.”
“Nhiều năm trôi rồi, ta không còn nhớ rõ chúng đã nói gì, chỉ biết là bọn chúng đang định hạ thủ với một người, mà người đó lại chính là ta.”
“Cha mẹ ta vừa mới báo mộng để cho ta biết, vậy mới thấy, Bọn họ đang phải đau khổ chống đỡ ở chốn U minh là thế, nhưng vẫn kiến quyết không để ta chết, nhưng ta phải thoát thân thế nào đây?”
“Trong bóng tôi, ta chỉ mò được con dao găm dưới gối. Hắn là những thị vệ kia đã bị mua chuộc, không còn dùng được nữa. Ta nắm chặt con dao nhọn, trước đây từng học võ ở Lão Sơn tông nhưng cũng chỉ biết võ vẽ mà thôi, nay gặp chuyện bất đắc dĩ thì cũng phải cắn răng liều mạng. Nếu chết thì có thể đoàn tụ cùng cả nhà, nhưng thế nào người cha nóng tính và người mẹ thích trang điểm lộng lẫy đang ở cõi âm của ta sẽ mắn ta tám tới mười năm mất. Thế thì tội gì? Tội gì phải thẹn với người đi trước.”
“Ta dồn hết dũng khí để lao ra ngoài thì bỗng phía sau có người, lặng lẽ trong bóng tối, bịt chặt miệng ta. Người ấy cõng ta lên, nhảy lên xà nhà. Ngói của Tề vương cung không chắc lắm, y cố gắng dùng vai còn lại để đập vỡ ngói, mang dũng khí muốn chết hơn cả ta, tháo chạy, cõng ta ra ngoài.
“Toàn thân y mặc đồ trắng, nhưng đã bị thương. Ta không biết y đã làm cách nào để chạy trốn tới tẩm điện của ta, cũng không biết đã bị thương ở đâu. Y vừa cõng ta vừa chạy, đến khi không chạy nổi thì máu cũng đão nhuộm đỏ toàn bộ chiếc áo trắng rồi.”
“Y đặt ta xuống, giữa khói bếp nghi ngút của một nông gia, ánh bình minh đã chiếu lên khuôn mặt y. Y lấy sọt trúc che ta lại, giấu ta vào giữa khe hở của các vò nữ nhi hồng. Có lẽ nhà người nhà này mới gả con gái, nên mới đào hết tất cả những vò nữ nhi hồng còn vương mùi đất bùn.”
“Cha ta lại không còn cơ hội uống nữ nhi hồng khi ta xuất giá rồi.”
“Người đó quay đi, bước chân lảo đảo tiến về trước, ta ở trong cái giỏ trúc hỏi: ‘Tần đại phu, điều ngài muốn nhất là gì?’”
“Dưới ánh nắng ban mai, khuôn mặt của y rất đẹp, vẻ quật cường và ngoan cố vốn dĩ cũng trở nên dịu dàng. Y quay đầu cười với ta, khuôn mặt tái nhợt đã nhuốm tử khí rất đậm. Ý nói: “Thưa bẩm quận chúa nương nương, tâm nguyện lớn nhất cuộc đời này của thần là lấy được một cô nương xinh đẹp, sau đó sinh ra… sinh ra một tiểu cô nương như Quận chúa nương nương vậy.”
“Tề Tả quang lộc đại phu Tần Nghị, năm đó chỉ mới hai mươi lăm. Đôi môi nứt nẻ của y hé nụ cười, nói với ta: “Người trốn cho ngoan, nhất định phải ngoan ngoãn mà… sống.’ Y dịu dàng v**t v* cái giỏ trúc, sau đó bước đi không ngoảnh lại.
“Ta đã trốn trong giỏ trúc suốt ba ngày, nhưng y không bao giờ trở về được. Khi ta bước ra khỏi giỏ trúc, đúng lúc gia đình đang gả con gái, cả nhà đều đã say rồi, tất cả đang nói về khí khái của bảy đại phu Tề quốc.”
