Đêm ấy, đối với Ôn Nùng cũng chẳng dễ chịu hơn là bao.
Sau khi về nhà, cô khóa trái cửa phòng ngủ.
Cô không khóc.
Nước mắt từ lâu đã chảy ngược thành sông, bịt kín mọi lối thoát trong cơ thể cô.
Cô bước đến trước bàn học, mở máy tính lên, tìm những email mình từng gửi cho Chu Tây Lẫm từ rất lâu trước đây.
Cô đọc lại từng bức một, cho đến khi những lối thoát bị bít kín trong người được mở ra, cho đến khi nước mắt cô tuôn rơi đầy mặt.
Chỉ khi đọc lại những lá thư ấy, cô mới thật sự hiểu thế nào là “Khí chất của tuổi trẻ chính là dũng khí không bao giờ có lại trong đời.”
Thứ tình cảm thuần khiết và chân thành như thế cả đời chỉ có một lần.
Cho dù là cùng một con người, Ôn Nùng hai mươi ba tuổi vẫn không thể vớt lại những điều tốt đẹp đã mất của Ôn Nùng mười bảy tuổi, cũng không thể tiếp tục giấc mộng năm nào.
Trong dòng sông thời gian khác biệt ấy, cô vẫn là cô, nhưng cũng đã không còn là cô nữa.
Ngày ấy, cô bình thường như những cây ngô đồng mọc khắp bên ngoài dãy phòng học, lặng lẽ lớn lên, lặng lẽ rụng lá. Ngay cả khi thích một người cũng chỉ dám đứng trong góc khuất không ai để ý, âm thầm dùng ánh mắt phác họa đường nét của anh.
Cô luôn nhút nhát, luôn không rực rỡ, không dám bung nở.
Nhưng càng là những cô gái như thế, sâu trong lòng càng khát khao phá kén bay ra.
Ôn Nùng đã không chỉ một lần nghĩ tới việc phải cho mối tình đơn phương của mình một lời hồi đáp.
Cô vẫn nhớ sinh nhật năm lớp 11 ấy, cô dùng số tiền lén dành dụm được để mua một chiếc bánh kem nhỏ chỉ năm tệ, loại bánh hoa kem mà từ bé cô mới được nhìn thấy vài lần.
Lớp kem rẻ tiền mang màu trắng không tự nhiên. bên trên phủ đầy mứt đỏ, thế nhưng cô lại vô cùng vui vẻ.
Cô cắm lên đó một cây nến nhỏ, ánh nến yếu ớt lay động trên gương mặt trẻ trung nhưng phảng phất nét ưu sầu của cô.
Cô nhắm mắt lại, chắp hai tay trước ngực, tự nói với bản thân rằng hoàn thành ba việc, sau đó sẽ đi tỏ tình với anh.
Có lẽ phần lớn các cô gái đều từng trải qua nỗi đau trưởng thành vì ngoại hình, để rồi sau này đọc muôn vàn cuốn sách, đi muôn dặm đường, nhìn thấy thế giới rộng lớn hơn, chỉ để lấp đầy những vết nứt trong tâm hồn, trở nên điềm tĩnh và tự tại hơn.
Nhưng Ôn Nùng của những năm tháng ấy vẫn bị nhốt trong cánh cửa hẹp của tuổi thanh xuân, vẫn là một cô gái “lo lắng vì mình không đủ xinh đẹp”.
Cho nên việc đầu tiên cô muốn hoàn thành liên quan đến ngoại hình.
Khi ấy cô gầy đến mức như một tờ giấy, con số ba mươi chín ký trên cân đặc biệt chói mắt. Cô tự đặt cho mình một mục tiêu nhỏ, đó là tăng lên bốn mươi chín ký.
Cô bắt đầu cố gắng ăn uống, cho dù không có khẩu vị cũng ép mình ăn thêm một chút cơm. Mỗi lần nhìn thấy gương mặt trong gương dường như đầy đặn hơn một chút, cô đều âm thầm vui vẻ rất lâu.
Thế nhưng một trăm ngày cuối cùng của năm lớp 12 với những bài tập không ngừng nghỉ và áp lực nặng nề đã nhanh chóng cuốn sạch số cân khó khăn lắm mới tăng được. Cuối cùng cân nặng dừng lại ở bốn mươi ký, không thể tăng thêm nữa.