“Hôm trước Tề quận chúa Thành Linh đột ngột qua đời, huyết thống hoàng tộc của Tề vương đã hoàn toàn bị chặt đứt. Có người tố cáo Tề vương sớm có lòng mưu phản, Thiên tử vẫn chưa nói gì, chỉ lệnh Sở vương tiếp quản Tề quốc, hình như cũng nắm vài phần chứng cứ. Thất bạch y đại phu của Tề quốc đã thề suốt đời chỉ phụng sự một chủ, đồng loạt tự vẫn ngay trước mặt Sở vương. Người dẫn đầu là Tả quang lộc đại phu Tần Nghị.
“’Thù giết vua của ta, sao có thể xưng thần!’ Tần đại phu chỉ vào Sở vương mà mắng lớn, saua đó rút bội kiếm, cười nói, “Trên đường xuống hoàng tuyền, chủ nhân ta đang cô đơn, cuộc đời này thần không thẹn gì, trước khi đi đã tắm rửa thay đồ, một thân sạch sẽ, đến gặp Bệ hạ của ta, vương hậu của ta, Thế tử của ta, cũng không thất lễ!’ Sau đó y chết trước mặt Sở vương, mỉm cười mà chết. Sau đó sáu bạch y đại phu cũng làm theo, máu nhuộm đỏ chiếc chuông đồng trên điện A Trĩ. Từ đó, không còn ai ra mặt cho vị vua đã chết oan của ta. Hình như đó là người kể chuyện mà chủ nhân mời tới, vừa kể vừa khóc, cả sảnh đường đang vui vẻ nay đều ảm đạm, ta nhìn những giọt nước mắt của hắn đang hòa vào nữ nhi hồng, hắn khóc thay ta, bách tính Tề quốc đang khóc thay ta, ta còn khóc gì nữa?”
“Sở vương rất phẫn nộ về chuyện này. Gã mưu định đất Tề nên hành động tàn nhẫn, gã đào xác của cha mẹ và anh ta từ trong Vương lăng lên, cuộn trong manh chiếu rách, chôn qua loa ở Lang Nha. Từ đó Tề Sở xác nhập, giao cho người từng làm Sở vương quản, ấu đệ của Thiên tử. Lúc ta g**t ch*t gã, gã hỏi ta là ai, ta ghé vào tai gã gọi ba chữ: ‘Sở vương thúc’.”
“Vận mệnh của tất cả mọi người, đứng trước nước và nhà đều trở nên nhỏ bé không đáng kể. Ta không thể ngăn cản được dòng xoáy ấy, chỉ có thể mở to mắt bước tới chốn này, trong sự bất lực. Ta nhớ tới thời thơ ấu của mình, cứ thích nằm ngang trên dốc bậc thang trước điện A Trĩ, khi đó trời thật xanh, giang rộng hai tay, ta trở thành một phần của vầng thái dương đó và bầu trời. Lúc gió nổi, người anh họ Tần của ta, vừa mới đội mũ quan sẽ mỉm cười lộ cái răng nanh nhỏ, đứng bên cạnh, khom người gọi: ‘Quận chúa, tỉnh dậy nào, Điện hạ gọi ngài vào dùng bữa đó.’ Y nắm tay của ta, dắt ta về bên cạnh mẫy thân. Sau đó trong ánh chiều ta, ta huơ huơ cái mũ thay lời chào tới y: ‘Tần Nghị, huynh là người rất tốt, ngày khác, nói cha ta kiếm cho huynh một nàng dâu xinh đẹp nhất nha.’ Y mỉm cười gật đầu, sau đó biến mắt trước mắt ta trong ánh chiều tà đang dần tắt hẳn. Tần Nghị bảo ta phải ngoan ngoãn sống, y đã dùng mạng mình để đổi mạng cho ta, vì thế dù sống có khổ sở tới đâu, ta cũng chẳng bao giờ nghĩ tới quyên sinh. Ta biết, chết rồi là hết, như cha ta, mẹ ta, anh trai ta.”
“Sau đó ta lưu lạc khắp nơi, cải nam trang, tường làm ăn mày, làm thợ thủ công, cũng từng đi khuân vác. Sau đó nghe nói Sở vương và Lâm cửu nương có quan hệ mật thiết, thế là đến Đường quán của ả để làm hạ đẳng cơ thiếp, chờ thời cơ trả thù. Ban đầu ỷ vào thân phận của mình sẽ chỉ làm vũ cơ thôi, không phải bán thân, nhưng sau bị Lâm cửu nương đánh vài trận, để lại mầm bệnh không dứt, không thể sinh con được nữa.”
“Sau khi nghe tin phụ thân ta qua đời, ta có nghe nói Tạ hầu phủ cũng gặp biến cố lớn, dân gian đều đồn cha con Tạ hầu bị cha ta và ta liên lụy, bị giam cầm trong Hầu phủ, cuối cùng tự thiêu.”
“Hôm nghe tin dữ của hắn, ta đang bị lão già kia c**ng b*c, đó là ngày tuyệt vọng nhất trong cuộc đời ta. Trong lúc mê man, không biết đó là mộng hay thực.”
“Ta như nhìn thấy một ngọn lửa lớn bùng lên trong phủ Tạ hầu, mọi người ngơ ngác nhìn từ sa, không biết xảy ra chuyện gì. Lửa cháy ngày càng lớn, mọi người như bóp nghẹt cổ họng, không biết vì kinh hãi hay hoảng sợ, nhưng cũng quay ra nhắc ta – Tránh ra một chút! Không cứu được, chẳng mấy chốc chỗ đó sẽ thành tro bụi thôi!”
“Tro bụi.”
“Lương Thần của ta, chẳng mấy chốc sẽ hóa thành tro bụi.”
“Trong mộng có mộng, có lẽ ta điên rồi, ngu ngốc rồi, vẫn tin rằng một ngày nào đó chàng sẽ mặc áo cưới màu đỏ xuất hiện trước mặt ta, chúng ta sẽ sinh một đứa con, với đôi mắt trong veo như chàng. Sau khi kết hôn ta sẽ nói chuyện với chàng, nói rằng ta đã mơ một giấc mơ thật kì lạ, mơ thấy cuộc đời này chúng ta không thể thành đôi, mơ thấy chàng đã chết.”
“Nếu trượng phu thấy buồn cười, nhìn ta cười nhẹ, ta sẽ nói, Ôi đáng sợ quá đi, nếu chàng hỏi ta, trong giấc mộng đáng sợ kia có lời gì chưa kịp nói với chàng không, ta sẽ trả lời – Đàn ông Bách quốc già trẻ lớn bé, ta gặp ai chăng nữa, dù chỉ một ánh mắt lướt qua, liền mơ hồ cảm thấy mặt mũi huyết mạch của bọn họ ít nhiều cũng có nét giống chàng. Họ không phải chàng, ta không tìm thấy chàng, nhưng họ giống chàng.”
“Có rất nhiều người yêu thích dung nhan tuổi trẻ của chàng, ta là đệ nhất háo sắc, nên ta yêu nhiều hơn bọn họ. Yêu đến khi chàng già đi, chết đi, chàng vẫn là chàng. Nhưng ta cũng chỉ là kẻ phàm tục, nếu chàng hóa thành tro bụi, ta còn biết làm cách nào. Trời cao không cần phải mỉa mai ta, tình yêu của ta tầm thường thế đây, yêu mỹ mạo của chàng, yêu vẻ thần khí đó. Mà nay chỉ mong cầu chàng có thể khỏe mạnh, sống lại dáng dấp mà ta thích, vậy thì dù chàng có không yêu ta thì có sao? Không cưới ta thì cũng sao chứ? Ta thích chàng nhưng chưa bao giờ nghĩ chàng cũng yêu ta mới là kết quả tốt nhất.”