Mục tiêu đầu tiên cứ thế thất bại.
Việc thứ hai cô muốn hoàn thành là thắng Ô Nam một lần.
Có những cảm xúc chỉ tồn tại trong những năm tháng học trò, khi tâm hồn còn nhạy cảm và chưa thực sự trưởng thành. Ví dụ như so đo, ví dụ như ganh đua, ví dụ như… sự ghen tị khó nói thành lời nhưng lại tồn tại thật sự.
Nhìn Ô Nam rực rỡ như một đóa hoa, lúc nào cũng được mọi người nâng niu vây quanh ngay bên cạnh mình. Nếu nói hoàn toàn không ghen tị thì là điều không thực tế. Những cảm xúc ấy giống như những dây leo nhỏ bé quấn quanh trái tim cô, khiến cô tự ti, khiến cô bất lực và vô cùng cần một lối thoát.
Ở kỳ đại hội thể thao cuối cùng năm lớp 12, cô và Ô Nam đều đăng ký chạy cự ly ba nghìn mét nữ.
Ngày thi đấu hôm đó, ánh mặt trời chói chang.
Tiếng súng xuất phát vang lên, cô lao ra ngoài. Một vòng rồi hai vòng… Mồ hôi làm nhòe tầm mắt, lá phổi như bị một bàn tay bóp nghẹt, mỗi nhịp thở đều mang theo cảm giác bỏng rát và mùi tanh của máu.
Ai ngờ Ô n*m c*n bản chẳng hề để tâm, chạy được một nửa đã bỏ cuộc.
Ôn Nùng sững người, nhưng cô không dừng lại.
Khi chạy qua vạch đích, trước mắt cô dần tối sầm, bên tai chỉ còn tiếng th* d*c nặng nề của chính mình. Cô ngã vật xuống bãi cỏ bên đường chạy, ho dữ dội, nôn khan liên tục.
Cô ngẩng đầu lên, Ô Nam đang nhận lấy cây kem Chu Tây Lẫm mua mời mọi người, cười tươi rói ăn kem.
Mục tiêu thứ ba cũng là mục tiêu khó khăn nhất.
Đỗ vào Đại học Phục Đán.
Sau khi chuyển tới thành phố Thanh, mỗi ngày Ôn Nùng đều phải phụ bán hàng ở quán nướng, thời gian học tập bị chèn ép nghiêm trọng, hơn nữa cô còn học lệch môn, rất khó thi đỗ vào một trường đại học trọng điểm.
Từ khi có mục tiêu ấy, chiếc đèn bàn trong những đêm khuya đã chứng kiến vô số lần mệt mỏi và kiên trì của cô.
Đáng tiếc, người tính không bằng trời tính, cuối cùng cô vẫn không được Đại học Phục Đán nhận.
Nói cách khác, ba việc ấy, cô không hoàn thành được việc nào.
Nhưng khi ngoảnh đầu nhìn lại, trong quá trình tăng cân, sắc mặt cô ngày càng tốt hơn, trong cuộc thi chạy bền ấy, cô đã chiến thắng chính bản thân mình và Đại học Hải Châu cũng là ngôi trường trước đây cô tuyệt đối không dám mơ tới.
Thì ra trong lúc chạy về phía anh, cô cũng đang chạy về phía phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình.
Vì thế Ôn Nùng vẫn quyết định tỏ tình.
Sau khi điểm thi đại học được công bố, rất nhiều lớp tổ chức tiệc cám ơn thầy cô.
Trong lúc Ô Nam gọi điện với bạn học, Ôn Nùng vô tình biết được lớp của Chu Tây Lẫm và lớp của cô lại tổ chức tiệc ở cùng một khách sạn, đúng cùng một ngày.
Từ rất lâu trước đó, cô đã bắt đầu căng thẳng vì chuyện tỏ tình sắp tới.
Ngày diễn ra tiệc cám ơn, ngay từ lúc bước chân vào khách sạn, cô đã luôn thất thần.
Giữa chừng, nhân lúc đi vệ sinh, cô gom hết dũng khí lớn nhất đời mình, đi đến phòng tiệc của lớp Chu Tây Lẫm ở tầng ba. Cô đã chuẩn bị sẵn thư, trong đầu không ngừng tưởng tượng cảnh mình sẽ gõ cửa thế nào, rồi gọi anh ra trước bao ánh mắt mọi người.
Nhưng ngay khi còn ba bậc thang cuối cùng, cô nhìn thấy Ô Nam và Chu Tây Lẫm đang đứng ở hành lang đối diện cầu thang.
Ô Nam ngẩng đầu nhìn anh, đưa cho anh một phong thư màu xanh nhạt, giọng run run: “Chu Tây Lẫm, tôi thích cậu rất lâu rồi!”
Ôn Nùng lập tức chết lặng.
Cô nín thở chờ phản ứng của anh, chỉ thấy khóe môi Chu Tây Lẫm cong lên thành nụ cười ngông nghênh quen thuộc. Anh gật đầu, nói không hề do dự: “Được thôi, tôi đồng ý.”
Máu trong người dường như lập tức đông cứng lại, tay chân lạnh buốt.
Ôn Nùng cắn chặt môi dưới đến bật máu, vị tanh ngọt của máu lan trong khoang miệng.
Cô dùng hết sức lực mới không để mình bật khóc thành tiếng.
Gần như hoảng loạn bỏ chạy, lao thẳng xuống cầu thang.
Trên đường về nhà, mây đen phủ kín bầu trời. Cô đi rất lâu, mỗi bước chân đều như giẫm lên lưỡi dao sắc.
Vừa mở cửa bước vào nhà, cô đã nghe thấy Ô Nam đang ngồi trong phòng khách, bật loa ngoài nói chuyện điện thoại với bạn thân.
“Trời, tất nhiên là thật rồi. Tớ sẽ đăng ký cùng một trường đại học với cậu ấy… Hì hì, ghen tị không?”
Nói đến đây, Ô Nam nhìn thấy Ôn Nùng, cô ta khựng lại.
Cô bạn thân ở đầu dây bên kia kinh ngạc hỏi: “Má ơi, sau này cậu không định thật sự cưới cậu ấy đấy chứ?”
Ô Nam liếc nhìn Ôn Nùng, giọng cố tình kéo dài, cười nói: “Biết đâu được. Tớ vẫn chưa gặp chàng trai nào ưu tú hơn Chu Tây Lẫm đâu. Đương nhiên tớ muốn lấy cậu ấy rồi.”
Ôn Nùng né tránh ánh mắt cô ta, không quay đầu lại, đi thẳng về phòng ngủ.
Thế nhưng ngay sau đó, Ô Nam lại cười khúc khích: “Với lại tớ thấy gen của bọn tớ tốt như vậy, sau này sinh em bé chắc chắn sẽ cực kỳ xinh đẹp.”
“…” Ôn Nùng không thể nghe thêm được nữa.
Cô xoay người, mở cửa, đầu cũng không ngoảnh đầu lại mà rời khỏi ngôi nhà ấy.
Cánh cửa đóng lại, ngăn cách tất cả, cô không còn nghe thấy gì nữa.
Cô chỉ biết liều mạng chạy, chạy xuống lầu, chạy vào vùng chua xót mênh mang không bờ bến.
Không biết từ lúc nào, trời bắt đầu đổ cơn mưa như trút nước, những hạt mưa lớn nhanh chóng làm cô ướt sũng, nước mưa lạnh buốt hòa cùng nước mắt nóng hổi không ngừng rửa trôi gương mặt cô.
Cô đi trong vô định, đi mãi, cuối cùng dừng lại trước một trạm xe buýt vắng tanh không một bóng người.
Nước mưa men theo mái tóc ướt sũng nhỏ xuống. Ôn Nùng lấy chiếc điện thoại cũ kỹ ra, bấm gọi vào số điện thoại mà cô vẫn luôn biết, nhưng chưa từng có cơ hội gọi lần nào.
Sau ba hồi chuông, cuộc gọi được kết nối. Đầu dây bên kia vang lên giọng nói lười nhác của Chu Tây Lẫm: “Alo? Ai vậy?”
Ôn Nùng đưa tay bịt chặt miệng, không để bản thân bật khóc thành tiếng.