“Trong mộng cũng có hiện thực đáng sợ. Thực ra ta chỉ ngồi lặng lẽ trong ánh lửa đó, chẳng biết tới bao lâu.”
“Xà nhà sụp đổ, lửa cháy hừng hực. Ngày lành (*) cảnh đẹp của cuộc đời ta, đã biến mất từ khoảnh khắc đó.”
(*) Lương thần có nghĩa là ngày lành.
“Ta thường nghĩ, có lẽ Tạ Lương Thần là người đen đủi nhất trên đời, chấp của ta dành cho chàng chưa mất, chẳng biết vì sao mỗi đêm vẫn mơ thấy trận hỏa hoạn đó, dù sau này biết chàng chưa chết, nhưng nỗi tuyệt vọng đã chôn sâu, không gì có thể cứu được ta. Ta biết chàng sẽ không bao giờ để ý đến ta, những thứ chàng mong muốn đến bây giờ đều phải cố gắng giành lấy, bao gồm vương vị, quyền thế, kể cả người con gái chàng yêu. Trong ba thứ đó ta đều không phải. Tuy rằng ta có thể tự an ủi mình, ta đã mất đi trong trắng, không thể sanh con, thế nên không còn tư cách ở cạnh chàng. Nhưng mà thật ra, ta có trong trắng hay không, có thể sinh con được hay không, đâu liên quan gì đến việc chàng có thích ta hay không?”
“Ngài nói đi, Sơn quân? Ngài là người thấu suốt, hiểu được đạo lý. Ta vốn không cảm thấy mình lừa gì chàng, nhưng nay ta âm hồn bất tán, hành vi quái lạ khó tưởng, đến cả ta cũng thấy sợ hãi khi vẫn yêu chàng một cách hèn mọn thế này.”
“Sơn Quân, ngài có thể cứu ta không? Cứu ta một lần.”
***
“Ta giúp ngài tiêu diệt quỷ hồn đó, ngài có hối hận không?” Phù Tô hỏi Tạ hầu.
Mang khuôn mặt đầy nếp nhăn, Tạ Lương Thần cúi đầu nói: “Từ khi biết chữ, bổn hầu chưa bao giờ hối hận.”
Yến nhị đang đường ở cửa tiếp giáp âm dương, dựng một cảnh đẹp, tiếp đãi một người một quỷ.
Tạ Lương Thần cưỡi trên con ngựa ô. Chạng vạng hôm đó, hắn mặc một chiếc áo dài màu bạc thường mặc khi còn trẻ, bội sức màu chàm thà dài, tử kim quang phản chiếu ánh nắng dưới ánh hoàng hôn tỏa ra màu sắc ấm áp. Khi hắn còn trẻ, chưa có ai mặc thế này đẹp hơn Tạ tiểu hầu.
Rốt cuộc Tạ Lương Thần cũng cưỡi ngựa, con đường thênh thang trước phủ Tạ hầu lúc chạng vạng, không có lấy một bóng người.
Ráng chiều màu đỏ, lá sen đọng sương.
Hắn đi tới cửa thành, trên đường phi nước đại. Đã vô số lần, hắn từng cưỡi ngựa lao qua đây, tay áo màu bạc rộng bay phấp phới trong gió như cò, phía trước là nhà hắn, chơi đá dế, uống rượu ngon, đùa giỡn cùng mọi người, từng cảnh cứ trôi qua như thế.
Hắn lao vút qua, thời gian như từ từ trôi ngược, hắn trở về dáng dấp khi còn là thiếu niên.
Đây vốn là một ngày bình thường, cũng là một cuộc đời bình thường như trước đây.