Cổ họng như bị cát sỏi nóng bỏng chặn kín, vừa khô vừa đau. Cô dùng hết sức lực toàn thân mới có thể thốt ra một câu: “Chu Tây Lẫm… kể từ khoảnh khắc cuộc gọi này kết thúc, tôi sẽ không còn thích cậu nữa.”
Nói xong, không đợi bên kia có bất kỳ phản ứng nào, cô dứt khoát nhấn nút ngắt máy.
Như vậy coi như cũng đã tỏ tình rồi nhỉ.
Ngày hôm ấy, Ôn Nùng đã tuyệt vọng nghĩ như thế.
…
Cho đến tận hôm nay, khi nhìn lại đêm mưa năm ấy qua khoảng cách năm năm dài đằng đẵng, trái tim Ôn Nùng ngồi trước màn hình máy tính vẫn nhói lên một cơn đau âm ỉ.
Có lẽ từ rất lâu trước đó, cô nên hiểu rằng giữa cô và Chu Tây Lẫm vốn dĩ chỉ có duyên gặp gỡ, không có duyên bên nhau.
Là chính cô không chịu chấp nhận số phận, cố chấp cưỡng cầu cuộc gặp lại ngắn ngủi ấy.
Đầu ngón tay vô tình chạm vào sợi dây chuyền lạnh nơi cổ.
Chiếc mỏ neo tượng trưng cho sự neo đậu, tượng trưng cho bình yên, tượng trưng cho việc trái tim lênh đênh của anh cuối cùng cũng tìm được nơi thuộc về.
Cô từng trân trọng nó đến vậy, xem nó như một tín ngưỡng.
Ôn Nùng bỗng bật cười, trong nụ cười ấy có vài phần buông bỏ.
Cô lần mò tới chiếc khóa dây chuyền, khẽ bấm một cái rồi tháo nó xuống.
Cô kéo ngăn kéo ra, ngón tay buông lỏng, ngăn kéo được nhẹ nhàng đóng lại.
…
Thời gian như cát chảy qua kẽ tay, lặng lẽ trôi đi.
Xuân qua thu tới, nóng lạnh luân phiên, chớp mắt đã ba năm trôi qua.
Thời gian âm thầm tiễn biệt những năm tháng sinh viên của Ôn Nùng. Cô hoàn thành chương trình thạc sĩ, vào một buổi chiều cuối thu nồng đậm, cô cũng thuận lợi xuất bản cuốn sách thứ hai của mình.
So với cuốn tiểu thuyết đầu tay còn non nớt, văn phong của tác phẩm thứ hai trầm ổn hơn rất nhiều. Thế nhưng vẫn có rất nhiều độc giả yêu tha thiết cuốn sách đầu tiên của cô. Họ nói rằng cảm giác mà ngòi bút ấy mang lại sẽ vĩnh viễn không còn nữa khi kỹ thuật và câu văn của cô ngày càng trưởng thành.
Sau khi xác nhận chia tay với Chu Tây Lẫm, Ôn Nùng không còn liên lạc với anh nữa.
Dù họ sống trong cùng một thành phố, dù địa chỉ của cả hai chưa từng thay đổi, thậm chí trên mạng xã hội, họ cũng chưa từng chặn hay xóa nhau.
Đôi khi lướt ngang vòng bạn bè, vẫn sẽ vô tình nhìn thấy một mảnh nhỏ cuộc sống của đối phương, điếu thuốc anh hút trong hộp đêm, bình hoa mới cắm nơi bậu cửa sổ của cô.
Đương nhiên, họ cũng từng vô tình gặp nhau một lần, chỉ là vừa chạm mắt, cả hai đều nhanh chóng quay đi.
Nhiều năm sau đó.
Khi Ôn Nùng và Chu Tây Lẫm dắt theo một chú chó Golden Retriever, chậm rãi tản bộ trên bãi biển nhuộm vàng bởi hoàng hôn. Hai người cũng từng nhắc tới khoảng trống ba năm ấy.
Cả hai đều thừa nhận nhìn bề ngoài họ khác biệt một trời một vực, nhưng tận trong xương tủy lại là những con người quá giống nhau.
Niềm kiêu hãnh như ngọn lửa sinh đôi, sự cố chấp khắc sâu vào linh hồn, nội tâm dựng lên những bức tường thành kiên cố, ngay cả cách chống cự cũng giống hệt nhau.