Có lẽ Tạ Hầu nhớ ra gì đó, cũng có lẽ không nhớ ra gì. Lúc thiếu thời hắn không nhớ được dáng vẻ người khác, làm sao đến khi già rồi lại có thể nhớ được?
Lúc cầm roi ngựa trong tay, theo làn gió, bàn tay già nua lấm tấm đồi mồi cũng dần biến thành dáng vẻ thon dài vững vàng khi còn trẻ. Đã cầm được gì, sẽ nắm thật chặt, không chịu buông tay.
Mỗi giọt máu, từng âm thanh của chuyện động trong lòng, ở khoảnh khắc đó, giây phút này, hắn đều nghe rất rõ.
Ở phía trước, trên con đường vắng, ngược lại với ánh chiều tà, một bức bình phong từ từ xuất hiện giữa không trung, sau tấm bình phong đó, có một tiểu cô nương đoan trang ngồi xuống.
Bị nàng chặn đường, hắn chỉ có thể bước xuống ngựa. Nàng nghe tiếng bước chân, từ từ ngẩng đầu lên.
Hắn nhìn cô, chắp tay hỏi: “Cô nương là người ở đâu? Sao lại ở đây giờ này, chặn đường ta về nhà?”
Hai mắt chạm nhau, lần này cô gái không ngại ngùng cúi đầu nữa, chỉ bình tĩnh nhìn hắn rất lâu, khuôn ấy cũng rất bình thường, không bôi chút phấn nào.
Không tính là đẹp.
Hắn chỉ lạnh lùng nhìn thoáng qua, sau đó quay đi. Nhịn xuống sự chán ghét, hắn hỏi: “Cô nương có ý gì?”
Cô gái khẽ xoa trán, thở dài một hơi, dịu dàng hỏi: “Lương Thần, thật ra chàng luôn nhớ ta là ai, đúng không?”
Vẫn khuôn mặt lạnh như băng, hắn hướng về ánh trăng, không đáp.
Cô gái nhẹ nhàng nói: “Cũng như ta luôn nhớ đến chàng, quân cũng nhớ tới ta. Ta nhớ chàng vì ta một lòng ái mộ, chàng nhớ ta vì luôn chán ghét, chán ghét sự yêu thích không thể kiềm chế của ta. Chàng phải nhìn rõ ta, mới có thể đề phòng mưu đồ của ta, dụng tâm của ta. Ta thích chàng thế này, khiến chàng sợ hãi, có đúng không?”
Chàng trai nắm chặt hai tay, mím môi không nói, sắc mặt càng lạnh lùng, hồi sau mới lên tiếng: “Vẫn chưa chịu im lặng sao? Quận chúa.”
Nàng khẽ thở dài, rơi nước mắt, ngậm nước mắt mà cười: “Xem ta đã làm những gì đây. Lương Thần. Ở trường học ta chào buổi sáng với chàng suốt ba năm, ta và cha ta đã dồn chàng vào tuyệt lộ, ta còn tự ý chọn cho chàng một thê tử chàng không thích, khiến nữ tử chàng thích không đất dung thân, ta còn mặt dày lấy lí do đi đưa cơm để nhìn chàng. Đến khi ta chết đi cũng không buông tha cho chàng, làm âm hồn bất tán trong nhà chàng. Chàng luôn khoan dung, không tính toán với ta, có thể nhìn ta một cái xem, đã làm những gì rồi…”
Tạ Lương Thần trợn hai mắt, trong mắt đầy sự phẫn nộ và chán ghét, hắn nghiến răng nghiến lợi: “Thành Linh!”
Thành Linh mỉm cười, khẽ đáp, rồi nói: “Lương Thần, hãy nhớ kỹ từng lời ta sắp nói, hãy nghe rõ từng chữ một.”
Cuối cùng Tạ Lương Thần cũng quay đầu, lại nhìn nàng đầy hận ý.
Nàng nói: “Bây giờ ta sẽ biến mất, ta đã cầu xin Hề Sơn quân xóa đi mọi ký ức của ta trong đầu chàng, để đời này, chàng có thể như tuyết trên đỉnh cao, không bị vấy bẩn, trở thành đệ nhất đẳng chư hầu, ở đệ nhất đẳng phong ấp, lấy đệ nhất đẳng kiều thê, phúc thọ song toàn.”
Gió nổi mây bay, bức bình phong dần tan theo gió, gương mặt sạch sẽ trong sáng sau bức bình phong cũng từng chút từng chút biến thành cát bụi.
Nàng nói: “Tạ Lương Thần, ta biết chàng cho rằng ta không xứng với chàng, không nên mơ tưởng xa vời. Nhưng chàng đã từng xứng với tình cảm ấy của ta chưa? Vì vậy, kể từ hôm nay, kể từ giờ phút này, từ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau, từ khi ve mùa hạ bắt đầu kêu, hoa đào tàn, lá tre xanh, chúng ta không ai nợ ai.”
“Chỉ là người trong mộng chốn khuê phòng, tia nắng ánh trăng tia ráng chiều sương giăng, vạn tượng biến ảo. Tự cười tự giễu tự thẹn tự oán không tự lượng sức, cũng chỉ là sợ chàng nghe thấy.
Chàng trách ta thích chàng đến đê tiện, thích chàng nông cạn. Chắc là kiếp trước hẳn đã yêu ta rất nhiều, nếu kiếp này ta phải thanh toán rõ ràng, nhận đòn đau đớn, máu chảy đầm dài, trả như thế đó.
Đêm ấy Tạ hầu sốt cao không hạ.
Hề Sơn quân làm theo lời dặn của Thành Linh, xóa đi ký ức của hắn, thế nhưng vừa chạm tay vào vầng trán già nua của Tạ hầu thì bị giữ lấy, lão nhân uể oải nói: “Được rồi.”
Khoảng vào canh ba, Tạ hầu Giang Đông qua đời.
Hề Sơn quân lại đưa hai tay ra.
Phù Tô hỏi: “Nàng đã thấy gì? Trước khi chết Lão hầu gia đang nghĩ gì?”
Khuôn mặt của Hề Sơn quân trở nên tái nhợt.
Tạ hầu có thói quen dậy sớm múa kiếm, gà gáy là dậy, người đầy mồ hôi trở về phòng, thế nhưng vẫn phải giả vờ mới dậy lần nữa, mở cửa sổ ra, kiên nhẫn nghe nàng chào hỏi mỗi sáng.
Chàng hắn hỏi Thừa tướng: “Trong Bách quốc, có ai xứng với con trai ta?”
Thừa tướng cười đáp: “Ngụy quận chú Tích, nhan sắc vô song; Hàn vương Tôn oanh, quyền thế bức người.”
Nhưng hắn lại tiếp: “Vợ chồng Tề vương tính tình hào sảng, vương nữ cẩn thận ôn hòa, có thể làm hiền thê.”
Hắn cưỡi một con tuấn, phi nước đại trong màn đêm vô tận, nghe tiếng gió thét gào bên tai, sau đó té ngã trước linh tiền của Thành Linh.
Hắn trả thù cho thê tử, dẫn theo ám vệ hòng giết Sở vương, thế nhưng thấy thê tử đứng trước mặt mình. Nàng đang giang hai tay, hắn cầm kiếm.
Nàng ôm hắn phơi nắng, đến cả cằm cũng ngập trong ánh nắng, từng đầu ngón tay đều mang theo lưu luyến, hắn mở mắt nhìn nàng, ngơ ngác nhìn nàng, tựa như chỉ cần ngẩng cao đầu là có thể chạm vào bờ môi mềm mại.
Hắn ngồi ngoài bờ tường, nắm sợi dây mây suốt ba ngày ba đêm.
Hắn nhờ ân sư Vân lang bảo vệ tính mạng của nàng, để phu thê có thể đoàn tụ, đi tòng quân sa trường, cửa tử nhất sinh.