Thế nhưng đó không phải nguyên nhân duy nhất khiến ba năm ấy chỉ còn lại sự im lặng.
Nói cho cùng điều đáng sợ nhất là ngay cả nỗi sợ hãi sâu kín nhất của họ cũng giống nhau đến kinh ngạc.
Họ đều sợ khi trao ra chân tình, thứ nhận lại không phải sự nóng bỏng tương đương. Sợ những lời thề son sắt vang vọng kia chỉ là bong bóng rực rỡ dưới ánh mặt trời, chạm nhẹ là tan. Sợ mình không phải người duy nhất không thể thay thế trong lòng đối phương, chỉ là một cái tên vô tình đi ngang qua giữa vô số lựa chọn. Càng sợ hơn việc truy hỏi sẽ nhận lại đáp án đau đớn gấp trăm lần hiện tại.
Vì thế họ chọn cách an toàn nhất, cũng tàn nhẫn nhất. Thà ôm lấy vết thương chưa lành nơi ngực, thà để nỗi nhớ âm thầm điên cuồng sinh sôi, cũng không chịu gặp nhau lấy một lần, không chịu đánh cược vào một kết cục không thể cứu vãn.
Có những cuộc chia ly không phải vì đối phương không còn quan trọng, mà là vì đối phương quá quan trọng. Không chỉ người ấy quan trọng, chính bản thân mình cũng quan trọng.
Vì vậy họ đã bỏ lỡ nhau như thế.
Một năm sau khi tốt nghiệp thạc sĩ, trọng tâm cuộc sống của Ôn Nùng dần chuyển sang việc chuẩn bị cho tác phẩm mới.
Lần sáng tác này xoay quanh một làng chài nhỏ trên đảo, dòng thời gian kéo dài suốt năm mươi năm thay đổi của thời cuộc, viết hết muôn hình vạn trạng của cuộc sống, những chuyện lớn nhỏ trong mỗi gia đình.
Vì thế cô chuyển tới một hòn đảo nhỏ gần Hải Châu sinh sống, mỗi ngày đều trải qua cuộc sống giản dị và tự do trong làng chài.
Lần đầu tiên cô nhìn thấy hải sản vừa cập bến lấp lánh ánh bạc tại đây, nhìn những người phụ nữ làng chài nhanh nhẹn phân loại cá tôm. Buổi chiều, cô thường ngồi dưới gốc cây phía sau nhà nhìn bà cụ hàng xóm dùng đôi bàn tay đầy nếp nhăn vá lại những tấm lưới đánh cá.
Trên đảo chỉ có một ngôi trường. Sau giờ học, lũ trẻ thường đuổi bắt nhau trên bãi biển. Thỉnh thoảng dì Lâm nhà bên còn mang cho cô hai con cá biển tươi rói, nhưng cô vẫn thích sang nhà dì Lâm ăn ké hơn. Qua lại lâu ngày, mọi người dần trở nên thân thiết.
Hôm ấy đúng lúc chú Lâm ra khơi đánh cá.
Trong lúc trò chuyện sau bữa cơm, Ôn Nùng vô tình bộc lộ sự tò mò đối với việc ra biển.
Chú Lâm hào sảng vỗ đùi một cái, bảo sẽ dẫn cô đi cùng.
Thế là lần đầu tiên trong đời, Ôn Nùng bước lên một chiếc tàu đánh cá thực thụ.
Mấy ngày đầu biển lặng gió yên, ban ngày trời xanh biển biếc, hải âu lượn vòng trên không. Ôn Nùng tò mò nhìn chú Lâm và mọi người điều khiển bánh lái, kéo lưới, thu cá. Mỗi lần lưới được kéo lên, những lớp vảy bạc lấp lánh tung nhảy khiến cô cảm thấy chói mắt.
Cô cũng phụ giúp phân loại hải sản, đầu ngón tay bị vây cá đâm rách mà chẳng hề để ý, chỉ thấy mới mẻ và thú vị.
Ban đêm, cô thường rót cho mình chút rượu, nửa nằm bên cửa sổ lắng nghe tiếng sóng biển vỗ rì rào vào thân tàu, cả người đều cảm thấy vô cùng bình yên.