Hắn mang chiến thắng trở về, gặp được mật thám Thiên tử – Triệu cơ. Thiên tử sợ hắn thế lớn, sợ hắn sẽ lật lại bản án, hắn tương kế tựu kế, phái con gái của gia thần giả làm Thành Linh, đánh trống kêu oan, một mũi tên trúng hai con chim, muốn Thành Linh phải lộ mặt nhận thân phận. Thành Linh lại chọn cho hắn một người vợ trong sạch. Đứng trên triều đường, hắn đã phải chịu đựng rất lâu mới có thể không ngã quỵ vì nhục nhã và đau đớn.
Hắn lệnh người tìm cách sai Thành Linh mang cơm cho, nhưng ba tháng trôi qua, Thành Linh vẫn im lặng không nói một lời, im lặng không gây một tiếng động. Thành Linh xấu hổ vì thân thế mình, không chịu thừa nhận với hắn. Hắn để con gái gia thần giả chết, báo tang, vốn định sẽ cưới Thành Lăng, lấy thân phận tì nữ. Triệu cơ nhận ra mánh khóe, dự báo Thiên tử, hắn lại giả vờ cưới Triệu cơ, đem giam lỏng trong phủ.
Vì những đau đớn từng trải qua trong đời, Thành Linh thích nghe tiếng gió mưa, hằng đêm nàng tĩnh tọa, hắn liền đứng ở một nơi trong bóng tối, lặng lẽ ở bên nàng. Thuở niên thiếu hắn từng được đọc một bài thơ ở Lão sơn tông, không còn nhớ rõ câu chữ trong bài thơ đó, chỉ còn nhớ đại khái được vài câu:
‘Nửa đêm thức dậy trong mưa gió;
Mở cửa ánh nến tràn ngập phòng,
Trời cao hẳn cũng mang tâm nguyện,
Để vạn người được như ý lòng vui;
Quay đầu lại, dẫu qua bao cay đắng,
Chỉ đổi một người, trọn đời không rời xa.’
Hắn chờ tới một ngày nàng có thể chính miệng nói được tình cảm của mình, nói với hắn rằng: Ta chính là thê tử của chàng, Thành Linh. Thế nhưng hắn không chờ được ngày đó, Thành Linh ngày qua ngày đều không vui vẻ. Có tì nữ trong nhà hỏi, tâm nguyện trong đời là gì? Thành Linh đáp: ‘Ở đất Tề, cày ruộng Tề, chăm sóc mộ phần cha mẹ.’ Hắn cũng có một tâm nguyện trong đời, mong nàng thật sự hạnh phúc.
Hắn để nàng rời đi, lần cuối cùng hỏi nàng: Có nhà chồng để về không? Nàng đáp: Đường xá xa xôi nhiều cách trở.
Ngày nàng gả cho Tề nhân kia, hắn đã ngồi trong sân nhà nàng, uống nữ nhi hồng, nhìn nàng từng bước tiến về phía người khác. Cũng đã từng nghĩ khi mình vén chiếc khăn đội đầu, nhìn thấy thục nữ nhà bên, nhưng nếu không phải là nàng, ngay cả hơi thở cũng không sạch sẽ. Hắn chỉ mong người bên cạnh sẽ không phải chịu nỗi khổ như hắn, dù mang khuôn mặt vẻ vang, nhưng chỉ bản thân hắn mới thấy, trái tim ngày càng trở nên tê dại.
Hắn là Cửu thiên huyền nữ trong miệng nàng, là anh linh của Tề vương, là lão thần tiên bên sườn núi. Hắn sống lặng lẽ ở Lang nha, tròn năm mươi năm trời.
Ngày nàng chết, có rất nhiều chim sẻ trên trời bay đến, dường như những con chim đó cũng mong muốn được tự do . Hắn đã ra lệnh bắn rơi tất cả những con chim đó, chôn trước mộ phần của nàng, làm lễ truy điệu cho sự tự do đáng quý của nàng trong đời này, còn cuộc đời này của hắn, khốn cùng hèn mọn.