Thế nhưng tính khí của biển cả thay đổi còn nhanh hơn trở bàn tay.
Ngày thứ tư ra khơi, bầu trời vốn trong xanh đột ngột tối sầm, những đám mây chì nặng nề với tốc độ mắt thường cũng có thể nhìn thấy đang ép tới từ phía chân trời.
Gió nổi lên cuốn theo những con sóng khổng lồ ngất trời, con tàu cá bị sóng biển hất vọt lên cao rồi lại bị nện mạnh xuống, khoang tàu hỗn loạn tan tác.
“Nắm chắc vào! Giữ vững!” Tiếng gào của chú Lâm bị cơn cuồng phong xé vụn.
Con trai chú Lâm bám chặt bánh lái, mặt trắng bệch.
Tình hình đã nguy cấp đến mức phải gọi điện về nhà để trăng trối.
Đáng tiếc, điện thoại hoàn toàn mất tín hiệu.
Ôn Nùng cố gắng hết sức để không trở thành gánh nặng cho người khác.
Mỗi lần con tàu chao đảo dữ dội, cô đều cảm giác lục phủ ngũ tạng như bị đảo lộn vị trí, nhưng cô vẫn cố gắng chịu đựng, không than một tiếng.
Thật ra sâu trong lòng, cô cũng không có quá nhiều sợ hãi. Nếu suy xét kỹ hơn, thậm chí còn có một loại bình tĩnh gần như hoang đường.
Ba năm qua, cuộc sống của cô đã tĩnh lặng như mặt nước chết, ngay cả sống chết cũng là chuyện quá đỗi bình thường.
Đúng lúc con tàu lại một lần nữa bị sóng lớn hất tung lên cao, gần như dựng đứng rồi lật úp.
Ngay khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, một luồng sáng mạnh chói mắt xuyên qua màn mưa đen đặc như mực, chiếu thẳng tới.
Ngay sau đó, tiếng động cơ từ xa truyền lại gần.
“Là tàu cứu hộ!” Con trai chú Lâm khản giọng hét lên, trong giọng nói tràn ngập niềm vui mừng như được sống lại sau hiểm cảnh.
Ôn Nùng cố mở đôi mắt bị nước biển phủ kín.
Xuyên qua màn mưa mờ đục và tầm nhìn điên cuồng rung lắc, cô nhìn thấy một con tàu cứu hộ lớn hơn tàu cá rất nhiều đang phá sóng lao tới.
Trên mũi tàu có một người đàn ông đang đứng chỉ huy.
Ôn Nùng quên cả hô hấp.
Cô dùng sức lau nước biển trên mặt, cố gắng nhìn rõ người trên con tàu cứu hộ ấy.
Tia chớp như một con rắn bạc xé toạc bầu trời đen kịt, ánh sáng trắng bệch chói lòa lập tức chiếu sáng cả mặt biển, cũng chiếu sáng gương mặt người đàn ông kia.
Hiển nhiên anh cũng đã nhìn thấy cô, sớm hơn cả lúc cô nhìn thấy anh.
Đặc trưng của cái kết kiểu O. Henry là vừa nằm ngoài dự liệu, lại vừa hợp tình hợp lý.
Giờ phút này, những kiến thức từng học trên lớp năm nào như một viên đạn bắn thẳng vào giữa trán Ôn Nùng.
Sự kinh ngạc, hoang đường và rung động dữ dội tựa như cơn thủy triều khổng lồ cuốn phăng lấy cô.
Cơn bão trước mắt bỗng chốc trở nên chẳng còn đáng kể nữa.
*
Tác giả có lời muốn nói:
Có những cuộc chia ly không phải vì đối phương không còn quan trọng mà là vì đối phương quá quan trọng. Không chỉ người ấy quan trọng mà chính bản thân mình cũng quan trọng.
*
“Kết kiểu O. Henry” (O. Henry ending) là thuật ngữ chỉ một cái kết bất ngờ, đảo ngược hoàn toàn sự mong đợi của người đọc, nhưng lại được sắp xếp cực kỳ logic. Tên gọi này bắt nguồn từ bút danh của nhà văn nổi tiếng người Mỹ O. Henry (1862–1910), bậc thầy của nghệ thuật truyện ngắn.