Lúc còn trẻ, hắn từng uống rượu cùng bạn bè, trong bữa tiệc có một Vu sư, có người hỏi Vu sư: “Âm dương cách trở, có thể gặp lại nhau?” Vu sư đáp: “Nếu quỷ thiếu nợ, không trả sẽ không thể vào luận hồi; Nếu người thiếu nợ, đời đời kiếp kiếp trả đủ là hết. Nhưng nếu kết lương duyên, không thiếu không nợ chết chung mồ?” Nàng đã nợ hắn nhiều vậy thì sao có thể vào luận hồi? Cuộc đời hắn đã định sẽ chết ở Giang Đông, sao thê tử hắn có thể chung mồ?
Làm sao mới có thể?
Nàng nói nàng đã thích hắn như thế như thế, hắn thật lòng hi vọng nàng đã đúng như lời, từng thích hắn như thế như thế, để hắn không cần phải yêu nàng thế này, yêu đến quạnh quẽ, yêu đến mệt mỏi, chết rồi vẫn không chịu buông tay.
Nàng thích hắn, như Diệp Công thích rồng. Hắn yêu càng, như Vĩ Sinh ôm cột. (*)
(*) Diệp Công thích rồng: Diệp Công rất thích rồng, đồ vật trong nhà đều khắc, vẽ hình rồng. Rồng thật biết được, đến thò đầu vào cửa sổ. Diệp Công nhìn thấy sợ hãi vắt giò lên cổ bỏ chạy. Ví với trên danh nghĩa thì yêu thích nhưng thực tế lại không như vậy
(*) Vĩ Sinh ôm cột: Vĩ Sinh đã hẹn gặp người yêu dưới một cây cầu để cùng bỏ trốn, khi đến giờ hẹn, một cơn mưa lớn đột ngột kéo đến, khiến nước sông dâng lên. Dù vậy, Vĩ Sinh vẫn giữ lời hứa, đứng chờ ôm chặt trụ cầu mà không rời đi nên bị nước cuốn trôi và mất mạng. Còn cô gái bị cha mẹ cấm cố trong nhà sau khi phát hiện chuyện bỏ trốn. Đợi lúc đêm tối, cô gái thoát ra được, xông vào cơn mưa chạy đến bên cầu. Lúc bấy giờ nước đã dần rút. Cô gái nhìn thấy Vĩ Sinh ôm trụ cầu chết, bi thương tột độ, liền ôm lấy thi thể Vĩ Sinh gào khóc, rồi cũng nhảy xuống sông tự tận.
Hắn triền miên trên giường bệnh, đào mộ nàng, muốn chung mồ với nàng. Nàng biến thành một quỷ hồn, nhưng vẫn luôn trốn tránh hắn.
Hắn lại chờ, chờ tới kiếp sau, hắn và nàng sẽ không thiếu không nợ nhau, sẽ không thích nhau quá nhiều, tình cảm dùng quá mãnh liệt, quá kiêu hãnh, chỉ cần kết một cái lương duyên, dù rằng có thể là hảo tụ hảo tan.
Khi Tạ Lương Thần chết, trên tay vẫn nắm chặt một tờ hôn thư.
Ở góc dưới bên phải hôn thư, là chữ ‘Linh’ nho nhỏ.
Thuở ấy, khi còn học ở trường tại Sơn tông. Hắn trêu chọc nàng, trong lòng đã nảy sinh tình yêu nhàn nhạt, nhưng vì quý trọng danh tiết của nàng, không hề dám buông thả dẫu chỉ trong khoảnh khắc. Nàng lại nàng chắc chắn không lừa hắn.
Quả thật Tề quận chúa Thành Linh không lừa Giang Đông hầu Tạ Lương Thần.